CHÁNH VĂN:
Khi ấy, ông A-nan ở trong đại chúng mới từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, gối phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật: “Con là em út của Như Lai, nhờ Phật thương yêu, nay tuy được xuất gia mà vẫn còn ỷ lại vào lòng thương yêu của Phật, do đó chỉ lo học nhiều mà chưa được quả Vô lậu, nên không thể chiết phục được chú Ta-tỳ-ca-la, bị nó lay chuyển phải sa vào nhà dâm. Chính bởi là chẳng biết được chỗ đến của mé chân. Cúi mong Đức Thế Tôn mở lòng từ rộng lớn thương xót, chỉ dạy cho chúng con con đường thiền định (Xa-ma-tha), khiến cho kẻ xiển-đề được xa các thứ tà kiến”. Thưa thỉnh như thế xong, năm vóc gieo xuống đất, và cả đại chúng khát ngưỡng trông chờ được nghe lời chỉ dạy của Phật.
GIẢNG GIẢI:
Đến đây, Ngài A-nan bạch Phật trình bày chỗ hối hận của mình. Lâu nay cứ ỷ lại vào Phật, lo đa văn, học nhiều chưa tu đến nơi, chưa được quả Vô lậu giải thoát, do đó phải bị nạn Ma-đăng-già. Bây giờ thỉnh Phật chỉ ra con đường thiền định để thấu rõ được Chân Tâm, tức mé chân, cũng để ngăn ngừa những hạng xiển-đề, xa được những tà kiến.
Phép cung kính của bên Ấn Độ: Khi gặp việc, muốn trình bày thì vạch bày vai bên phải, quỳ gối phải. Mình quỳ hai chân, hai đầu gối luôn, còn ở đây quỳ gối phải. Đó là để bày tỏ lòng khiêm hạ, quy thuận. Tại sao quỳ gối phải? Bởi vì chân phải hay gối phải chịu lực mạnh, quỳ xuống đứng dậy dễ dàng. Chắp tay cung kính trình với Phật.
Ngài là em út, em út đây là em họ chứ không phải anh em ruột. Vua Tịnh Phạn có bốn anh em là bốn ông Vua: Tịnh Phạn, Hộc Phạn, Cam Lộ Phạn, Bạch Phạn, sanh ra tám người con trong đó Ngài A-nan là nhỏ nhất nên gọi là em út. Nghĩ mình là em út chắc Phật thương nhiều, được xuất gia mà lo đa văn học nhiều chưa tu đến nơi nên chưa được quả Vô lậu.
Ở đây để cảnh tỉnh cho người, không ỷ lại vào cái học bên ngoài, đừng mắc kẹt vào văn tự, chữ nghĩa, lo lấy cái của người làm cái của mình mà không lo tu, chớ không phải bảo đừng học gì hết. Chính vì Ngài A-nan ỷ vào cái bên ngoài, không tu kỹ cho nên chưa chứng được quả Vô lậu, do đó không chiết phục được tà chú Ta-tỳ-ca-la mà phải mắc nạn Ma-đăng-già. Ngài ăn năn, hổ thẹn trước Phật.
Biết đâu Ngài A-nan là Bồ-tát thị hiện để cảnh tỉnh cho mình. Bởi vì tới hội Pháp Hoa, Ngài được thọ ký sau này sẽ thành Phật.
Ngài A-nan do ỷ lại vào bên ngoài cho nên không thấy được mé chân. Cái gì là mé chân? Chỗ chân thật mà cũng có mé nữa hay sao? Đây là những danh từ gợi ý, chỉ cho Chân Tâm thường trụ. Do mình mê Chân Tâm thường trụ mới vọng khởi có sanh tử, đi vào luân hồi. Nếu ngay chỗ mê, ngộ trở lại thì đó là mé chân thật, không phải có cái mé để trở về. Bởi vậy, câu “quay đầu liền thấy mé”, người không hiểu, chấp vào danh từ, nghĩ là có cái mé chân thật để trở về, thì càng trở về càng không thấy mé.
Tiếp theo sau, Phật sẽ ở ngay nơi cửa mặt phóng quang chỉ bày. Tức ngay tâm mê là tâm ngộ, đó là đường về ngay trước mắt không phải đâu xa, nhưng đây chưa nói. Ở đây, Ngài A-nan chưa thấy được đường về, cầu Phật chỉ cho con đường thiền định để trở về. Cũng để giúp những người xiển-đề xa lìa những thứ tà kiến. Xiển-đề là những người không tin nhân quả, đoạn dứt thiện căn, những người tà kiến. Trong kinh Niết-bàn, Phật dạy: “Xiển-đề cũng có Phật tánh. Nếu họ có niềm tin trở lại thì họ chuyển cái xiển-đề, không còn là xiển-đề nữa”.
Có vị tăng hỏi Ngài Triệu Châu:
- Thế nào là Bồ-đề?
Ngài đáp:
- Cái này là xiển-đề.
Trả lời không dính dáng gì hết, nhưng chính xác! Thiền sư dùng 36 pháp đối theo Lục Tổ dạy. Tức là hỏi trắng lấy đen đáp. Đây hỏi “Bồ-đề” dùng “xiển-đề” đáp. Không tin Bồ-đề tức là xiển-đề, khi có lòng tin Bồ-đề thì không còn là xiển-đề. Cho thấy xiển-đề cũng không cố định. Cách đáp khéo léo của nhà thiền để trừ cái chấp vào chữ nghĩa. “Bồ-đề” hay “nhất-xiển-đề” cũng là danh từ tạm đặt, không mắc kẹt vào đó. Đó là cách đáp ngược để làm sáng tỏ vấn đề.
Như vậy, muốn trở về mé chân phải đi con đường thiền định. Tuy nhiên, con đường thiền định chưa phải là cứu cánh. Nếu kẹt ở trên con đường đó cũng không đến được mé chân. Chỉ khéo nhân con đường đó thấy được mé chân, không chấp con đường đó là mé chân.
Khi Ngài A-nan thưa hỏi xong thì cả đại chúng đều một lòng khát ngưỡng trông chờ nghe lời dạy của Đức Phật. Vậy là thời tiết đã đến, đã khế hợp để Phật nói.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy Đức Thế Tôn từ trên cửa mặt phóng các thứ hào quang. Hào quang ấy sáng chói như trăm ngàn mặt trời, khắp các cõi Phật, sáu thứ chấn động. Bấy giờ mười phương các cõi nước như số vi trần đồng thời hiện ra. Do oai thần của Phật khiến các thế giới hiệp thành một cõi. Trong cõi ấy, có các vị Bồ-tát lớn đều ở nơi nước của mình chắp tay lắng nghe lời Phật dạy.
GIẢNG GIẢI:
Trước khi Phật chỉ dạy, Ngài dùng hình ảnh phóng quang để ngầm chỉ cho người khéo lanh lợi sẽ nhận được những ý khó nói, khó bàn. Trên khuôn mặt phóng các thứ hào quang: hào quang xanh, vàng, trắng, đỏ v.v... soi khắp các cõi Phật, sáng hơn cả trăm ngàn mặt trời.
Một mặt trời thôi mình chịu không nổi, ở đây tới hơn cả trăm ngàn mặt trời chắc ai cũng lóa mắt hết?! Nhưng không phải vậy. Hào quang này sáng chói hơn cả trăm ngàn mặt trời nhưng trong đại chúng ai nhìn cũng bình thường, không bị chói mắt. Đó là đặc biệt. Hào quang đó soi khắp các cõi Phật, làm cho sáu điệu chấn động, các cõi Phật ở mười phương nhiều như các bụi, đồng thời hiện ra rồi hợp lại thành một cõi.
Trong khi đó, các vị đại Bồ-tát ở nơi các cõi đó vẫn ở nơi cõi nước của mình chắp tay lắng nghe lời Phật ở bên Ta-bà này. Đó là những điểm mình phải chú ý mới thấy được trong đó ngầm chỉ cái gì.
Ở đây, Phật phóng hào quang thuyết pháp, chứ không phải phóng hào quang để biểu diễn thần thông. Tức là biểu hiện pháp thấy trực tiếp không qua lời nói. Chỗ chân thật không thể nói mà phóng hào quang là gián tiếp một lớp rồi. Nếu nói ra lại thêm một lớp nữa, theo lời nói suy nghĩ là qua một lớp nữa cho nên đi xa dần dần.
Vậy thì từ khuôn mặt - nhớ kỹ là từ khuôn mặt - phóng các thứ ánh sáng, ánh sáng này sáng hơn cả mặt trời nhưng không làm cho người chói mắt. Đó là chỗ ngoài thức tình của mình suy nghĩ.
Ngay cửa mặt, phóng ánh sáng ra soi khắp cả cõi nước mười phương, sáu điệu chấn động. Đó là ngầm chỉ ngay căn tánh hiện tiền của mình đây, phát minh ra tâm tánh chân thật sáng suốt thì nó sẽ soi khắp mười phương, không có gì ra khỏi nó, không cần cầu đâu khác nữa.
Sáu điệu chấn động tức là sáu cách rung động. Sáu cách chấn động này về sự thì có ba thứ thuộc về hình, và ba thứ thuộc về thanh.
Ba thứ thuộc về hình: Thứ nhất là động, tức là nó lay động không yên. Thứ hai là khởi, là từ thấp dần dần lên cao. Thứ ba là dũng, tức bỗng nhiên nó vọt lên.
