Thiền Tông Việt Nam
Đuốc Thiền
Những Nét Đặc Biệt Của Người Tu Thiền

Hôm nay chúng tôi sẽ nói về Những nét đặc biệt của người tu thiền. Chúng ta tu thiền phải biết những điểm đặc biệt này, nếu không sẽ mất thì giờ trong lúc dụng công, có khi công phu thối chuyển không tiến được. Làm sao mỗi ngày ta đều sống được với sự an lạc, tỉnh thức. Như thế mới đúng với tinh thần tu thiền.

Trước nhất, người tu thiền phải biết tâm mình là gì. Nếu tu mà chưa nhận được tâm thì chỉ luống uổng công phu. Như vậy tâm là gì? Cổ đức nói “Tâm là chơn Phật, tánh là chơn pháp. Ngoài tâm không có Phật, ngoài tánh không có pháp”. Có khi các Ngài nói “Tánh tức là Tâm, Tâm tức là Phật, Phật tức là Đạo, Đạo tức là Thiền”. Nói một vòng chỉ để cho chúng ta nhận được tâm. Người nhận được tâm thì sống được với đạo. 

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta tiếp cận với bao nhiêu công việc, nếu thể hiện được tinh thần thiền trong cuộc sống đó là ta nhận được tâm. Người xưa dạy: “Kẻ học đạo tu thiền phải biết rõ tâm mình, thấy rõ tánh mình. Người không nhận được bản tâm, chưa thấy được bản tánh thì sự tu tập khó thành tựu”. Sở dĩ chúng ta còn vướng mắc, bức xúc trong tiếp xử hàng ngày là vì chưa nhận được tâm, cứ chạy theo vọng tưởng điên đảo lăng xăng bên ngoài. 

Người nhận được tâm rồi lúc nào cũng bình thản an nhiên trong tất cả sự tiếp cận, không dấy khởi niệm gì khác. Ngược lại, người chưa nhận được tâm, chưa có công phu tu tập khi gặp cảnh duyên trái ý nghịch lòng liền sanh bực bội, khi gặp cảnh duyên vừa ý liền thấy thích thú. Cảnh duyên bên ngoài luôn khiến cho ta dấy niệm chạy theo, nên bị mất mình vì nó. Đây là điểm mà người tu chúng ta phải nhận cho được để có sự tỉnh giác mạnh, nếu không chẳng những cả đời ta ngược xuôi với trần cảnh mà nhiều kiếp phải chịu trầm luân sanh tử rất thống khổ.

Cho nên người biết tu, tu một tháng bằng người chưa biết tu, tu một năm. Là vì mỗi một cảnh duyên, mỗi một sự kiện họ đều lăng xăng điên đảo. Cảnh buồn, cảnh vui, cảnh không vừa ý, cảnh vừa ý v.v… đều sôi nổi, đầy ắp trong lòng họ, không có một khoảng trống nào để được yên cả. Hầu hết mọi chúng ta đều có cuộc sống chộn rộn, bất an gốc là từ vọng tưởng điên đảo mà ra. Vọng tưởng điên đảo có là do chúng ta quên mất tâm của chính mình vậy.

Ngày xưa chúng ta không hiểu tại sao thế giới mình đang ở có tên là kham nhẫn, khi có chút công phu ta thấy quả thật như thế. Mỗi người hãy kiểm nghiệm lại lòng mình sẽ thấy những bất an, bức xúc, những điều không như ý làm cho ta đau nhức, khó chịu, bực bội xảy ra hằng ngày trong cuộc sống nhiều không thể kể hết. Còn những giây phút yên vui, thanh thản, tĩnh lặng thì hiếm hoi lắm.

