Thiền Tông Việt Nam
Đuốc Thiền
Định Tỉnh Của Người Tu

Là người tu Phật, chúng ta phải biết cái quan trọng cần phải có là trí tuệ chân thật. Phần này chúng tôi đã trình bày nhiều lần. Thứ hai, người học Phật quý ở chỗ thực hành, làm sao công phu của chúng ta tăng tiến trong từng ngày từng giờ, mới thấy được ích lợi thiết thực. Muốn thế người tu phải có sự định tỉnh.

Có định tỉnh thì không tranh cãi, không tham đắm, không mong cầu, không ích kỷ, không vọng động. Nói tóm lại, có định tỉnh trong công phu tu hành ta mới làm chủ được mình. Chữ “Không” ở đây phải được thực hiện từ từ, chứ không thể nói “không” là làm được hết. Làm sao để không hoàn toàn tham đắm, không hoàn toàn tranh cãi… Đó là những vấn đề thông thường nhưng quả thực khó, chứ không phải dễ. Vì vậy cần phải tu sửa lâu dài. 

Trong nhà thiền thường nói đốn ngộ tiệm tu, nghĩa là ngộ thì mau chóng nhưng tu phải dần dần. Nếu người quan niệm đốn ngộ là xong, khỏi phải tu thì e rằng có lỗi lầm. Bởi vì từ nhiều đời kiếp, chúng ta đã mê lầm trôi giạt, tạo không biết bao nhiêu nghiệp nhân bất hảo. Bây giờ tỉnh giác muốn loại nó ra, đừng sai phạm nữa, chuyện đó không thể đơn giản. Giống như chiếc áo đã nhuộm mực quá đậm, bây giờ muốn giặt cho trắng sạch thì không thể nào giặt một hai lần mà trắng được. Phải có công phu liên tục, thường xuyên nỗ lực phấn đấu trong tinh thần tỉnh giác, hy vọng mới tăng tiến được.

Người tu không tranh, không tham, không ích kỷ… điều này chúng ta đã biết rồi, nhưng làm sao để được như vậy mới là vấn đề đáng nói. Cho nên khắc phục những thói hư tật xấu của mình phải là một quyết tâm hàng đầu, lập chí công phu vững chắc. Làm sao cho những thứ đó không có cơ hội sống dậy trong sinh hoạt của chúng ta. Vì thế người tu phải có sự định tỉnh, có ý chí và lập trường vững chắc.

Xưa tổ Hoàng Bá dạy muốn vượt khỏi trần lao đó là việc phi thường, phải nắm được đầu dây tức giữ vững lập trường mới thực hiện được ý nguyện tu hành tới nơi tới chốn. Nếu không có được công phu “Thiên ma bách chiết”, tức là trăm chẻ ngàn mài cực kỳ gian khổ, không nhẫn chịu được mọi khó khăn thì không có được ngày thành tựu, ngày an lạc. Qua những lời răn nhắc này, chúng ta biết chắc rằng người tu sẽ gặp rất nhiều khó khổ, cần sức phấn đấu dũng mãnh mới vượt qua được mọi trở ngại, thử thách. 

Chúng ta tu nếu không chịu sửa đổi lỗi lầm thì những nghiệp tập của mình làm sao hết được. Thành ra người tu nào cũng phải chịu sửa đổi sai lầm. Người cứ khư khư không chịu nghe, không chấp nhận lời chỉ dạy của những bậc đi trước, che giấu lỗi lầm bằng sự lanh lợi, khôn khéo của mình là người ấy không sao tu được. Vì vậy người tu phải biết lắng nghe, chịu đựng và sửa đổi. Như vậy công phu mới tăng tiến. Trên đời này không có ai hoàn toàn xấu, cũng không ai hoàn toàn tốt, bởi con người chưa phải là thánh hiền. Ai cũng có lỗi lầm, sơ suất nhưng quan trọng là biết sửa đổi hay không? Ta cứ che giầu lỗi mình thì chẳng những ta tu hành không được mà còn gây trở ngại, bất ổn cho tập thể, cho cộng đồng tu tập. Vì vậy người biết tu là người mau tỉnh giác, biết lỗi và sửa lỗi. 