Ba thứ thuộc về thanh: Thứ nhất là thuộc về chấn, tức là phát ra tiếng động âm ỉ, âm ỉ. Thứ hai là thuộc về hống, là tiếng động giống như một tiếng rống mạnh mẽ của loài thú, mạnh hơn tiếng chấn kia. Thứ ba là kích, tức là phát ra tiếng dội ầm ầm.
Sáu cách chấn động đó là nói về sự.
Còn về lý. Đây muốn nói vô minh và tình chấp kiên cố của người, ngay đây đều bị chấn động, lung lay tận gốc để rồi tan biến, lộ bày ra tánh thật.
Ngay khi ánh sáng này phóng ra, trong chúng hội thấy rõ suốt hết mười phương cõi nước hiện trước mắt, rồi thông làm một cõi không còn cách biệt cõi này, cõi kia nữa. Người lanh lợi thì ngay đây ngộ liền. Mười phương cõi nước thông làm một cõi, không còn ranh giới ngăn cách kia đây, không còn gì chướng ngại, tức là ngay đây cái thấy thấy suốt qua tất cả, không có gì chướng ngại. Nếu phát minh được lẽ thật đó, tức thấy suốt qua hết.
Trong Tín Tâm Minh, Tam Tổ Tăng Xán nói: “Vô tại bất tại, thập phương mục tiền”. Vô tại bất tại: Không ở đây mà không chẳng ở đây, mười phương ngay trước mắt. Mười phương ở ngay trước mắt thì không phải có ở đây hay ở kia. Tức là tâm của bậc giác ngộ thấy suốt như vậy.
Ngài Tăng Xán sanh sau Phật hơn cả ngàn năm mà cái thấy của Ngài khi giác ngộ cũng khế hợp với kinh, khế hợp với Phật không khác. Cũng để chứng minh cho lẽ thật này có đủ nơi mỗi người, chứ không phải chỉ riêng Phật thôi. Vì vậy ai tỏ ngộ đều thấy như nhau, không khác. Người tỏ ngộ rồi nghe tới đây sáng tỏ liền, không còn nghi. Tuy nhiên, cái thấy như Phật nhưng hạnh, đức chưa bằng Phật nên còn phải tu, không phải thấy như Phật là bằng Phật liền.
Thiền sư Viên Chiếu một lần lên tòa thuyết pháp, Ngài nhìn khắp đại chúng bảo: “Các ông hãy xem kìa, ánh sáng rực rỡ tốt lành đang chiếu soi khắp cả thế giới Tam thiên Đại thiên. Cả thảy trăm ức vi trần cõi nước, trăm ức biển cả, trăm ức núi Tu-di cho đến trăm ức mặt trời, mặt trăng ở bốn châu thiên hạ, cả đến những cõi Phật nhiều như vi trần đều cùng một lúc hiện ra trong ánh sáng này hết. Các ông có thấy không? Nếu thấy được thì chính các ông đang tự mình ở trong ánh sáng đó, nếu không thấy được thì cũng chớ có nói là ánh sáng tốt lành đó không có chiếu soi. Hãy tham cứu kỹ đi”.
Cũng ánh sáng chân thật này, Ngài Viên Chiếu khai thị cho đại chúng. Thiền sư Viên Chiếu cũng là một con người như chúng ta mà Ngài thấy được ánh sáng đó, tại sao mình không thấy được? Ngài bảo nếu các ông không thấy được thì cũng chớ bảo ánh sáng này không có chiếu soi. Mỗi người hãy tự xét lại xem, tại nó không chiếu soi hay mình bỏ quên nó? Sáng được chỗ này, sẽ chuyển cái mê từ vô thủy kiếp. Đó là lẽ thật ngay nơi mình.
Cái thấy của mình hiện giờ rất hạn hẹp. Nhìn bức tường là không thấy ra bên ngoài. Còn ở đây thấy suốt cả mười phương. Đã sống với cái thấy hạn hẹp của mình, mà nhiều người vẫn còn mê, bị vô minh che, ỷ lại, tự hào vào cái thấy của mình rồi sanh ngã mạn, kiêu ngạo. Tuy nghe Phật nói vậy cũng còn bị che. Có khi trong nhà hay trong chùa cũng thấy ngăn ngại với nhau nữa, đừng nói chi mười phương. Nằm hai đơn kế nhau, mà thấy chướng ngại nhau là cách biệt rồi. Khi cái ngã khởi lên che thì chung quanh chỉ thấy có cái ngã thôi. Mình tưởng chấp ngã là cao nhưng sự thật càng chấp ngã càng nhỏ lại, càng hẹp lại. Xả được nó thì càng rộng lớn, càng thênh thang, dù cho trăm ngàn cảnh vật ở trước mắt cũng thấy suốt hết.
Tất cả chúng ta ở trong cái rộng lớn thênh thang như vậy mà không chịu nhận, lại tự nhốt mình ở trong cái nhỏ hẹp để chịu khổ. Phật gọi vô minh là đúng thực tế, chứ không nói bức ép mình, thiệt thòi mình.
Trong kinh có thêm một điểm nữa: Bấy giờ trong cõi nước thông hợp tất cả đó, các vị Bồ-tát lớn đều ở ngay cõi nước của mình lắng nghe lời Phật ở cõi Ta-bà này. Sướng không?! Vẫn ngồi ngay tại cõi nước của mình mà nghe tiếng pháp từ xa, không phải đi đâu hết. Tức là phát minh ra ánh sáng này thì ở trong đó thấy nghe các trần, không rời khỏi tự tánh, không đánh mất mình, không quên mình theo vật. Nghe được vậy là đâu có bị thanh trần chi phối. Ngược lại hễ nghe cái gì dính cái đó, quên mất tự tánh là rời khỏi bổn quốc. Nghe cái gì là phải đi đến chỗ đó mà nghe, không ngồi tại chỗ nghe được là mê tự tánh.
Thiền sư Cảnh Thanh một hôm đang ngồi, có ông tăng đứng kế bên, bên ngoài trời đang mưa.
Ngài hỏi: “Bên ngoài là tiếng gì vậy?”.
Ông tăng đáp: “Tiếng mưa rơi”.
Ngài bảo: “Chúng sanh điên đảo quên mình theo vật”.
Đó là nghe mà rời khỏi bổn quốc rồi cho nên gọi là chúng sanh điên đảo, quên mình theo vật.
Ông tăng hỏi lại: “Còn Hòa thượng thì sao?”.
Ngài đáp: “Vẫn chẳng quên mình”.
Ngài nghe mà vẫn không rời cõi nước của mình, vẫn chẳng quên mình. Nghe thì nghe nhưng vẫn ngồi tại cõi nước của mình thôi. Người lanh lợi ngay đó ngộ liền.
Cho nên phóng ánh sáng đó là thuyết pháp, chớ không phải phóng ánh sáng biểu diễn thần thông. Nếu không học thiền, không thấy được ý ngoài lời, thì đọc kinh Đại thừa, nghe những đoạn như thế này chỉ nghĩ Phật thần thông cao siêu, rồi càng tưởng tượng ra thêm, không thấy được ý Phật thuyết pháp, thấy như chuyện của Phật không dính gì tới mình.
Như vậy cũng để ngầm chỉ lẽ thật sẵn có ở nơi mình, nơi tất cả mọi người, chứ không phải chỉ có trong hội Lăng Nghiêm ngày xưa thôi. Phật thuyết pháp là để chỉ bày cho chúng sanh. Bây giờ mình thấy được ý Phật là đền ơn Phật, là hợp ý Phật. Và sáng được chỗ này thì mới thấy được đời tu thật có ý nghĩa.
Nếu khéo nghiệm kỹ mới thấy một đoạn ngắn này thôi, chúng ta sống qua vô lượng kiếp cũng không hết. Đó mới là chỗ học của kinh Lăng Nghiêm, chứ không phải học phân tích chữ nghĩa.
Đừng học một chút rồi tự mãn, đóng kín cửa lòng mình, sẽ không thấy được những phương trời sâu xa rộng lớn. Đừng để cái ngã này che mờ, gạt mình. Như vậy càng học mình sẽ càng mở sáng ra nhiều vấn đề. Đây Phật chỉ ra.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo A-nan: “Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác-xoa. Những người tu hành không thành được đạo Vô thượng Bồ-đề mà chỉ thành Thanh Văn, Duyên Giác, ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương và quyến thuộc của ma, đều do chẳng biết hai thứ căn bản, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.
Thế nào là hai thứ căn bản? A-nan! Một là căn bản sanh tử từ vô thủy, chính là hiện nay ông và chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là Bồ-đề Niết-bàn nguyên thanh tịnh thể từ vô thủy, tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hiện nay hay sanh ra các duyên mà bị các duyên bỏ rơi nó. Do chúng sanh bỏ rơi tánh bản minh này, nên tuy trọn ngày động dụng mà chẳng tự biết, uổng trôi vào trong các cõi.
GIẢNG GIẢI:
Đây là Phật chỉ ra hai thứ căn bản: Cái gốc đi vào sanh tử luân hồi và cái gốc trở về Bồ-đề Niết-bàn. Nói đơn giản hơn là gốc của mê và ngộ. Trên đường tu giác ngộ phải nắm vững điểm này.