Người thế gian mượn những hình thức như âm nhạc thể thao cho đến văn hóa nghệ thuật v.v… nhằm vui chơi vì họ ngỡ rằng những thứ đó có thể khỏa lấp được những khó khăn, bức xúc trong lòng nhưng cuối cùng không có niềm vui nào đủ sức giải tỏa phiền não cả. Có người ngồi xem hai ba tiếng đồng hồ kịch hài để quên đi nỗi buồn, nhưng không đợi diễn xuất kia chấm dứt, mà ngay khi đang đối diện với màn ảnh, tâm họ vẫn cứ buồn phiền, bất an, khó chịu như thường. Thế mà con người chịu đựng được tất cả, nếu có than thì cũng cứ gánh chịu chứ không bỏ đi đâu được, nên Phật gọi Ta-bà là cõi kham nhẫn, tức cõi có thể nhận chịu được tất cả. 

Đức Phật ngày xưa khi còn là Hoàng thái tử Sĩ Đạt Đa đã bị một nỗi bức xúc giày vò, làm cho Ngài không thể chịu đựng nổi nữa, cuối cùng phải vượt thành xuất gia để giải quyết sự bức xúc ấy. Đó chính nỗi khổ triền miên của kiếp nhân sinh. Còn chúng ta cũng bị bức xúc nhưng cam chịu, nếu không nói là đầu hàng. Vì vậy ta cứ mãi nấn ná trong cõi kham nhẫn này. Cho nên sự ra đời của đức Phật như một sự đánh thức nhân loại sau giấc ngủ dài hàng nghìn nghìn năm.

Trở lại vấn đề tu hành, nếu chúng ta biết thương mình thì phải sớm tìm cách giải tỏa những bất an bất ổn trong lòng, không nên chấp nhận cuộc sống phiêu lưu, mỗi ngày mỗi kéo dài hơn, không biết đâu là cùng. Cho nên đối với công phu tu, phút giây nào được tỉnh táo, có chút an lạc là mừng phút giây đó. Bởi vì đôi khi phút này ta an lạc nhưng phút sau mất an lạc, không biết làm sao để giữ sự an lạc của chính mình. Nhiều người cuối cùng đành buông xuôi, ngày qua ngày tới đâu thì tới. 

Niềm vui chân thật trong đạo phải được thực hiện và thể hiện từ bên trong tâm ta, chớ không thể chỉ tạm mượn nụ cười hời hợt bên ngoài khỏa lấp một tâm trạng bất an ray rức bên trong. Vui như vậy chỉ càng làm khổ mình khổ người, không phải là niềm vui chân thật. Đó là lý do vì sao có những vị vào đạo đôi ba chục năm, cuối cùng phủi áo ra đi, không còn chút tín tâm với Tam bảo. Chính vì ta không biết tự quay trở lại chiêm nghiệm lấy mình, nhận ra và sống thực với mình nên cuối cùng phải mất mình, chấp nhận cuộc sống tha phiêu lưu trôi dạt như thế. 

Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói: “Ba cõi không yên như trong nhà lửa”. Nếu ta là người tri thức, biết thương mình và nhắm thẳng đến công phu, khi nhận được tin tức này, nhất định ta không bao giờ chểnh mảng, lêu lổng vui chơi trong ngôi nhà lửa sắp sụp đổ. Phật nói chỉ có mấy đứa trẻ dại khờ không biết gì mới vui chơi trong ngôi nhà sắp sụp đổ. Người thức tỉnh đã biết ngôi nhà như vậy, nhất định không khi nào ta vui chơi trong đó được. Nhưng hiện giờ chúng ta vẫn vui được, vẫn sống trong đó không muốn tìm đường thoát ra, vì vậy Phật nói chúng sanh si mê điên đảo hết chỗ nói. 

Với người tu thiền, đối trước các sự kiện vô thường của cuộc đời, điều cần yếu nhất là phải nhận được tâm của mình. Nhận được tâm rồi công phu tăng tiến đều đặn, không có gì trở ngại hết. Có chỗ nói nhận được tâm chính là kiến tánh, tức là thấy được tánh thật của các pháp. Người như thế không bị các pháp lay chuyển, đủ dũng lực và trí lực đối đầu với mọi hiện tượng biến thiên lưu chuyển không ngừng trong cuộc đời mà tâm vẫn bình an, không chút xao động. 