Lục Tổ dạy thường tự xét nét lỗi mình, chớ dòm ngó lỗi người. Những cái khuyết của người ta đừng giẫm lên, đừng để ý tới, đừng moi móc ra, còn những cái hay của người thì ta nên học. Như vậy mới là người khôn ngoan, biết lo cho công phu tu hành. Người như vậy sẽ có một nếp sống nhẹ nhàng thoải mái, an vui và luôn được bạn hữu kính trọng thân cận. 

Như tôi đã nói, công phu diệt trừ những tham sân tật đố, phiền não xấu xa trong lòng chúng ta dài lâu lắm, không thể mau chóng được. Giống như người xa quê, đi lạc đường bây giờ muốn về phải vất vả một thời gian, chứ không thể nói là đến được liền. Trong đời sống hằng ngày, nếu biết tu biết loại bỏ những tập khí xấu, chúng ta sẽ dễ có được sự cảm thông với mọi người chung quanh. Ví dụ ta có một gay cấn gì đó với người gần bên, ta tỉnh táo xét nét thật kỹ, thấy mình không có lỗi thì hoan hỷ nói: “À! Thì ra người kia trên đường về quê còn phải trải qua một quãng đường dài lắm”. Biết như vậy để làm gì? Biết như vậy để cảm thông. Bởi vì trên quãng đường dài, người kia cũng phải trải qua nhiều khó khăn mới vượt lên những khuyết điểm của họ. Ta có thể giúp họ bằng chính sự cảm thông của mình, đó là tạo duyên thân cận đùm bọc nhau trên bước đường trở về quê. Được vậy đời sống của mình và huynh đệ sẽ vui tươi, sẽ không có góc cạnh gì cả.

Ta thường nghe nói: “Người có lỗi, biết sửa thì sẽ hết lỗi”. Hay “Người biết chừa bỏ lỗi lầm, đó là người đáng quý”. Trong cuộc đời này nhân vô thập toàn, tìm một người tốt hoàn toàn, không có. Kẻ được cái này, người giỏi cái kia, chúng ta đều tôn trọng như nhau. Riêng bản thân mình, ta phải biết loại những khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Được vậy nhất định ta sẽ trở thành người tốt đẹp, không sợ khó khăn trong đời sống, trong sự tu tập hằng ngày và trong quan hệ với mọi người chung quanh. 

Mỗi khi mình phát triển được một tâm niệm tốt, làm chủ được những ý niệm không hay, xem đó như một khích lệ trong công phu tu hành. Và sự khích lệ ấy càng nhiều chừng nào thì ta càng phấn chấn chừng ấy. Có thế, mình mới phát nguyện dũng mãnh, tăng tiến dài lâu, không chán nản, đến chừng nào bằng Phật mới thôi. Chúng ta có duyên tin hiểu Phật pháp, sống trong Phật pháp, tùy phần áp dụng Phật pháp để được lợi ích cho mình cho người. Khi đã tỉnh táo sáng suốt thì không còn dính dấp mắc mứu bởi những cái tham đắm, tranh chấp hay lòng vị kỷ, công phu hàng ngày dần dần thâm diệu hơn.

Người nào làm chủ được những tham sân tật đố, hỷ nộ ái ố… nói chung là các phiền não, thì người đó có tánh định. Người xưa nói người được tánh định thì: Ma phục, ngày ngày vui, 

Không sanh vọng tưởng, chốn chốn yên,  Tâm dừng, niệm dứt, giàu sang thật,  Dục vọng trừ sạch thật phước điền.

“Ma phục” nghĩa là hàng phục được quân ma. Chúng ta nhớ đức Phật khi sắp thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề, ma quân kéo đến hiện hình đầu trâu mặt ngựa, đủ loại rất ghê sợ. Chúng giương nanh vuốt, gươm đao tấn công Phật, rồi hỏi: “Sa-môn có sợ bọn ta không?”. Phật trả lời: “Không sợ”. Chúng bảo: “Bọn ta đông đảo thế này, vũ khí ghê gớm thế này, ông chỉ một mình, không có tấc sắt trong tay mà dám nói không sợ. Sa-môn nói dối”. Bấy giờ Phật trả lời: “Các ngươi đông đảo, lại có đủ thứ khí giới ghê sợ nhưng tất cả đều hư giả, không thật. Còn ta có cung thiền định, kiếm trí tuệ, biết bọn bây là giả nên ta không sợ”. Do đó đức Phật chiết phục được ma quân. Vì thế nói “Phục ma, ngày ngày vui”, chiết phục được chúng ma rồi thì lúc nào cũng được an vui.