Trước, Phật trách cho cái mê lầm điên đảo của chúng sanh, từ vô thủy đến nay các thứ điên đảo, giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm Ác-xoa. Vô thủy không phải là kiếp trước, mà từ lúc bất giác ban đầu cho đến bây giờ. Điên đảo là cái thấy lộn ngược. Nghĩa là mê chân mà nhận vọng, rồi lấy vọng làm chân. Hiện tại tuy biết vậy, mình cũng còn hơi hám đó chứ chưa hết.
Bảo sống với cái chân, ai nghe cũng thích nhưng bảo làm thì không ai chịu làm vì còn mê lầm, điên đảo nhiều đời. Từ cái mê lầm, điên đảo huân thành những hạt giống nghiệp gọi là chủng tử, rồi theo những nghiệp đó mà chịu khổ, cho nên gọi là hoặc-nghiệp-khổ như một chùm Ác-xoa. Ác-xoa là một loại quả bên Ấn Độ, thường sanh ra một chùm ba trái. Như do cái hoặc mê lầm, điên đảo rồi huân thành các chủng tử nghiệp. Do huân thành những chủng tử nghiệp mới chịu khổ lâu dài trong sanh tử, thành một chùm Hoặc-Nghiệp-Khổ. Ở trong đó lại chồng thêm hoặc nữa, tức là mê lầm chồng chất sâu thêm nữa, mỗi một lần sanh ra thì chồng thêm lớp mê nữa, rồi lại tạo nghiệp thêm nữa, rồi chịu khổ nữa. Trong khổ đó chồng thêm lớp hoặc nữa, đến bây giờ không biết bao nhiêu lớp. Bây giờ biết phát tâm Bồ-đề tu hành trở về giác ngộ nhưng vẫn còn bị nó che. Nghe biết, thấy hay nhưng chưa hết lòng để làm.
Trong kinh nói rõ chúng sanh bị ba thứ hoặc, nghiệp, khổ, lẩn quẩn trong đó thành kiếp của chúng sanh. Kiếp sống của chúng sanh chúng ta là như vậy đó chứ không gì hết, đừng có tự hào. Sống như vậy có gì vui không, có ý nghĩa gì không mà cứ chìm sâu trong đó, không chịu quay đầu trở lại?! Đó là chỗ Phật thức tỉnh chúng sanh.
Phật dạy: “Những người tu hành không thành Vô thượng Bồ-đề, mà chỉ thành Thanh Văn, Duyên Giác, ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương, quyến thuộc của ma”. Người có chí tu, có tỉnh, biết tu hành, nhưng không thành tựu được Vô thượng Bồ-đề mà lại thành Thanh Văn, Duyên Giác tức cũng còn giữa đường, trong kinh Pháp Hoa gọi là hóa thành chứ không phải bảo sở. Nhưng thành Thanh Văn, Duyên Giác cũng còn tốt, xa hơn nữa là rơi vào chư Thiên, ngoại đạo, Ma vương và quyến thuộc của ma thì thật đáng tiếc vô cùng. Như vậy lỗi tại ở chỗ nào?
Đó là do không biết hai thứ căn bản mà tu tập lầm lộn. Tu giải thoát mà lấy vọng làm nhân cầu quả thật thì sao có được. Lấy nhân sanh diệt mà tu thì được quả sanh diệt, còn muốn được quả không sanh diệt thì phải lấy nhân không sanh diệt mà tu. Nhân không sanh diệt là gì? Là chân tâm. Y theo chân tâm mà tu thì bảo đảm được quả không sanh diệt. Còn y theo vọng tâm này mà tu thì bảo đảm được quả sanh diệt, rõ ràng vậy thôi. Như là nấu cát mà muốn thành cơm thật uổng công.
Đây, Phật chỉ ra hai thứ căn bản:
1. Một là căn bản sanh tử từ vô thủy. Cái gốc sanh tử từ vô thủy kiếp đến nay, tức là từ lúc mới bất giác tới bây giờ. Chính là hiện nay đây các ông và chúng sanh dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Không phải chỉ một mình Ngài A-nan thôi mà chỉ chung tất cả chúng sanh – có mình trong đó – do dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Nếu còn sống với cái này là còn sanh tử dài dài, không ra khỏi. Sao gọi là dùng tâm phan duyên làm tự tánh? Phan duyên là tâm chạy theo cảnh, chạy theo trần, luôn luôn duyên ra bên ngoài, sống hướng ngoại. Đa số chúng ta sống hướng ngoại, thành thói quen. Tức là luôn luôn nương tựa duyên mà sống, có duyên là còn, mất duyên thì chết.
Đã biết tu rồi, ngồi thiền bảo tâm đừng duyên gì hết, chịu không nổi. Tâm phải luôn luôn có duyên cái gì đó, hay duyên vào pháp tu cho có chỗ duyên. Ngồi mà không duyên chỗ nào hết thì ngủ, không biết gì hết. Nếu thật sự sáng rồi thì không duyên chỗ nào hết vẫn rõ ràng thường biết. Đó mới là chỗ sống của người giác ngộ. Không học đạo làm sao thấy được chỗ này?!
Thường sống theo duyên, nhưng duyên luôn thay đổi, không đứng yên một chỗ để cho mình bám. Như vậy tâm cũng phải chuyển theo, cho nên bị lưu chuyển trong sanh tử. Lưu chuyển tức luôn bất an, sống trong bất an là khổ. Phật gọi vô thường, khổ, vô ngã là tam pháp ấn. Đây mới là cái khổ lớn của chúng sanh, chứ không phải cái khổ thiếu ăn, thiếu mặt, đói khát. Như vậy, dùng tâm phan duyên làm tự tánh là căn bản sanh tử từ vô thủy mà chúng sanh lầm trong đó.
2. Hai là thể Bồ-đề Niết-bàn vốn sẵn thanh tịnh từ vô thủy. Tức là cái thanh tịnh này là thể sẵn từ trong tự tánh, chứ không do tạo tác.
Thể Bồ-đề Niết-bàn với căn bản sanh tử, hai cái đều từ vô thủy, đi song song với nhau. Tức là ngay trong sanh tử vẫn có sẵn cái thể thanh tịnh này, không phải rời ngoài sanh tử riêng có Bồ-đề Niết-bàn.
Nói theo kinh Kim Cang: “Sanh tử tức không phải sanh tử”. Vậy người khéo thì ngay sanh tử liền ngộ thể Bồ-đề Niết-bàn, không phải tìm đâu xa. Đó là con đường đốn giáo, Thiền tông cũng đi theo con đường này. Ngay sanh tử ngộ ra Niết-bàn, nhận ra Niết-bàn. Nhưng ít ai chịu nhận.
Cái thể nguyên sẵn thanh tịnh từ vô thủy đó là gì? Thể đó là thức tinh nguyên minh của mỗi người hiện nay đây chớ không đâu khác. Nó hay sanh ra các duyên mà lại bị các duyên bỏ sót nó. Đó là chỗ các ông phải ngộ trở lại.
Thức tinh là cái gì? Chữ tinh là tinh ròng; nguyên là ban đầu, tinh khôi chưa lẫn lộn, chưa biến đổi. Vậy thức tinh tức là cái thức còn nguyên từ ban đầu chưa bị thay đổi, chưa bị che mờ. Đó là chỉ cho cái gốc của các thức, còn nguyên ban đầu. Hay nói rõ hơn là cái gốc rõ biết sẵn có từ ban đầu, không phải cái thức phan duyên này. Cái thức phan duyên này có duyên nó mới biết, nó sống ký sanh. Còn nguyên minh là cái sẵn sáng suốt từ ban đầu. Đây mới là thể Bồ-đề Niết-bàn, cái thể này là thể chung cho các thức. Trong thể này lần lượt sanh ra các thức. Các thức sanh ra rồi dậy sóng theo duyên, quên mất chính nó. Gọi là nhận các duyên làm tự tánh. Đó là chỗ phân chia mê ngộ đi vào các cõi.
Chính vì chúng sanh bỏ rơi cái tánh bản minh sẵn đó cho nên trọn ngày động dụng mà không tự biết, uổng trôi vào các cõi, bị lưu chuyển. Mình giải theo chữ nghĩa quen rồi mắc kẹt chữ nghĩa hoài, giờ nói rõ hơn. Thức tinh nguyên minh là cái thể biết vốn sẵn ở trong tự tánh. Nó sẵn ở trong tự tánh cho nên gọi là ban đầu, nó còn tinh chứ không phải là cái theo duyên. Đây là cái biết vốn sẵn ở trong tự tánh, tức là cái biết còn nguyên thủy từ ban đầu, không phải nhờ duyên mới biết. Nhưng nó lại không giữ tự tánh lại hay sanh các duyên. Tức là nó biết tất cả, biết cái này, biết cái kia, biết cái nọ, biết đủ thứ hết. Rồi nó tự đồng hóa nó với những thứ biết kia. Buồn nó thành cái buồn, vui nó thành cái vui v.v... thành đủ thứ sai biệt. Chính vì đồng hóa với các thứ biết kia thành ra quên mất chính nó, lấy mấy cái kia làm tự tánh. Đó là bỏ rơi cái bổn minh, tức là cái vốn sáng suốt sẵn có, là cái biết sẵn có, cho nên mới thành mê. Rồi trọn ngày động dụng mà tự mê không còn tự nhớ biết, chỉ có nhớ cái biết theo duyên đó thôi. Cho nên mới trôi vào các cõi thành lưu chuyển.