Vì vậy có thể nói cốt tủy của sự tu hành là ở tâm, bởi tâm chính là sinh mệnh của muôn loài. Trong sinh hoạt hằng ngày, nếu chúng ta chưa nhận được, chưa sống được với tâm thực của mình thì chưa nắm được cốt tủy của sự tu hành, do đó việc tu hành không tăng tiến. Nếu có tăng tiến thì sự tăng tiến đó cũng chỉ là giai đoạn tạm thời thôi. Chúng ta phải thật sự nuôi dưỡng công phu của mình, làm sao trong mọi tiếp duyên, ta chủ động giữ vững công phu tăng tiến đến nơi đến chốn. Có thế mới bảo dưỡng, thực hiện công phu một cách viên mãn. 

Người thấy được tính chất tu hành mới có thể giải quyết được mọi vấn đề. Đó là người kiến tánh, là người bất động. Nếu tu hành mà không thấy được con đường trước mắt, chỗ đến như thế nào, nhất định chúng ta không dám tu. Ví dụ nghe nói tu thiền điên, nếu người không hiểu đến nơi đến chốn, dĩ nhiên sẽ không dám tu thiền. Rõ ràng do người ấy chưa thật sự thấy được cốt tủy của việc tu thiền, chưa kiến tánh nên mới bị dư luận bên ngoài làm thối chuyển như thế. 

Người đã kiến tánh, đã sống được với tánh giác, dù nghe ai nói thế nào, tâm cũng vẫn bình thường, giữ vững lập trường tu tập của mình. Bởi người ấy biết rõ công phu, pháp môn tu tập của mình đã được những kết quả thiết thực, phù hợp với đạo lý sống hằng ngày. Cho nên họ có niềm tin vững chắc, vì đã tự khám phá đến nơi đến chốn việc của mình, không có người thứ hai tham dự vào. Có khẳng định như vậy, mỗi ngày mới phấn phát tiến tu được. Chứ còn sáng nghe người ta khen tu thiền hay ta thấy vui, trưa gặp ai nói tu thiền coi chừng điên ta liền hốt hoảng, chiều nghe người ta giới thiệu pháp tu nào hay hơn ta vội bỏ cuộc, tâm trạng tu hành không dứt khoát như vậy, tu cả đời cũng chả ra làm sao hết. 

Thành ra người tu thiền phải có sự kiên quyết, có cái nhìn tới nơi tới chốn. Từ đó tùy theo công phu của mỗi người mà chúng ta hưởng được sự an lạc thiết thực khác nhau. Kinh Lăng Già nói: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn”. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có công phu. Theo kinh Lăng Già dạy lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm sức sống hành trì hằng ngày. Tâm vốn không có hình tướng, cửa không đồng với không có cửa, như vậy công phu hằng ngày của chúng ta thật ra cũng chẳng phải là công phu gì cả. Chỉ cần tỉnh giác tự chủ, nhìn lại cái sẵn có nơi mình, đem nó ra dùng là đủ sức giải quyết tất cả mọi sự kiện, mọi vấn đề trong cuộc sống. Như vậy người sống với tánh giác, nhận được tâm là người có công phu mà không thấy mình có công phu, hóa giải được mọi chuyện mà chẳng thấy có việc gì bận rộn trong lòng. 

Chúng ta vì thường sống với tâm vọng động bất an nên không hóa giải được việc gì cả, dù là việc rất nhỏ trong sinh hoạt đời thường. Như đang ngồi đây, vừa được tin ở nhà có người thân bệnh, trong lòng ta liền chao đảo, không còn tập trung nghe pháp được nữa. Những thứ an bất ổn luôn luôn vây hãm mình, bởi vậy cuộc sống không có an lạc. Người đã thực sự sống được với tánh giác, họ bình ổn rồi thì việc gì đến cứ đến, tất cả đều có nhân quả của nó, không phải bận tâm làm chi cho khổ. Mình đã gây trước như thế nào, bây giờ quả đến tương xứng thế ấy, phải chấp nhận thôi. Chấp nhận trong tỉnh táo, sáng suốt thì mọi việc không còn là vấn đề gì hết. 