Một khi có tánh định hay cung thiền định rồi thì đương nhiên trí tuệ bản hữu của chúng ta sẽ được phát triển. Cho nên quan trọng là làm sao được tánh định. Như trong bài kệ dạy “Không sanh vọng tưởng, chốn chốn yên. Tâm dừng,  niệm dứt, giàu sang thật”. Chúng ta chỉ có thể hoàn toàn an ổn khi nào dứt hết vọng tưởng. Tâm dừng, niệm dứt thì thật sự đứng vững nơi kho báu nhà mình, nên nói “giàu sang thật”. Như vậy đối với tất cả các pháp ta sẽ có một thế bình ổn, không gì lay chuyển được. 

Trong khi tọa thiền thấy những cảnh giới ghê sợ, ta hốt hoảng la kêu cầu cứu, đó là do không có tánh định. Hoặc công phu tăng tiến có những cảnh giới vui tươi hiện ra, khiến chúng ta không tự chủ được, hét lên hoặc cười vang. Như vậy cũng không được, vì bị ma hoan hỷ dẫn đi. Nếu không tỉnh giác, từ đó về sau gặp cái gì cũng hoan hỷ, cũng cười ha hả cả ngày. Cho nên dụng công tu nếu không định tỉnh, chúng ta dễ bị điên khùng bởi những hình ảnh hay cảnh duyên xảy ra trong lúc tu. Thành ra người tu thiền, phải gan dạ, định tỉnh mới trị được các loại ma chướng. Nếu chúng ta nhát nhúa, yếu đuối, dễ vui, dễ giận, dễ cười, dễ khóc thì sẽ dễ bị lay chuyển bởi những hiện tượng chung quanh. Tình trạng ấy sẽ dẫn tới điên khùng, cần phải biết và tránh xa.

Người ta thường nói tu thiền dễ điên, dễ lạc. Tại sao? Vì ta không có ý chí, không nắm vững pháp tu, không có sự hỗ trợ, dẫn dắt của các bậc thiện hữu tri thức. Nói rõ hơn, muốn tu không bị sai lạc, không điên khùng, trước nhất chúng ta phải nắm vững pháp tu. Trong công phu phải có quyết tâm. Người tu thiền phải có ý chí mãnh liệt. Hòa thượng Viện trưởng dạy phải có tâm trường viễn kiên cố. Nếu chúng ta quá quý trọng thân này, còn bị ngược xuôi bởi những cảnh duyên chung quanh, thì không làm sao tránh khỏi ma sự. Vì vậy muốn nắm được pháp thiền, áp dụng một cách sâu sắc, chúng ta phải có sự thể nghiệm thực. Luôn luôn lắng nghe tự bản thân để thể nghiệm những kinh nghiệm riêng, đồng thời học hỏi nơi kinh nghiệm của những bậc tu hành trước chúng ta. Đừng bao giờ khởi niệm tự mãn, cho ta thế là đủ rồi.

Trong tứ hoằng thệ nguyện của các bậc Bồ-tát, có thệ nguyện này: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Nghĩa là những phương pháp, những kinh nghiệm, những cách thức để chúng ta học và tu nhiều vô lượng vô biên. Chúng ta phát tâm học và thực hành tất cả những pháp môn đó. Nếu chúng ta học và tu Phật pháp một cách sâu sắc thì bản ngã, lòng vị kỷ sẽ không có cơ hội phát triển. Ví dụ chúng ta ngồi thiền, theo lời Hòa thượng dạy biết vọng tưởng không thật, bỏ đi. Nhưng chúng ta có đủ năng lực, đủ sự tỉnh táo để kiểm soát tất cả dấy niệm của mình không? Biết được đôi ba vọng tưởng nhưng lại bị vô vàn vọng tưởng khác kéo đi. Và khi đã bị nó kéo đi thì thời gian vô cùng vô tận. Nhưng nếu ta quán sát một cách sâu sắc, miên mật thì sẽ thấy vọng tưởng không phải là mình, chúng chỉ là mây khói, tội gì ta phải theo chúng cho hệ lụy. Thấy rõ như vậy thì bản ngã đã được tháo tung, lòng vị kỷ cũng không còn. Cho nên nói “Dục vọng trừ sạch thật phước điền”.