Như vậy thì ngay trong sanh tử có “thể” Bồ-đề Niết-bàn rõ ràng. Nói uổng trôi vào các cõi thành lưu chuyển, chứ sự thật nó vẫn sẵn đó thôi, không trôi đi đâu hết. Cho nên mình học không để mắc kẹt chữ nghĩa. Nghe nói trôi, cho rằng nó trôi thì không phải vậy. Nó sẵn thanh tịnh từ vô thủy thì có trôi đi đâu. Nếu thật nó bị trôi theo các duyên tức là nó bị sanh diệt. Cho nên mới thấy rõ nghĩa Phật nói không sai, dùng chữ rất chính xác, “uổng trôi” thôi, không phải “thật trôi”. Tức là luống uổng mà bị trôi theo, thật đáng tiếc! Học kinh vậy mới thấy lý thú, chứ còn đọc chữ nghĩa không thì không thấy cái gì hay hết.
Như vậy, Phật muốn đánh thức chúng ta mỗi người phải tự nhớ trở lại, không phải “thật có trôi”. Vậy thì ngay đây ai ngộ được thì liền ngồi tại quê nhà. Chỗ này mỗi người cần quán sâu, quán kỹ chớ bỏ qua. Ngộ chỗ này rồi là vào thiền liền, mê chỗ này thì rời khỏi thiền. Thiền là ngay chỗ này, mê ngộ cũng ngay chỗ này, làm chúng sanh làm Phật cũng ngay chỗ này. Thành ra mình thấy được con đường Đốn giáo rõ ràng. Tất cả phải nghiền ngẫm kỹ để thấy nếu không có Phật thì ai có thể chỉ ra chỗ này cho chúng ta? Mới thấy ân Phật quá lớn đối với chúng sanh. Bây giờ được chỉ ra rồi mà không để toàn tâm thể nhận thì có phải phụ ơn lớn của Phật không? Người tu sáng được chỗ này mới cảm sâu ơn Phật, không thì chỉ nói suông ngoài miệng thôi.
Hồi xưa Phật chỉ dạy, bây giờ tôi khơi thêm một lần nữa cho tất cả, mới thấy duyên lành hy hữu. Bao giờ quý vị gặp lại được lần nữa? Vậy mà không trân quý hay sao? Đó là chỗ mình phải biết để tu. Phật đã chỉ ra hai thứ căn bản, mình quán kỹ, hiểu sâu chỗ này tu suốt đời không hết.
Đây tóm tắt lại cho tất cả nắm rõ: Chính cái biết này là mê, cũng chính cái biết này là ngộ, không có cái gì khác chen vào. Nếu có cái gì khác chen vào thành hai người sao? Trong một mình mà có hai người, thì thành Phật phải thành hai ông Phật, không có chuyện đó. Vậy mê cũng cái biết này, ngộ cũng cái biết này, làm chúng sanh cũng cái biết này, làm Phật là cũng cái biết này. Ngay đó ngộ được chưa? Không ai khác chen vào thì còn phải đợi cái gì nữa?
Cho nên người tu tới cuối cùng chuyển thức thành trí, tức chưa tu nó là thức, tu rồi nó là trí, thể đó vẫn không hai. Rõ thấu được đây rồi không còn phải sợ ai chê khen hay chỉ trích gì nữa hết. Người ta có chê cách mấy đi cũng không chạy khỏi cái biết này để mà chê. Tức là khi anh chê thì anh cũng lấy cái biết để chê cái biết, rõ ràng. Chớ còn anh là gỗ đá thì thôi khỏi chê. Mình thấy được chỗ này thì cười thôi, chê người ta mà mình cũng dính trong đó.
Nói xa hơn nữa, có những vị tu Thoại đầu nghe nói tới cái biết này liền chê. Nhưng các vị ấy quên rằng cây đá đâu có biết tham câu thoại đầu. Thứ hai, lúc tham mà không thật có biết câu thoại đầu thì lúc đó là vào hang quỷ rồi. Còn người tham thoại đầu thì phải rõ biết câu thoại đầu rõ ràng mới là sáng suốt, rồi mới thành khối nghi được. Nếu không có biết thì có nghi được không? Cái gì biết nghi? Thành ra cũng không chạy khỏi cái biết này. Rồi đến khi ngộ thì có biết không? Hiểu vậy rồi thì mình yên tâm tu tập. Cho nên, đây là chỗ mình cần phải quán sâu, cho thấu tột ngọn nguồn chứ không phải chỉ bàn luận ở trên chữ nghĩa thôi.
Khi rõ rồi mới thấy cũng một chữ “biết” này, tùy người hiểu có cạn có sâu theo trình độ căn cơ. Đừng vội nghe “biết” liền chê. Thí dụ cái biết từ người đã sáng được tâm nói ra thì không giống với cái biết của người từ tâm phân biệt mà nói. Như người từ tâm sáng nói ra thì đó là cái biết chân thật. Nhưng người nghe đem tâm phân biệt, nghĩ về cái biết đó, thì cái biết đó là cái biết vọng. Nếu đem tâm sáng suốt để hiểu được cái biết đó mới thấy giá trị của cái biết đó. Cho nên tùy trình độ, không thể gộp chung. Mới thấy chỗ này rất sâu xa không thể xem thường. Đó là phần Phật chỉ ra hai thứ căn bản.
Đây học tiếp tới đoạn “Nương cái thấy để gạn tâm”.
Đến đây Phật bảo:
CHÁNH VĂN:
A-nan! Nay ông muốn biết con đường tu Thiền định để mong ra khỏi sanh tử, Tôi lại hỏi ông”.
Liền khi ấy, Đức Như Lai đưa cánh tay sắc vàng co năm ngón lại hỏi ông A-nan: “Nay ông có thấy chăng?”.
A-nan thưa: “Thấy”.
Phật hỏi: “Ông thấy cái gì?”.
A-nan thưa: “Con thấy Như Lai đưa cánh tay, co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt của con”.
Phật nói: “Ông lấy cái gì để thấy?”.
A-nan thưa: “Con và đại chúng đều dùng mắt để thấy”.
Phật bảo A-nan: “Nay ông trả lời Tôi hỏi, Như Lai co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói, chiếu vào tâm mắt của ông thì mắt ông có thể thấy. Vậy ông lấy cái gì làm tâm để biết được nắm tay sáng chói của Tôi?”.
A-nan thưa: “Hôm nay Đức Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, con dùng tâm suy xét cùng tột để tìm kiếm, tức cái hay suy nghĩ đó con cho là tâm của con”.
GIẢNG GIẢI:
Trước Ngài A-nan thỉnh Phật chỉ dạy con đường Xa-ma-tha. Phật đã nói ra hai thứ căn bản: Căn bản sanh tử từ vô thủy và thể Bồ-đề Niết-bàn vốn sẵn thanh tịnh từ vô thủy. Đến đây, Phật nương cái thấy để gạn lại tâm đó. Người muốn biết con đường tu thiền định để ra khỏi sanh tử thì phải hết lòng nghe cho kỹ chỗ này, Phật trực tiếp khai thị.
Phật nói rõ: “Ông muốn biết con đường tu thiền định để mong ra khỏi sanh tử thì tôi hỏi ông”: Tức đây là con đường thiền định để ra khỏi sanh tử luân hồi chứ không phải tầm thường.
Đức Phật đưa cánh tay sắc vàng, co năm ngón lại rồi hỏi A-nan: “Nay ông thấy chăng?” Đây là lần thứ nhất, Phật trực tiếp khai thị cho Ngài A-nan.
Ngài A-nan đáp: “Con thấy cánh tay của Phật đưa lên, co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm và mắt của con”. Phật mới bảo: “Như vậy thì ông lấy cái gì để thấy?”. Tức là ngay khi thấy cánh tay Phật đưa lên rồi co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt đó, ông ở đâu mà chưa ngộ? Phật hỏi ông lấy cái gì thấy là Phật khai thị lần thứ hai.
Rồi ngay khi nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt ông, vậy ông lấy gì làm tâm để biết. Đó là khai thị lần thứ ba. Ba lần khai thị nhưng Ngài A-nan vẫn không ngộ.
Học kinh mình phải chú ý kỹ vậy đó chứ không giống như đọc truyện. Đây là Phật khai thị tánh thấy. Nếu mình nhanh nhẹn thì ngay ba lần đó thì tỏ ngộ rồi. Cho thấy Đức Phật hết sức từ bi, ba lần tận tình khai thị nhưng tiếc thay, Ngài A-nan vẫn theo cái tâm phan duyên mà hiểu, đành để lầm qua hết cả ba cơ hội. Người khéo, bén nhạy thì ngay lần đầu khi Phật đưa cánh tay sắc vàng lên rồi co năm ngón lại, hỏi ông thấy chăng. Ngay đó nhận ra cái đang hiện hữu nơi chính mình thấy nắm tay liền. Phật giơ lên, nắm tay co lại thì tay Phật có co có động, còn cái đang hiện hữu nơi chính mình nó có trước khi cánh tay Phật đưa lên nữa, không phải đợi cánh tay Phật đưa lên mới có. Ngay đó ngộ liền, tức là thấy suốt qua cả cánh tay và cái nắm tay của Phật, không phải chỉ dừng ở trên cánh tay và nắm tay sáng chói đó thôi. Thiền là chỗ đó!