Thiền sư Hakuin ở Nhật Bản khi bị vu oan là tác giả của một bào thai, cha mẹ cô gái đến sỉ vả Ngài đủ điều, Thiền sư chỉ thốt lên hai tiếng “Thế à”. Đến khi đứa bé chào đời, họ đem ném trước mặt Ngài cũng kèm theo không biết bao nhiêu lời than oán, Thiền sư cũng chỉ nói “Thế à”. Sau cùng, không chịu được cơn dằn vặt trong lòng, cô gái thú thật với cha nàng rằng Thiền sư không phải là tác giả tạo ra tác phẩm kia. Cha mẹ cô ta đến hết lời xin lỗi Ngài, và dĩ nhiên Thiền sư cũng chỉ đáp lại hai tiếng “Thế à”. Đó chính là những nét đặc biệt nhất trong nhà thiền.

Chúng ta nếu gặp những sự việc như vậy, không biết sẽ than khổ tới đâu nữa. Cho nên người tu nhận ra bản tâm rồi, lấy cửa không làm phương tiện sống và nuôi dưỡng công phu hằng ngày, mọi chuyện xảy ra trong cuộc đời xem nhẹ như gió mây, thanh thản bình yên như hư không, không có vấn đề gì cả. Thế nên người học đạo phải biết rõ tâm mình là Phật, người hành đạo phải giữ được tâm không, thấu suốt ý nghĩa tức tâm tức Phật. Được vậy, công phu nhất định sẽ thành công, không bị trở ngại bởi bất cứ một ngoại duyên nào. 

Nói đến người hành đạo giữ được tâm không, điều này rất quý. Tâm chúng ta ít khi nào không lắm, hết vấn đề này đến vấn đề khác, chúng cứ tuôn trào ra. Người sống và thể hiện được tâm không thì không có vấn đề gì cả. Như hư không ta có để vào đó bất cứ thứ gì nó cũng không đầy, còn vật có hình tướng khi đã chứa đầy chỉ cần thảy thêm một chút gì vào là nó tràn ra, không thể chứa được nữa. Hư không rộng lớn mênh mông, không bị giới hạn nên có dung lượng vô biên, tất cả sự vật trong đó không thành vấn đề.

Cho nên người tu thiền biết giữ tâm không là vượt thoát tất cả sự vướng mắc trở ngại bởi các sự kiện trong cuộc đời. Chúng ta còn bị vướng mắc là còn bất an. Nếu buông được, vui vẻ bố thí hết, trong lòng rỗng rang như hư không thì đâu có vấn đề gì để mình bận tâm nữa. Như thế là thoát ra tất cả sự vướng mắc, buộc ràng rồi, tức nhiên mình sẽ bình yên thôi. Cổ đức nói ngay chỗ đó, hãy xem như ta đã chết, người chết không bao giờ ngóc đầu dậy nói gì nữa. Người tu thiền luôn xem như mình đã chết. Đối với tất cả những vui buồn, thành bại, nhục vinh trong cuộc đời không còn bận tâm, như thế mới dốc lòng tiến đạo được.

Tuy nhiên đây chỉ là giai đoạn mới bắt đầu trở về quê cũ thôi. Từ đây cho tới ngày thực sự an ổn, đòi hỏi chúng ta phải có công phu, phải có một thời gian trải dài. Sự hiểu biết chưa phải là kết quả mà công phu thực hành, từng bước tu tập mới đưa ta đến mục đích mình mong muốn. Cho nên đòi hỏi chúng ta phải có thời gian tu tập, chịu đựng hành trì dài lâu. Thời gian này dài bao nhiêu không biết, khó khổ thế nào cũng không sao đoán được, tùy theo phúc duyên của mỗi người mà chúng ta có sự dấn thân nếm trải khác nhau. Thế nên biết việc tu quan trọng ở ý chí và tâm thành, chớ không phải thời gian hay không gian. Nói thế để chúng ta tránh bệnh yếu đuối, ỷ lại, cứ trông đợi bên ngoài hỗ trợ, cầu khẩn Phật trời phù hộ, không chịu phát huy tánh giác của mình.