Thiếu định tỉnh chúng ta sẽ không làm chủ được các dấy niệm. Có định tỉnh, ta mới làm chủ được các dấy niệm. Và khi đã làm chủ được những dấy niệm thì ta thấy mình khỏe vô cùng. Một dấy niệm nào đó kéo lôi làm ta phải theo đuổi, nhưng khi chợt nhận ra quay về thì thấy rõ ràng nó chả là gì, mình đang bị vọng tưởng dẫn. Buông đi ta sẽ cảm nhận khỏe ngay. Bởi vì dấy niệm thì thuộc về đối đãi hơn thua, được mất, chúng sẽ tạo ra một trường đấu tranh, chọn lựa nên dễ tạo cho ta cảm giác mệt mỏi. Có khi chuyện xảy ra đôi ba năm trước, nhưng bây giờ nó hiện ra, mình lao theo rồi buồn khổ, tức giận, thật vô lý quá chừng. Vậy mà người ta vẫn lao theo, không nhận ra được. Nhà Phật gọi đó là những cảnh giới ma mị, hoặc vui hoặc buồn khổ, tức tối. Nếu ta cứ theo dấy niệm, nó sẽ khống chế và kéo mình đi. Còn dừng lại, làm chủ được những dấy niệm thì nó tan biến ngay, an lạc tức thì.

Đối trước cảnh tham mà mình không tham thì an lạc. Lời này nhẹ nhưng thích thú vô cùng. Đối trước cảnh sân mình không sân thì an lạc v.v... Tất cả cảnh duyên ta đều làm chủ được thì hoàn toàn an lạc. Chúng ta ai cũng có tánh định, nhưng nếu chạy ra ngoài thì quên, lao theo cảnh thì mất, dính mắc thì không làm chủ được. Làm sao mình đừng quên, đừng lao theo, đừng dính mắc thì sẽ được an lạc. Cho nên dung nhan của các vị Bồ-tát, của đức Phật lúc nào cũng vui tươi, hồn nhiên, bình an, thanh thoát. Bởi vì các Ngài không dính mắc chi hết. An lạc như thế mới thật sự là an lạc trong lòng chúng ta. Chỗ này chỉ đến mới biết, chớ không thể nói hết được. Nhà thiền gọi là “Như người uống nước, lạnh nóng tự biết”.

Để đối trị vọng tưởng, trước tiên chúng ta phải nhận diện được nó. Vọng tưởng thì nhiều lắm. Có vọng tưởng làm cho ta đắm mê, có vọng tưởng làm cho ta sợ hãi, có vọng tưởng làm cho ta thương tiếc, có vọng tưởng làm cho ta điên đảo, khổ sở đủ thứ. Ta vướng vào thứ nào thì nó kéo mình đi. Nếu ta không gật đầu, không chấp nhận thì thôi, nó không làm gì được mình. Cho nên vọng tưởng tuy nhiều, nhưng ta không sợ, vì chủ yếu là do nơi mình. Người không sanh vọng tưởng, không bị vọng tưởng chi phối, người đó ở đâu cũng yên hết. Trái lại người chưa hết vọng tưởng dù lên thiên đường cũng không có hạnh phúc. 

Thế nên các vị thiền sư, làm gì cũng thấy an vui, giải thoát, tự tại. Đâu phải vị nào cũng thăng tòa thuyết pháp, có vị đi cày ruộng, có vị chèo thuyền, làm củi, nấu cơm. Trong mỗi mỗi việc, các Ngài đều thể hiện được sự tự do thống khoái của một bản tâm vô nhiễm. Đôi khi vì độ người các Ngài cũng ăn thịt uống ruợu, nhưng hoàn toàn khác với người đời. Được khen hay bị chê, Thiền sư vẫn bình thường, không hề nao núng gì cả. Sống như vậy thì còn gì thích thú bằng!