Thiền sư Thiệu Long khi còn đang tham học với Thiền sư Viên Ngộ. Một hôm, Thiệu Long đi vào trong thất của Thiền sư Viên Ngộ. Thiền sư Viên Ngộ dẫn kinh Lăng Nghiêm này nhưng dẫn đoạn sau: “Khi thấy cái thấy thì cái thấy này chẳng phải là cái thấy ấy, cái thấy này còn lìa cái thấy ấy, cái thấy ấy không thể theo kịp nó”. Ngay đó, Thiền sư Viên Ngộ liền đưa cái nắm tay lên hỏi: “Ông thấy chăng?”. Dẫn kinh Lăng Nghiêm rồi thực tế đưa nắm tay lên hỏi liền.
Thiệu Long thưa: “Dạ thấy”. Đúng, giơ nắm tay lên là thấy.
Thiền sư Viên Ngộ bảo: “Trên đầu lại để thêm đầu”.
Ngay đó Thiệu Long bỗng nhiên khế ngộ.
Thiền sư Viên Ngộ hỏi: “Ông thấy cái gì?”.
Thiệu Long thưa: “Tre dày chẳng ngại nước chảy qua”. Tre dày tức là tre đan dày khít nhưng cũng không ngăn được dòng nước chảy qua.
Ngay đó Thiền sư Viên Ngộ liền hứa khả.
Giơ nắm tay lên hỏi “Thấy không?”, đáp “Thấy”; đó là bình thường của mỗi người. Nhưng Ngài nói trên đầu để thêm đầu. Đó là Ngài đã khai thị cho mình cái thấy này đã có trước khi đưa nắm tay lên, không phải đợi khi đưa nắm tay lên mới có. Đợi khi đưa nắm tay lên mới gọi là có thấy tức là đầu thêm đầu. Khi nói vậy, Ngài Thiệu Long liền khế ngộ. Nhưng Thiền sư Viên Ngộ trắc nghiệm lại coi ông thấy thật hay không. Hỏi: “Ông thấy cái gì?”, Thiệu Long đáp: “Tre dày chẳng ngại nước chảy qua”. Nghĩa là thấy suốt qua nắm tay của thầy nữa, cũng như tre dày nhưng nước vẫn chảy suốt qua không mắc kẹt tre dày.
Ở đây, Ngài A-nan còn bị trệ ngại nơi nắm tay và con mắt nên Phật hỏi, Ngài cũng đáp thấy nhưng chưa ngộ. Đó là chỗ lầm qua thứ nhất.
Phật khai thị cho ông lần nữa, hỏi ông lấy cái gì để thấy. Đó là đi thẳng vào cái gốc thấy kia, nó đang hiện hữu ở nơi ông đó, đừng để nắm tay và con mắt gạt ông. Hỏi ông lấy cái gì thấy, nói theo nhà thiền là đưa cơm tới miệng. Nhưng Ngài A-nan vẫn còn kẹt theo cái bên ngoài chưa tỉnh ngộ được. Thật đáng tiếc, lầm qua lần thứ hai.
Đoạn trước, Phật đã nói người chết con mắt cũng vẫn còn kia, sao không thấy? Bây giờ Ngài A-nan lại đáp con mắt thấy nữa. Mới đó liền quên. Cho thấy tập khí mê lầm xưa nay còn ăn sâu quá.
Các Thiền sư ngày xưa biết bệnh đó cho nên các Ngài cứ đem cái bẫy của hai bên, cái bẫy của thức tình ra gạn nói. Ai lanh lợi có thể vượt qua được một lần, hai lần nhưng tới lần sau cũng bị rớt trở lại. Làm gì làm cũng rơi vào trong tình thức, cũng mắc kẹt theo cái tập khí của thức tình vì sống theo tình thức quen rồi. Đó là điểm nhắc cho cả đại chúng cần phải tu tập thường xuyên tỉnh giác trong từng cử chỉ, từng hành động để lấy lại sức tỉnh giác kịp thời luôn luôn, không khéo là bị tình thức chen vào.
Lần thứ ba, Phật gạn lại: “Mắt ông có thể thấy đó. Vậy thì lấy cái gì làm tâm để biết?”.
Chẳng lẽ ngoài cái thấy lại còn riêng có cái tâm biết nào nữa hay sao? Đó là chỗ Phật gạn lại, người lanh lợi ngay đó thấy được ý của Phật.
Chỗ này có hai vấn đề: Thứ nhất, mình phải thấy rõ không lẽ là ngoài cái thấy lại riêng có cái tâm biết nữa hay sao. Phật đã có lần gạn lại không lẽ có cái biết ở ngoài cái thấy, vừa biết tức là thấy rồi. Thứ hai, đánh thức ông A-nan trở lại, cũng vừa là cái bẫy để gạn lọc tình thức ra. Không khéo thì ngoài cái thấy có thêm cái biết. Đó là cái bẫy hai bên.
Ở đây, Ngài A-nan cũng theo chỗ phân biệt của tình thức theo lời sanh hiểu cho nên lầm qua lần thứ ba. Ngài đáp là con lấy cái hay suy nghĩ làm tâm, thành ra ngoài cái thấy lại có thêm cái tâm hay suy nghĩ nữa. Ngay thấy tức là biết rồi, đâu phải thêm cái tâm nào khác nữa. Giơ tay lên hỏi thấy không, thấy là biết rồi, không phải ngoài cái thấy này có thêm cái biết nữa. Như vậy đúng là bị gạt mà không hay.
Bảy lần trước Phật gạn hỏi tâm thì Ngài A-nan chấp theo cái sở suy là chỗ suy nghĩ, còn bây giờ chấp cái năng suy tức là cái hay nghĩ. Như vậy là vẫn còn kẹt trong cái vòng năng sở, chưa ra khỏi suy nghĩ đối đãi. Mê là chỗ đó, lầm là chỗ đó. Khi nghe kỹ lời đáp của Ngài A-nan sẽ thấy rõ liền: “Con dùng cái tâm suy xét cùng tột để tìm kiếm”. Tức là không phải ngay đó trực tiếp thấy mà Ngài dùng cái tâm suy xét để tìm kiếm. Như vậy rõ ràng lúc đó Ngài bỏ qua cái đang hiện tiền ở trước mắt đây mà suy xét. Suy xét tức là hướng về đâu đó, chớ không phải trực tiếp ngay đây đối diện. Nếu cái đang hiện tiền đây thì thấy tức biết rồi, còn suy xét gì nữa? Đó là còn bị một lớp mê che mờ, chỗ này rất tế nhị.
Đem tâm suy xét rồi chấp cái hay suy nghĩ kia, tức là trong một thể mà chia thành hai tâm rồi. Một cái tâm suy xét, một cái tâm hay suy nghĩ. Lấy cái tâm hay suy xét này chấp cái tâm hay suy nghĩ kia làm tâm. Như vậy trong một thể mà chia thành hai, lầm là ở chỗ đó.
Đa số người cũng bị lầm chỗ này mà không hay. Học kinh Lăng Nghiêm mới thấy Đức Phật đã chỉ cái tâm chân vọng cho mình rất kỹ. Ai thật tâm học cho kỹ thì sẽ có những bước tiến rất sâu trên đường giác ngộ tự tâm. Hòa thượng đọc kinh Lăng Nghiêm mà có cảm ngộ, và chính tôi hồi xưa cũng vậy, lúc đầu tu thiền nhờ đọc kinh Lăng Nghiêm mà có một sức cảm kích rất mạnh. Tuy chưa sáng được tâm mà sức cảm ngầm ngầm, như có một cái gì đó đánh dội lại bên trong. Cho nên học kỹ thì có rất nhiều lợi ích cho mình.
Như vậy để thấy chỗ lầm của Ngài A-nan, Phật khai thị ba lần, Ngài A-nan cũng bỏ qua cả ba cơ hội.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “Sai rồi, A-nan! Cái này chẳng phải là tâm của ông”.
Ngài A-nan giật mình, rời chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Cái này chẳng phải là tâm của con, vậy nên gọi nó là cái gì?”.
Đức Phật bảo A-nan: “Cái này là tưởng tướng hư vọng của tiền trần, làm mê lầm chân tánh của ông. Do ông từ vô thủy đến nay nhận giặc làm con bỏ mất tánh nguyên thường nên phải chịu luân chuyển”.
GIẢNG GIẢI:
Đây là Phật chỉ rõ ra tâm nào chân tâm nào vọng. Mọi người đều cho cái hay suy nghĩ là tâm mình thôi, ngoài cái này đâu còn biết cái gì khác nữa, Ngài A-nan cũng vậy. Phật bảo sai rồi - chữ Hán là “đốt” - chữ này giống như một tiếng quát mạnh, nói thẳng cái này không phải là tâm của ông. Lúc này Ngài A-nan cũng giống như trời sập. Xưa nay đinh ninh cái hay suy nghĩ này là tâm mình, ngoài cái này đâu còn cái gì khác nữa. Bây giờ Phật bảo không phải tâm ông thì hết còn biết gì nữa, không thể tưởng tượng nổi. Nếu cái này không phải là tâm của con thì con là cái gì? Cho nên Ngài giật mình, hết sức kinh ngạc, hết còn làm chủ được nữa, đứng dậy hỏi liền: “Cái này không phải là tâm của con, vậy con phải gọi nó là cái gì đây, thành ra con không có tâm sao?!”. Sợ mất tâm. Đến đây coi như lung lay tận gốc rễ.