Người tu thiền biết đoạn đường mình đi rất dài, nhiều khó khăn nguy hiểm đang chực chờ, nên chuẩn bị tinh thần đối phó, không sợ sệt, không nhát nhúa cầu cạnh ai hỗ trợ, tự nỗ lực vươn lên, vượt khó. Chúng ta luôn sáng suốt, biết tất cả mọi vấn đề đều phải tự mình giải quyết, không có người thứ hai can dự được cho nên tinh thần mạnh mẽ phấn phát. Khi đã quyết định như thế chúng ta sẽ bình yên. Dù sự việc xảy ra thế nào mình vẫn bình yên, không có vấn đề gì. Nếu chúng ta khởi niệm phải như vầy như kia hoặc cầu khấn nhờ vả ai giúp đỡ, tâm sẽ yếu đuối bất an ngay. 

Trên đời này ai không muốn bình yên, nhưng có ai được bình yên hoàn toàn đâu. Người ta nói một câu hơi nặng, mình trả lời lại một câu cũng hơi nặng là mất bình yên rồi. Lúc ấy có cầu nguyện thần thánh nào, ổng cũng không làm trọng tài giải quyết nổi, vì biết không thể tạo thế quân bình trong những cái tâm bất an bất ổn như thế. Biết vậy tốt nhất ta sống tỉnh thức, đừng để tham sân si xỏ mũi lôi đi là không có chuyện cầu khẩn ai mà vẫn bình an như thường. Nên nhớ người thực sự muốn bình an không bao giờ gây chiến và cũng không đấu chiến. 

Ngày xưa có một tên ăn trộm chúa, khi thấy con trai mình lớn lên, có thể hành nghề ăn trộm được rồi, hắn mới bảo với con: “Con có muốn ba dạy cách ăn trộm không?” Thằng nhỏ chịu liền. Thế là giữa đêm hắn kéo con trai đến đục tường, xông vô một nhà giàu nọ. Khi cạy được nắp thùng lớn rồi, hắn bảo con trai chun vào đó lấy đồ. Thằng con vừa chui vào, hắn liền sập nắp thùng xuống một cái rầm, rồi một mình thoát ra cửa. Vừa chạy hắn vừa la to “ăn trộm, có ăn trộm”. 

Thằng nhỏ hoảng vía, khi nghe cả nhà mở đèn lục soát và tiến về hướng mình. Trong giờ phút chí tử ấy, nó bỗng nghĩ ra cách giả tiếng chuột kêu chít chít trong thùng. Người trong nhà chia nhau tìm bắt tên trộm, không thèm chú ý tiếng chuột làm chi, nên chỉ có một người đến giở nắp thùng ra xem. Thằng nhỏ liền xông ra hất kẻ kia rồi chạy trối chết ra cửa sau. Người ta đuổi theo bén gót, chạy ngang một cái giếng nó liền nghĩ cách ôm một tảng đá liệng xuống giếng, kêu một tiếng lớn. Mọi người ngỡ rằng tên trộm đã rơi xuống giếng nên không đuổi theo nữa, nhờ thế nó thoát nạn. 

Về đến nhà, thấy cha ngồi uống trà thanh thản, nó tới gần với ánh mắt căm tức cực độ. Nhưng tên trộm chúa vui vẻ xoa đầu nó nói: “Con đã trở thành một tay trộm xuất sắc rồi. Từ nay về sau có thể thay Ba công việc này. Chúc mừng con”. Chừng ấy thằng con mới hiểu cách dạy trộm độc đáo của cha mình. Câu chuyện “Trộm dạy con” này đã được truyền tụng xưa nay với ý nghĩa rất thâm trầm.