Ở đây Hòa thượng thường dạy chúng ta sống với tánh giác. Người không bị các pháp kéo lôi mới nhận và sống được với tánh giác, người này được gọi là giàu có muôn hộ. Tại sao giàu? Tại vì sạch hết vọng tưởng, đầy đủ phước điền nên giàu. Phước điền ở đây có hai mặt, bản thân của người đó có phước và họ còn là ruộng phước cho tất cả mọi người chung quanh nương tựa tu hành. Như trong huynh đệ chúng ta, nếu có người nào thật sự được phúc điền như vậy, vị ấy làm chủ một cách hoàn toàn rồi thì sẽ trở thành bạn hữu rất cần thiết cho tất cả chúng ta. Vì thế có thể gọi họ là phúc điền, tức ruộng phước cho mọi người gieo chủng tử lành. 

Ở trên tôi có nói đến hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục v.v… đây gọi là thất tình, tức bảy thứ làm cho con người điên đảo. Nó là ma sự, chúng ta tu phải loại trừ chúng. Hỷ là vui mừng, nộ là bực tức, ái là yêu thương, ố là căm ghét, ai là sầu bi, lạc là vui thích, dục là tham muốn. Đây là bảy điều ngủ ngầm trong chúng ta, hễ có cơ hội nó sẽ trổi dậy ngay. Nếu mình được tánh định rồi, thì như tôi đã nói, đối trước cảnh sân mình không sân, đó là tống cổ ma sân đi. Tương tự cho các thứ kia, nó đến ta không nhận, nghĩa là tất cả ma sự đều bị đẩy lui. 

Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy, nếu người bội giác hợp trần là người mê, ngược lại bội trần hiệp giác là người tỉnh. Người định tỉnh thì sẽ trị được những thói quen tật xấu như hỷ nộ ái ố v.v… Tuy nhiên, không phải một lúc ta có thể thực hiện hoàn toàn những điều đó. Làm chủ được phần nào tốt phần đó, như vậy cũng có niềm vui khích lệ cho đời tu của mình lắm rồi. Ví dụ như ta làm chủ được “ố” tức là ghét, bao nhiêu ganh ghét người này người kia, mình bỏ hết, khắc phục hết là nghe nhẹ được một phần trong tâm. Bỏ được ố thì phát triển được tâm từ, tâm bi. Đó là một khích lệ để công phu tăng tiến. Người sáng suốt biết lo, biết thương mình là phấn chấn tu từng chút như vậy. 

Giống như người mới tập ngồi thiền, ban đầu chỉ ngồi được nửa tiếng, nhưng do lòng phấn chấn nên mỗi ngày ngồi tăng lên một hai phút hoặc năm mười phút… Đó là một khích lệ. Khích lệ này chính là điểm tựa vững chắc cho công phu của chúng ta tăng tiến. Bữa nay ta ngồi 45 phút, ngày mai ngồi 46 phút và ngày kia ngồi được 60 phút, cứ tăng tiến như thế. Người tu đúng chánh pháp, có lợi lạc, tăng tiến thì có niềm vui và sự phấn chấn thấy rõ. Ngược lại người tu không đúng pháp, việc tu dễ lui sụt, dễ chán nản đôi khi thoái Bồ-đề tâm, không muốn tu nữa. Chỉ cần nhìn sắc diện và cuộc sống của mỗi người là ta có thể biết họ tu như thế nào.

Hồi trước ai nói gì không vừa ý ta giận dữ lắm, có khi la hét, trợn mắt, giậm chân, đập bàn đập ghế, bây giờ cũng nghe những lời ấy nhưng ta vẫn bình thường, thì biết công phu tu khá rồi đó. Quí vị cứ nghĩ thế này, người ta nói mình con trâu, ta có thành con trâu đâu mà giận. Nhưng nếu người ta nói mình con trâu mà mình tức lên, rống lên thì thành con trâu liền. Gương mặt dữ dằn sừng sộ có khác chi cặp sừng mọc lên, đó là hiện tướng không tốt. Cho nên tu hành có công huân chuyển được tập nghiệp rất nhiều. Đây gọi là năng lực của sự tu hành. 