Phật nói rõ đó chỉ là cái tưởng, là cái bóng của tiền trần. Tiền trần gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc. Còn cái suy nghĩ ngầm ngầm ở trong đầu, không đối diện trực tiếp với tiền trần mà đối với pháp trần. Pháp tức là những bóng dáng của tiền trần lưu lại bên trong, tưởng bám vào đó suy nghĩ, tức là cái tưởng về bóng dáng của tiền trần thôi, không có thực.
Thí dụ bây giờ nghe pháp, tối ngồi thiền nhớ lại cảnh nghe pháp đây, thì đó là bóng dáng, không phải thật. Chính cái này làm mê mất chân tánh của ông mà ông không hay biết, lại còn ân cần nhận nó làm của quý của mình, cho là tâm của mình. Phật gọi “có khác nào nhận giặc làm con”. Nó phá tan sự nghiệp của mình.
Đó là điên đảo mà không hay biết. Cái đó khiến cho ông từ vô thủy đến nay bỏ mất tánh nguyên thường-Nguyên thường tức là cái sẵn có, thường hằng nơi ông, không có gì làm thay đổi được-Do đó đành phải chịu luân hồi, không có ngày nào ra. Đó là Phật chỉ ra chỗ lầm.
Đây là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta. Những người mê, tức những ai còn đang lang thang trong kiếp luân hồi, phải ngay đó thức tỉnh trở lại, đừng nhận cái “hay suy nghĩ” đó. Nó chỉ là tâm tưởng bám theo những tướng hư vọng của tiền trần chứ không có thật thể của nó. Ỷ lại vào nó cho nó là tâm mình là nhân của sanh tử luân hồi.
Nếu ông nhận nó làm tâm của mình, thì khi không có những bóng dáng của tiền trần để nương, lúc đó sẽ thành không có ông hay sao? Ông sống trong hư vọng mà không biết. Đó không phải nhận giặc làm con là gì? Gọi là bỏ mất tánh nguyên thường đó! Cái tánh nguyên thường, nói đơn giản là cái biết xưa nay sẵn như vậy mà ông tự quên mất để nhận theo cái bóng dáng kia. Đó là mê mất chân tánh.
Người khéo một chút thì ngay cái tâm hay suy nghĩ xét tìm, soi trở lại coi “cái đang xét tìm” đó là cái gì, không bám theo cái hay suy nghĩ kia. Đó là chỗ tham thiền. Phật Tổ sẽ hiện ra ngay chỗ đó!
Ngài Kỉnh Huyền hỏi Thiền sư Duyên Quán: “Thế nào là đạo tràng vô tướng?”. Thiền sư Duyên Quán cũng khéo gạn lại, chỉ tượng Bồ-tát Quán Âm bảo: “Cái này là do ông Ngô Xử Sĩ vẽ”. Ngài Kỉnh Huyền liền suy nghĩ, tức là trong đầu đã hiện ra tướng đó, suy nghĩ theo tướng đó. Ngay đó Thiền sư Duyên Quán liền nói: “Cái này có tướng còn cái kia không tướng”. Là đánh thức cho ông trở lại. Ngay đó ông ngộ trở lại thì xong.
Ở đây, Phật nói cái này là tưởng tướng hư vọng của tiền trần, nó làm mê chân tánh của ông. Do ông từ vô thủy đến nay nhận giặc làm con, bỏ mất cái tánh nguyên thường nên phải luân chuyển. Vậy mà Ngài A-nan vẫn chưa chịu dừng lại, còn tiếp nữa.
CHÁNH VĂN:
Ngài A-nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, con là em yêu của Phật, vì tâm mến Phật khiến con xuất gia. Tâm con chẳng riêng gì cúng dường Đức Như Lai cho đến trải khắp hằng sa cõi nước phụng thờ chư Phật và thiện tri thức, phát tâm đại dõng mãnh làm tất cả các pháp sự khó làm con đều dùng tâm này. Dẫu cho con hủy báng chánh pháp bỏ mất căn lành cũng nhân tâm này. Nếu Phật phát minh nó chẳng phải tâm, hóa ra con không có tâm, đồng như cây đất, vì ngoài cái hiểu biết này ra lại không còn gì nữa. Tại sao Đức Như Lai bảo cái ấy chẳng phải là tâm? Con thật kinh sợ và trong đại chúng đây đều nghi ngờ. Cúi mong Đấng Đại Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ”.
GIẢNG GIẢI:
Ngài A-nan vẫn còn chấp cái tâm này. Ngài nói con từ xưa tới giờ chỉ dùng cái tâm này, chứ đâu còn cái gì khác nữa. Mến Phật đi xuất gia con cũng dùng tâm này, cúng dường mười phương chư Phật, phát tâm dõng mãnh làm các pháp sự con cũng dùng tâm này. Cho đến nếu phỉ báng chánh pháp, làm các việc ác con cũng đem tâm này mà làm. Ngoài đó đâu còn gì khác nữa mà Phật bảo không phải tâm, thành ra con không có tâm, con như cây đá sao?
Phật đã hết lòng chỉ rồi mà Ngài chưa chịu buông. Bởi vì người chưa ngộ thì chỉ biết có tâm này thôi, Phật bảo nó không phải tâm thành ra thấy mình như cây đá, thấy mình không có tâm. Tức nghi rơi vào đoạn diệt, không còn gì hết. Như vậy là chấp nhận sống phải có tâm, không thể không có tâm. Nhưng lại nhận cái tâm bị lệ thuộc theo trần kia, sợ nó mất đi. Mê là chỗ đó. Nếu Ngài nhận rõ nó thật là tâm mình thì ai nói gì nói, làm sao sợ mất được! Sợ mất là nói lên nó không phải thật rồi. Mê là ở chỗ đó mà không thấy. Cái biết-sợ-nó-mất thì đâu có mất. Cái mất là bóng. Chính chỗ này là chỗ cần phải tỉnh trở lại, mà chưa chịu tỉnh.
Có vị tăng hỏi Thiền sư Huệ Hải: “Thế nào là pháp có tông chỉ?”.
Thiền sư Huệ Hải đáp: “Tùy chỗ lập kia liền có các nghĩa. Ngài Văn-thù ở nơi gốc vô trụ mà lập tất cả pháp”.
Ông tăng hỏi: “Vậy thì nó chẳng đồng với thái hư chăng?”.
Từ gốc vô trụ, không trụ gì hết, vậy thì nó có đồng với thái hư, hư không không?
Ngài Huệ Hải bảo: “Ngươi sợ đồng với thái hư chăng?”.
Ông tăng thưa: “Dạ sợ”.
Thiền sư Huệ Hải bảo: “Chính cái biết sợ đó là chẳng đồng với thái hư”.
Ông nói ông sợ đồng với thái hư, đồng với hư không nhưng cái biết sợ đó là không đồng. Đó là chỗ mình phải tỉnh trở lại.
Ở đây cũng vậy, Ngài A-nan sợ mất tâm, nhưng còn biết sợ thì vẫn chưa mất.
Phật khai thị lại cho ông thấy rõ.
CHÁNH VĂN:
Bấy giờ Đức Thế Tôn sắp chỉ dạy ông A-nan và đại chúng, khiến cho tâm vào Vô sanh pháp nhẫn, nên ở trên tòa sư tử xoa đầu ông A-nan mà bảo rằng: “Như Lai thường nói: “Các pháp sanh ra chỉ từ tâm hiện”. Tất cả nhân quả thế giới vi trần, nhân nơi tâm mà thành thể. Này A-nan! Như tất cả sự vật có ra trên thế giới,
trong ấy từ ngọn cỏ, lá cây, sợi dây và cái gút, tìm nguồn cội của nó đều có thể tánh, dầu cho hư không cũng có tên gọi và tướng mạo, huống chi Tâm Thanh Tịnh Sáng Suốt Nhiệm Mầu này là tâm tánh của tất cả mà tự không thể tánh hay sao?
Nếu ông chấp chặt cái phân biệt hiểu biết quyết cho là tâm, thì tâm này khi rời tất cả các trần sắc, hương vị, xúc riêng có toàn tánh. Như nay ông nương nơi nghe pháp của Tôi, đây ắt là nhân nơi tiếng mà có phân biệt. Dầu cho dứt hết tất cả cái thấy nghe hiểu biết, chỉ giữ cái thầm thầm lặng lẽ bên trong thì vẫn còn là việc phân biệt bóng dáng của pháp trần.
Chẳng phải Tôi bảo ông chấp là chẳng phải tâm, nhưng ông đối với tâm này phải chín chắn xét cho kỹ. Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt, tức thật là tâm ông. Nếu tánh phân biệt rời tiền trần không có thật thể thì đó là việc bóng dáng phân biệt của tiền trần. Trần thì chẳng phải thường trụ, nếu khi nó biến diệt thì
tâm này đồng với lông rùa sừng thỏ, ắt Pháp thân của ông cũng đồng với đoạn diệt. Vậy ông lấy cái gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?”.