Việc học đạo của chúng ta cũng thế. Phật, Bồ tát, các vị thầy của của chúng ta dạy cuộc đời là khổ, mọi thứ đều đổi thay, thân này hư giả v.v… Dạy xong, các Ngài về thất nghỉ. Chỉ còn lại một mình ta trong từng phút giây, phải đối diện với cuộc đời, với sự sống, làm sao đừng bị ngã gục, không thất bại trước dục lạc thế gian hoặc không bỏ cuộc giữa đường, đó là ta thành công. Ông thầy đem hết tâm pháp bí yếu, những kỳ đặc để hướng dẫn cho mình, nhưng chính chúng ta mới là kẻ khám phá ra những thành quả ấy.

Câu chuyện “Trộm dạy con” muốn nhắc nhở mọi người tu phải tự mình phấn đấu vươn lên, tự mình sống được mới thành công. Ngược lại nếu ta yếu đuối, coi như dọc đường đã trở thành tro bụi rồi, nói gì chuyện thành hay không thành.

Cho nên nói đến sống đạo là nói đến công phu, nói đến sự thể hiện trọn vẹn tinh thần làm chủ mình qua sinh hoạt đời thường. Người có nếp sống đạo, có công phu tu hành, trong mọi tiếp xử hằng ngày luôn thể hiện một cách trọn vẹn tư cách của một người đã làm chủ được mình, không bị vướng mắc, cạm bẫy gì của thế gian kéo lôi nữa.

Có ba giai đoạn hướng tâm giúp chúng ta kiểm nghiệm được công phu hằng ngày của mình. Hướng tâm thứ nhất là hướng tâm phàm phu nặng về tình cảm, nên khi đối duyên xúc cảnh bị tình cảm kéo lôi. Xu hướng của tâm trong giai đoạn này còn nhiều tình cảm, ngã ái nặng. Đây là giai đoạn đầu của người tu, hầu hết mọi người đều trải qua. Nên trong giai đoạn này chúng ta phải phấn đấu quyết liệt với bệnh chấp ngã của mình. Bởi trí chưa hiện đầy đủ, công phu chưa viên mãn nên bị tình cảm chi phối, không thể tự làm chủ được.

Biết thế để chúng ta thông cảm, không nên xem thường các bạn đồng chí đồng hạnh với mình, họ cũng đang hì hục trong giai đoạn thứ nhất này. Bởi tất cả chúng ta còn xoay vần trong cuộc thế với biết bao ràng buộc, mọi thứ tình cảm bu quanh khiến cho mình kẹt cứng trong ngã chấp. Tu hành đến giai đoạn này, nếu hết duyên phải bỏ thân thì ta trở lại làm người có phúc duyên tiếp tục tu tập, không mất mát đi đâu cả. Tuy còn nặng về ngã chấp nhưng chúng ta có quá trình tu tập, chỉ nặng về tình cảm chớ không tạo tội phải đọa vào địa ngục hay ngạ quỷ, nên đừng quá lo sợ.

Trong kinh Niết Bàn, Phật có dẫn một ví dụ thế này. Như người đi chơi xuân ngang qua hồ nước trong, họ lượm viên sạn thảy xuống hồ nước, chốc lát nó lặn mất. Ta cứ tưởng viên sạn không còn nhưng thật sự nó nằm dưới đáy hồ, chứ không mất mát đi đâu. Gặp cơ hội nào thuận duyên viên sạn đó sẽ hiện ra. Người có trí thì nhẹ nhàng khéo léo vớt viên sạn lên một cách dễ dàng thôi. Việc tu hành cũng vậy, tuy công phu chưa viên mãn, mọi thứ còn dày đặc, lo ăn lo mặc việc nọ việc kia, nhưng chủng tử đã gầy dựng không mất. Ngày nào đủ duyên nó sẽ phát triển, chúng ta tiếp tục tu tập thăng tiến hơn nữa.