Người xưa dạy “Niệm động bách sự hữu, niệm chỉ vạn sự vô”. Nghĩa là khởi niệm thì trăm sự đều có, dứt niệm thì muôn sự đều không. Không phải ở chỗ đông đảo nhiều người ta mới đa sự, đôi khi sống một mình trong thất, nhìn tới nhìn lui nhìn ba cái vọng tưởng của mình, ta cũng phiền não dậy trời. Điều này khó lắm, chứ không phải dễ. Bởi thế chúng ta chỉ phát nguyện nhập thất trong một thời hạn nào thôi, chứ chưa thiền sinh nào phát nguyện nhập thất trọn đời. Nhưng nghĩ cho cùng thật sự chúng ta phải nhập thất trọn đời thôi. Nhập thất đây không có nghĩa là ta ở trong một căn nhà một mình, mà là nhập vào ngôi nhà chân thật của chính mình. Nơi đó không còn một chút lăng xăng lao lự của trần cảnh bên ngoài. Được như vậy chúng ta mới thực sự an ổn. Nếu chúng ta còn tránh né, còn chạy quanh vì sợ vọng tưởng, không dám đương đầu với nó thì ta sẽ không bao giờ làm chủ được đâu. Phải phấn đấu, phải đương đầu với nó mới trị được nó. 

Lại ý nghĩa nhập thất trọn đời còn có thể được hiểu như vầy. Ví dụ tôi đau răng, bây giờ tôi có nói cho mẹ tôi nghe, cho người thương tôi nghe, thì tôi cũng chỉ diễn tả bằng ngôn từ đến một mức độ nào đó, chứ tôi không thể diễn tả được hết cái đau trong tủy, trong răng, đau phừng phừng lên mặt… Tôi phải tự gánh chịu một mình thôi, không ai có thể thay thế được, dù người đó có thương tôi đến đâu chăng nữa. Cho nên ta phải tự ở yên trong ngôi nhà của mình, tự lo cho mình, không thể trông chờ vào ai cả. Đến cái chết cũng không ai thế cho mình được, vậy tại sao bây giờ ta không dám chấp nhận, không dám đương đầu để chuẩn bị cho mình? Không dám phát nguyện nhập thất là không đối diện với chính mình. Thiền sư nói chết như cởi chiếc áo mùa hạ nóng bức, có gì để sợ! Bởi chưa được như vậy cho nên ta khổ. 

Phật nói thân không thật, tất cả các pháp không thật thì sanh già bệnh chết làm sao thật được? Chết không thật, sống không thật, yêu thương không thật, thù hận không thật, nhà cửa tài sản, địa vị danh vọng… cái gì cũng không thật hết. Mà chúng ta lại khổ bởi những thứ đó. Nghĩ cho cùng con người cứ loay hoay lẩn quẩn trong bao nhiêu đó thôi. Đã biết nó không thật, tại sao ta cứ ôm giữ rồi bị ràng buộc ở trong đó. Trong khi việc chính của mình là ở yên trong thất, trong ngôi nhà chân thật nhìn xem vọng tưởng đi tới đi lui mà chơi, chứ chạy theo nó làm gì. Ta là chủ kia mà.

Thời gian tu hành của chúng ta rất quí giá, ta phải thật sự tỉnh táo sáng suốt nhìn xem những gì không cần thiết thì để nó qua một bên, đừng quan tâm tới, phải biết đối diện với chính mình. Cô đơn, sợ hãi, thương nhớ, buồn tủi, tức giận đều phải nhìn thẳng để đối trị. Đó là công phu của chúng ta. Trị được cái nào là khích lệ phấn đấu phần đó. Việc đó mình phải làm, con đường đó mình phải đi, nhất định là như vậy. Chúng ta tu như thế thì vui, tiến được, chắc chắn sẽ thành công.  

Nhiều vị than với tôi “Tu sao không tiến?” Tôi hỏi tại sao không tiến? Họ bảo cứ bị cái này cái kia cản trở hoài. Tôi hỏi: “Bây giờ anh muốn bay lên trời hay muốn biết quá khứ, vị lai? Anh muốn cả thiên hạ đều phải lạy anh hết sao? Tất cả những thứ đó là ma, hãy loại nó ra đi. Tu nghĩa là gặp tất cả khó khăn ta vẫn bình thản vượt qua, chứ không phải tu để đừng có khó khăn nào đến ngăn trở mình”. Hiểu như vậy mới thấy người tu có sức mạnh, có can đảm và có nhẫn lực phi thường. Đâu phải tu để đừng ai đụng tới mình, tu để yếu đuối khiếp nhược trước mọi thử thách gian nan. Chúng ta tu phải có công phu, có định tỉnh, có đạo hạnh trong đời sống thực, chứ không phải chạy trốn nghịch cảnh hay ưa thích thuận cảnh.