GIẢNG GIẢI:
Ở trước, Ngài A-nan chấp cái hay suy nghĩ làm tâm, bị Phật quở mới cầu Phật chỉ dạy tâm thật. Đức Phật chỉ dạy con đường khiến thể nhập vào Vô sanh pháp nhẫn, là nhận rõ các pháp không sanh không diệt, tâm an trụ bất động, không bị cảnh chuyển. Nếu vào được Vô sanh pháp nhẫn thì đối với các pháp, tâm không động.
Trước khi chỉ rõ ra, Phật nhắc lại Ngài từng nói các pháp sanh ra đều từ tâm hiện, nghĩa là không có pháp nào ngoài tâm mà có hết. Như vậy tâm là gốc của tất cả pháp thì đâu thể nói không có tâm được. Ngài dẫn: “Trong thế giới này, tất cả nhân quả lớn như thế giới, nhỏ như vi trần đều nhân nơi tâm mà thành thể”. Tức là nhân nơi tâm mà nhận biết có “thể” của nó. Thể tánh có thể nhận biết được, không phải hoàn toàn không. Ông không phải sợ không có tâm. Phật nói điểm này cho Ngài A-nan hết sợ.
Và trước khi nói, Phật ở trên tòa sư tử xoa đầu ông A-nan ngầm an ủi đừng sợ không có tâm, rồi Phật chỉ ra từng bước, từng bước rõ ràng.
Phật bảo: “Lớn như thế giới, nhỏ như vi trần, cho đến những sự vật như lá cây, cọng cỏ đều có thể tánh, dầu cho hư không cũng có tên gọi, có tướng mạo, huống chi tâm thanh tịnh sáng suốt này là gốc của tất cả những thứ đó mà lại không có hay sao? Cho nên ông đừng sợ không có tâm. Nhưng ông phải hết sức sáng suốt, chín chắn để nhận rõ cái gì là tâm thật. Đó mới là quan trọng.
Hồi nãy, ông nói con dù làm lành, làm dữ, làm tội, làm phước cũng dùng cái tâm này thôi, ngoài cái này không có gì nữa. Vậy là ông quyết cho cái tâm phân biệt hiểu biết này là tâm ông. Nếu nó thật là tâm ông thì nó phải luôn luôn không mất dù khi có các trần ở trước, hay là không có các trần ở trước vẫn không mất tánh biết. Nếu nó chỉ nương theo các trần, không có trần, nó không biết thì đâu còn là tâm ông nữa”. Đến đây Phật không bác là không có tâm nhưng khuyên phải chín chắn nhận cho kỹ. Nếu thật là tâm ông thì dù có trần hay không trần, nó cũng phải vẫn không mất cái tánh biết của nó.
Phật nói: “Như ông nghe pháp đây, là ông nhân nơi âm thanh mà có phân biệt hiểu biết. Đó là cái tâm phan duyên. Dù cho ông có thể dứt hết những cái phân biệt hiểu biết đối với các trần bên ngoài, tức là năm trần ở bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, nhưng ông còn giữ cái thầm thầm phân biệt bên trong thì đó cũng là sự phân biệt những bóng dáng tiền trần lưu lại, chứ chưa phải nó riêng tự phân biệt”. Nó cũng còn lệ thuộc vô bóng dáng của pháp trần, chứ chưa phải tự nó biết. Chỗ này không khéo cũng còn bị lầm. Nó không phân biệt trực tiếp với các trần bên ngoài nhưng còn phân biệt những bóng dáng của trần lưu lại bên trong, tức còn gián tiếp. Như vậy, nếu mất những bóng dáng kia thì nó hết phân biệt, hết biết. Thành ra nó chưa phải thật là tâm thanh tịnh nhiệm mầu sáng suốt của ông.
Còn cái tướng bóng dáng là có chỗ bị người dòm thấy. Giống như Quốc sư Huệ Trung hai lần đầu do còn bóng dáng trong đầu nên ông Đại Nhĩ Tam Tạng thấy. Đến lần thứ ba ông Đại Nhĩ Tam Tạng không thấy mới đúng thật là tâm của Quốc sư. Chính chỗ ông Đại Nhĩ Tam Tạng không thấy cũng là chỗ quỷ thần không thấy được. Đó mới thật là tâm ông.
Đây, Phật chỉ ra chỗ thấy chân và vọng. Phật bảo: “Tôi không bảo ông chấp nó không phải tâm ông, nhưng ông phải chín chắn xét kỹ. Nếu rời tiền trần mà nó vẫn có tánh phân biệt thì đó mới thật là tâm ông. Còn nếu cái tánh phân biệt này rời tiền trần không có thật thể thì đó chỉ là việc bóng dáng phân biệt của tiền trần. Trần thì không thường trụ, khi có khi không. Nếu khi nó biến diệt thì tâm này của ông đồng với lông rùa, sừng thỏ rồi. Lúc đó Pháp thân của ông cũng đồng đoạn diệt hay sao? Vậy thì ông lấy gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn”.
Như vậy, Phật không bác bỏ tâm phân biệt, bởi vì nó không rời ngoài tâm thể mà riêng có được. Cũng giống như sóng và nước. Khi nổi sóng lên thì nó giống như có sanh có diệt, nhưng sóng cũng không rời khỏi nước mà riêng có sóng. Tâm phân biệt này cũng không rời tâm thể mà riêng có được. Nhưng khi nó phân biệt rồi, nó quên mất cái thể chính của nó. Mê là ở chỗ đó.
Nếu thật là tâm của ông thì nó phải tự biết, không phải nhờ tiền trần mới biết. Nhờ tiền trần mới biết tức là nhờ cái khác mới biết, thành ra nó không có thật thể rồi. Như vậy tức là sống nhờ, thành ra của ai, không phải của ông. Nếu thật là ông, tại sao phải nhờ cái khác? Trần thì lúc có lúc không, có khi có đối trước, có khi không đối trước, nó không phải thường trụ. Vậy nếu tâm ông hoàn toàn lệ thuộc nơi trần, thì sẽ biến đổi theo trần, diệt mất theo trần, trần diệt thì tâm ông cũng thành diệt theo hay sao? Lúc đó ông cũng đồng như lông rùa, sừng thỏ rồi, vậy Pháp thân ông cũng thành đoạn diệt luôn sao?! Nếu như vậy, khi ông chứng Vô sanh pháp nhẫn thì cái gì chứng? Đó là chỗ lầm mê của ông và chúng sanh từ xưa nay mà không hay biết. Phật chỉ rất rõ ràng chân, vọng. Bao nhiêu đó mình hiểu rõ rồi thì hết còn lầm chân vọng.
Như thông thường nói mặt trăng thứ hai, nhưng sự thật thì không có mặt trăng thứ hai. Bởi vì mặt trăng thì vẫn là một, không có mặt trăng thứ hai nào cả. Mặt trăng thứ hai chỉ là bóng thôi, không có thật thể. Cũng vậy, tâm thì vẫn một tâm, không có tâm vọng. Nói tâm vọng là tùy theo ngôn ngữ thế gian mà tạm nói có tâm vọng. Nếu y theo thật tướng mà nói thì tâm là một thôi, không có vọng. Vọng tức là không có thật thể, không thật thể tức là không có cái thứ hai. Hiểu vậy thì thấy rõ ngay vọng tức là chân. Ngay vọng ngộ vọng tức là chân, mê chân tức là vọng, không có cái thứ hai chen vào.
Học rồi mới thấy Phật hết sức từ bi, chỉ rõ hết tình, nhưng nếu người học trên ngôn ngữ văn tự thì không bao giờ biết tột đến như thế. Đây phải từ tâm chứng nói ra mới nói rõ được như vậy.
Tóm lại, người học cần phải nhận rõ chân và vọng vốn không có hai thể. Ngộ vọng tức là chân, mê chân tức là vọng, không phải bỏ đây tìm kia. Cũng như đừng nghe nói “rời tiền trần riêng có toàn tánh” tức là rời tiền trần riêng có tánh phân biệt mới là tâm ông. Nghe nói như vậy liền bỏ cái đang hiện tiền ở đây, lo tưởng về một cái nào đó thì cũng lầm!
Ngoài cái tánh phân biệt này mà riêng có cái toàn tánh nào nữa thì cái đó là của ai chứ không phải của ông. Gọi là lầm theo ngôn ngữ. Nói theo nhà thiền là theo lời mà sanh hiểu.
Một hôm, Thiền sư Trúc Am Thủy Khê cùng với cư sĩ Trì Nhất luận về đoạn này “rời tiền trần mà riêng có toàn tánh”. Thiền sư Trúc Am nói: “Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt thì đó là căn bản sanh tử”. Cư sĩ Trì Nhất nghe vậy hoảng hốt, nói: “Nếu vậy Phật nói lầm hay sao?!”. Trong này, Phật nói rõ rời tiền trần có tánh phân biệt mới thật là tâm ông. Thiền sư Trúc Am nói rời tiền trần mà có tánh phân biệt đó là căn bản sanh tử. Ông hoảng hốt hỏi lại, nếu vậy thành ra Phật nói lầm sao? Thiền sư Trúc Am bảo: “Phật thì không lầm rồi. Hiện giờ cái tâm đối diện hỏi han của cư sĩ ở đâu?”. Ngay đó ông liền sáng ra. Tức cốt yếu Ngài nói với ông đây chứ không phải nói với Phật hồi xưa. Phật thì không có lầm, chỉ ông lầm thôi. Bây giờ hiện tại ở đây - cái tâm ông đang đối diện, hỏi han đây nó đang ở đâu? Cái tâm ông đang đối diện hỏi han ở đây có thật ở ngoài tiền trần mà có hay không? Nếu thật ông đang ở đây rồi thì sao ông lại hoảng hốt? Nếu ông không có ở đây tức rời tiền trần, đây là đi vào sanh tử rồi.