Hướng tâm thứ hai là hướng tâm từ phàm vươn lên thánh. Giai đoạn người tu đã có chút trí tuệ, biết phát huy và ứng dụng trí tuệ của mình khi đối duyên xúc cảnh. Chúng ta thấy rõ các pháp không thật, nên tâm bình thường an ổn với tất cả những sự kiện chung quanh. Đối trước những việc đau lòng, biết vận dụng trí tuệ để tự an tâm. Nhờ thế giữ được sự bình ổn thường xuyên. Đây là giai đoạn hành giả đã giữ vững công phu, trí tuệ bắt đầu phát sanh, tuy nhiên chưa phải hoàn toàn giác ngộ, chỉ là giác ngộ từng phần thôi. 

Bởi được phần giác nên sự mê mờ giảm bớt, người này không còn lầm việc tu học của mình nữa. Một từ “Không lầm” này đã cứu rỗi không biết bao nhiêu nghiệp nhân và hóa giải không biết bao nhiêu phiền não. Do mê lầm nên chúng ta gây tạo nghiệp để rồi trôi giạt, loay hoay mãi trong vòng vay trả trả vay. Vì vậy tu đến chỗ không lầm là đã vượt được một đoạn đường đáng kể rồi. Ngay đời này, ta phát chí tu hành đến được chỗ “không lầm” đối vớt tất cả các pháp là rất quý hóa vậy. 

Ngày xưa, trong pháp hội của tổ Bách Trượng, có một ông già sau khi nghe pháp không chịu về, cứ lảng vảng ở đó mãi. Tổ thấy lạ mới hỏi: “Sao ông chưa về, còn có điều gì muốn hỏi?” Ông già thưa:

- Con không phải là người thường. Trước con là Trụ trì, do có người hỏi: Bậc đại tu hành có rơi vào nhân quả không? Con trả lời không, nên bị đọa làm thân chồn ở sau núi này năm trăm năm rồi. Hôm nay đủ duyên được gặp Hòa thượng, cúi mong Ngài vì con nói phá, để con được thoát kiếp chồn.

Tổ Bách Trượng bảo: 

- Ông hỏi lại ta đi.

Ông già liền hỏi: 

- Bậc đại tu hành có rơi vào nhân quả nữa không?

Tổ Bách Trượng trả lời:  

- Không lầm nhân quả.

Ngay câu nói này, ông già đại ngộ, biết được lỗi trước của mình, liền quỳ xuống bạch Tổ: 

- Ngày mai nếu Hòa thượng thấy sau núi có xác một con chồn, xin táng nó theo pháp táng một vị Tăng. Con cúi đầu đảnh lễ Ngài đã giúp con thoát khỏi kiếp chồn và hiểu được lý nhân quả một cách thấu đáo.

Rõ ràng chỉ một từ “không lầm” thôi đã giải quyết được bao nhiêu dây mơ rễ má kết thành oan nghiệt nhiều đời. Trong mọi sinh hoạt thời thường, nếu lúc nào chúng ta cũng không lầm, thì ta là người giác ngộ, người đại giải thoát. Ăn cũng không lầm, ngủ cũng không lầm, tiếp khách cũng không lầm, đối với tất cả tài sản sự nghiệp, mọi thứ trên đời đều không lầm, tức trí tuệ đã tròn đầy rồi, đâu còn bị cái gì dối gạt nữa. 

Cái khổ lớn nhất của con người là vô minh, tức si mê lầm lẫn. Cho nên tu là để chấm dứt sự si mê lầm lẫn ấy. Vì vậy các Tổ dạy người công phu chưa tới nơi tới chốn phải dè dặt như đi trên băng mỏng, trên mũi nhọn, trên bờ vực thẳm… hớ một chút là nhào xuống chết liền. Chúng ta phải biết mọi sự kiện dàn trải trước mắt đều tuân theo luật nhân quả. Trong mọi xuất sử, tương giao, tiếp cận, nếu ta tỉnh thức sống được với tánh giác của mình, thì trong một trăm điều giảm bớt chừng vài chục điều lầm lẫn. Đó cũng là quý lắm rồi. Còn nếu chúng ta không tu không tỉnh, thì sự lầm lẫn không biết bao nhiêu mà kể. 