Tu hành có đạo lực mới trị được những bệnh tham sân tật đố, phiền não điên đảo, chấp nhận trả nghiệp cũ đã tạo từ quá khứ. Từ công đức tu hành ta hoán chuyển nghiệp của mình, chứ không có đấng nào thưởng phạt cả. Việc tu phải được thực hiện trong thời gian ta còn khỏe, đầu óc tỉnh táo đây. Đùng để trễ, đùng một cái vô thường đến không xoay trở kịp, lúc đó đành phải theo nghiệp mà đi. Làm sao như các thiền sư xem cái chết như cởi áo hạ nóng nực thì khỏe. Đó không chỉ là mong mỏi suông của mình mà phải là kết quả cụ thể của việc tu hành. 

Năng lực của nghiệp là gì? Là năng lực của thân, của miệng, của ý. Hằng ngày ta tập trung nhiều về cái nào đó thì khi sắp lâm chung năng lực đó kéo mình đi. Bình nhật năng lực sân si tật đố nhiều thì nó kéo mình đi vào địa ngục, tham lam keo sẻn nhiều thì nó kéo mình đi vào ngạ quỷ, si mê tối tăm nhiều thì nó kéo mình đi vào súc sanh. Phật đã nói rõ ràng như thế. Cho nên tham sân si là thước đo công phu của chúng ta. Như vậy chúng ta có sợ tham sân si không? Nói sợ cũng vô lý, nó có nanh vuốt dữ dội gì đâu mà sợ. Nó nằm im thin thít thấy như hiền khô, nhưng mình muốn hiện kiểu nào nó hiện kiểu nấy. Đang tươi tắn mát rượi mà ai nói xóc một hồi gân cổ nổi lên, tay chân múa may, miệng há hốc rồi mắt đỏ, nói không ra lời nữa. Nó hiện ra đấy.

Thành thử đối với tham sân si chúng ta phải làm chủ. Biết nó không thật hãy hóa giải, hoán chuyển để tiêu dung. Muốn làm chủ được phải có định, có tuệ tức là phải có thiền. Nói tu thiền chúng ta đừng nghĩ chỉ có ngồi thiền mới gọi là tu thiền. Trong đi đứng đều thiền, mọi sinh hoạt đều thiền, nghĩa là hằng xoay lại mình, nhận ra cái thật, đừng chạy theo các cảnh duyên bên ngoài. Nếu ta cứ đắm đuối chạy theo, mắc mứu cảnh duyên bên ngoài thì cuối cùng mất mình thôi. 

Chúng ta thấy thân này với bao nhiêu nghiệp tập, cố chấp định kiến, tham sân phiền não. Nếu không tranh thủ tu tập thì sẽ không còn thời gian nữa. Từ sáng tới chiều, mười hai tiếng đồng hồ nhìn lại những lăng xăng của mình, chúng ta thấy cũng không đủ thì giờ dẹp tan nó. Hết điên đảo này đến điên đảo khác, nối tiếp nhau không dừng. Người yếu đuối không dễ gì chiến thắng nghiệp tập phiền não đâu. Như chúng ta vừa có một cái tức giận trong lòng, liền nhớ lời Phật dạy “Tăng hận bất cách túc”, nghĩa là Tăng giận không quá một đêm. Ứng dụng được như thế sẽ thấy thoải mái vô cùng.

Tóm lại, hôm nay tôi nhắc những điều cần thiết cho người tu chúng ta. Thứ nhất chú trọng ở công phu, khắc trị bớt tham sân phiền não, đừng mong cầu, đừng vọng tưởng. Thứ hai người tu phải có tánh định. Người tu có tánh định thì sẽ trị được tất cả ma mị, làm chủ được mình sẽ đầy đủ công đức, làm việc gì cũng dễ thành tựu. Thế nên vị nào tu chưa được định tuệ thì phải lo, phải tập trung công phu cho được định tuệ. Thiếu định tuệ, thiếu công phu tu hành, đó mới là điều đáng lo. 

Mong tất cả ghi nhớ và thực hành được kết quả như sở nguyện.

Mục Lục