Như câu chuyện ông già vừa kể, đã là một vị Trụ trì, chỉ vì trả lời sai một chữ “không rơi vào nhân quả” mà phải 500 đời thọ thân chồn. Vì sao như thế? Bởi nói không có nhân quả tức là bác không nhân quả, rơi vào ngoại đạo, tà kiến. Nhân quả là một sự vận hành liên tục của các pháp. Tuy các pháp không thật, nhưng còn duyên là còn pháp. Ví dụ như huynh đệ chúng ta ngồi đây, có năm ba vị tu hành được giác ngộ thành Phật. Tuy đã thành Phật, nhưng những ân oán nhiều đời của các vị ấy đối với mọi người chung quanh chưa được giải quyết, khi đủ duyên các Ngài cũng phải trả hết. Trả nhưng các vị ấy không khổ, không hận, sẵn sàng vui vẻ để trả. Đó là sự khác nhau giữa bậc đã giác ngộ và chúng phàm phu chưa giác ngộ. Không phải nói thành Phật rồi là bao nhiêu nợ cũ quỵt hết, như vậy không được. Nghiệp nhân đã gây tạo, của ai nấy trả, rõ ràng như thế.

Tóm lại, xu hướng thứ hai của người tu là giai đoạn tâm đã phát sinh trí tuệ, nhưng chưa hoàn toàn viên mãn. Nhờ có trí tuệ nên việc tu tiến nhanh và vững hơn ở giai đoạn một. Cứ thế tiếp tục công phu một cách tinh tấn sẽ tiến dần lên giai đoạn thứ ba.

Đến hướng tâm thứ ba là hướng tâm của người đã nhận chân được cái chân thật nơi mình. Người này thấy rõ những ngược xuôi điên đảo của mình trong nhiều đời là do mê lầm chấp ngã. Bây giờ ngừng lại, không tiếp tục gây tạo nhân trầm luân trong sanh tử nữa. Giai đoạn thứ ba có thể nói là kết cục của người tu hành.

Đến đây rồi thì tâm hoàn toàn an lạc vì không còn kẹt vướng ở bất cứ thứ gì nữa. Tâm thông, trí sáng, tự tại sống trong cuộc đời mà vượt thoát khỏi cuộc đời. Đây là giai đoạn người tu đã hoàn toàn làm chủ được mình và tất cả các pháp.  

Ba hướng tâm này là những điểm căn bản của người tu. Chúng ta tu tập cần phải nắm vững những điều căn bản như trên, để đến trong mỗi giai đoạn ta không bị bối rối, không biết phải tu thế nào, tiến ra sao. Trong mỗi giai đoạn ta nên biết mình cần phải tiến lên, hoàn chỉnh công phu tu tập cho được rốt ráo viên mãn. Do đó đòi hỏi đức tánh kiên trì, sáng suốt, tế nhị, khiêm cung. Lúc nào cũng tự nỗ lực, không ỷ lại vào người khác, song rất tôn trọng thiện hữu tri thức và luôn có tâm khuyến khích động viên các bạn đồng chí đồng hạnh. Đây chính là những nét đặc biệt của người tu thiền. 

Chúng ta nên nhớ bước đường công phu hành đạo là quá trình không phải ngắn, không phải dễ. Nếu ngắn nếu dễ thì tất cả chúng sanh đã thành Phật hết rồi. Bởi nó không dễ, không ngắn nên ngày nào mình cũng tu, cứ cố gắng mãi như thế, nhất định sẽ có ngày thành công.

Cuối cùng, xin kính chúc toàn thể đại chúng đều nhận và sống được với những gì có sẵn nơi mình, mãi mãi được an vui giải thoát.

Mục Lục