Đây là chỗ người học phải thật thấy, thật ngộ ngay chỗ này. Không phải nghe nói vậy, rồi bỏ cái tâm này đi tìm cái tâm ở ngoài tiền trần. Bỏ cái tâm này để đi tìm cái tâm ở đâu đâu, không khéo lầm thêm một lớp nữa. Bỏ lớp lầm này, qua lớp lầm kia. Khéo thì ngay nơi tâm phân biệt trần đây, lìa trần thì ngộ liền, không phải tìm cái tâm nào khác nữa. Chỗ đó phải hết sức chín chắn.
Hay như Ngài A-nan thưa: “Cúi mong Đức Đại Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ này”. Ngay cái tâm chưa ngộ đó, ngộ trở lại nó là xong thôi, đừng tìm tâm nào khác nữa.
Chỗ này mới thấy Phật hết sức từ bi chỉ kỹ càng cho mình nhận rõ tâm này, thể nhập trong đó, thì vào Vô sanh pháp nhẫn không khó. Tức là ngay trần mà lìa trần thì đâu có sanh. Đó là con đường vào Vô sanh pháp nhẫn.
CHÁNH VĂN:
Bấy giờ ông A-nan và đại chúng im lặng ngơ ngác.
Phật bảo ông A-nan: “Tất cả người tu hành trong thế gian, hiện tiền tuy được “Cửu thứ đại định”, mà chẳng được lậu tận thành A-la-hán, đều do chấp vọng tưởng sanh tử này lầm cho là chân thật. Thế nên, nay ông tuy được học rộng nghe nhiều mà chẳng thành Thánh quả”.
Ông A-nan nghe xong buồn tủi khóc lóc, năm vóc gieo xuống đất, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng: “Con từ khi phát tâm xuất gia theo Phật, chỉ ỷ lại vào oai thần của Phật, thường tự suy nghĩ, con không phải nhọc nhằn tu tập, mà cho rằng Như Lai sẽ ban cho con Chánh định. Nhưng chẳng biết thân tâm vốn chẳng thay nhau, mất đi bản tâm của con, tuy thân xuất gia mà tâm chẳng vào đạo, thí như chàng cùng tử bỏ cha trốn đi. Ngày nay mới biết, tuy được nghe nhiều học rộng, nếu chẳng tu tập thì cũng đồng với người chưa nghe không khác, giống như người nói ăn, trọn chẳng no bụng.
Bạch Thế Tôn! Nay chúng con bị hai thứ chướng trói buộc, do chẳng biết tâm tánh vắng lặng thường hằng. Cúi mong Đức Như Lai thương xót kẻ nghèo khổ này phát khởi tâm nhiệm mầu sáng suốt để mở bày con mắt đạo cho chúng con”.
GIẢNG GIẢI:
Ở trước, Ngài A-nan chấp cái phân biệt hiểu biết theo tiền trần làm tâm, bị Phật quở cái đó không phải. Nếu thật tâm ông thì rời tiền trần vẫn có tánh phân biệt, còn nếu rời tiền trần không còn có tánh phân biệt nữa thì tâm ông cũng giống như lông rùa, sừng thỏ sao! Tức nó mất rồi. Vậy thì Pháp thân ông cũng đồng diệt, lấy gì mà tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?
Đến đây, Ngài A-nan cũng như đại chúng im lặng, ngơ ngác không biết phải hiểu thế nào. Lâu nay, đa số người thế gian cũng đều chấp cái tâm suy nghĩ phân biệt là tâm mình. Bây giờ Phật nói không phải tâm mình thì chới với, ngơ ngác, không biết phải hiểu thế nào vì ngoài cái này đâu còn cái gì để gọi là tâm mình nữa. Đại chúng ở đây là chỉ cho số đông, không phải toàn thể đều như vậy, vì có những vị như Bồ-tát Văn-thù đâu có nghĩ như vậy.
Đây Phật chỉ ra người tu hành trong thế gian chấp theo tâm vọng tưởng sanh diệt để tu thì dù có chứng đến chín bậc định cũng chưa thể sạch hết lậu thành A-la-hán, tức chưa thể giải thoát sanh tử hoàn toàn. Bởi vì nhận vọng làm chân thì làm sao hết vọng được!?
Lấy tâm sanh diệt làm nhân tu thì chỉ được quả sanh diệt; nhân-quả đi với nhau. Chỗ này người có tâm tu quyết cầu giải thoát cần phải nhận định cho thật kỹ, thật rõ ràng để tu cho đúng đường. Nhân phải khế hợp với quả mới bảo đảm không nghi ngờ. Còn nhân khác với quả thì phải coi chừng!
Dù được Diệt tận định, tức chín bậc định nhưng chưa thật được Niết-bàn, do chưa sạch hết lậu chỉ vì dùng cái diệt để dứt cái sanh. Đem diệt dứt sanh tức cũng nằm trong sanh diệt, chưa đạt được chân thể Niết-bàn hiện tiền. Chỗ đó không khéo chưa thật được A-la-hán mà tưởng mình A-la-hán, nên cần phải hiểu kỹ để không lầm.
Trong Luận Tỳ-bà-sa có câu chuyện một vị Tỳ-kheo tu chứng Diệt tận định, tức cũng được chín bậc định. Tứ thiền, tứ không là tám, Diệt tận định nữa là chín bậc định. Vào một buổi sáng, vị Tỳ-kheo này sắp đi khất thực, trời bỗng mưa to, nước đổ ào ào không đi được. Để khỏi phí thời giờ rỗng suông vô ích, vị Tỳ-kheo khởi niệm: “Mưa to, không đi khất thực được, ở tại chỗ không làm gì, nhân đây lập nguyện nhập định, khi nào hết mưa sẽ xuất định”. Người nhập Diệt tận định, trước khi nhập định, khởi ý nhập tới đâu thì tới đó mới xuất định. Hôm đó, trời mưa suốt luôn cả tháng, thầy nhập định luôn cả tháng. Khi hết mưa, vị Tỳ-kheo này mới xuất định, sau đó chết luôn. Vậy cho thấy được bậc định thứ chín, cũng chưa hẳn thành A-la-hán như câu chuyện này.
Nghe đến đây, Ngài A-nan bật khóc. Vì sao khóc? Buồn tủi cho mình lâu nay được gần gũi với Phật, lại là em yêu của Phật nữa nên ỷ lại nơi Phật, rồi suy nghĩ không phải nhọc nhằn tu tập gì cho nhiều cũng sẽ được Như Lai ban cho Chánh định mà không biết thân tâm của Phật với thân tâm của mình không thể thay thế cho nhau được. Lo nghe nhiều, học rộng đến giờ này vẫn chưa chứng đạo nên gọi là “thân xuất gia mà tâm chẳng vào đạo”. Đối với mình thì bỏ nhà xuất gia vào chùa tức vào đạo. Còn đây, chân thật chứng quả giải thoát mới gọi là vào đạo. Bây giờ được Phật ân cần chỉ dạy tới lui mà vẫn chưa được sáng tỏ tâm chân thật, Ngài A-nan buồn tủi khóc là như vậy.
Hãy nghe kỹ lời của Ngài: “Con tự suy nghĩ con không phải nhọc nhằn tu tập mà cho rằng Như Lai sẽ ban cho con chánh định, nhưng không biết rằng thân tâm vốn chẳng có thể thay thế cho nhau được. Cho nên bỏ mất bản tâm của con. Tuy thân xuất gia mà tâm chẳng vào đạo giống như chàng cùng tử bỏ cha trốn đi, ngày nay mới biết tuy được nghe nhiều, học rộng mà nếu chẳng tu tập thì cũng đồng như người chưa nghe không khác. Giống như người nói ăn mà trọn chẳng no bụng”. Đó là điều cảnh tỉnh cho mình. Một lần nữa để nhắc cho tất cả chúng ta đừng tự hào ỷ lại những thứ hiểu biết của mình mà không lo tu, không chịu thực hành cho sâu, đến ngày cuối đời ân hận cũng không cứu được mình.
Trong nhà thiền, có Ngài Hương Nghiêm - Trí Nhàn ở trong hội Bá Trượng với Ngài Quy Sơn, Sư rất thông minh, lanh lợi, học rộng, hiểu nhiều, nghe một biết mười, hỏi một câu đáp mười câu. Lanh lợi vậy nhưng không tỏ ngộ. Khi Ngài Bá Trượng tịch, qua nương với Ngài Quy Sơn cũng bị tri thức lanh lợi ngăn che. Ngài Quy Sơn muốn giúp, mới gạn lại:
- Ông ở chỗ tiên sư rất lanh lợi, hỏi một đáp mười. Bây giờ tôi có một câu, tôi hỏi ông trả lời thử coi: “Trước khi cha mẹ chưa sanh, cái gì là bộ mặt thật của ông?”.
Câu này không có trong sách vở. Sư trả lời không được, về phòng lục lạo mấy chồng sách ra để kiếm câu trả lời cũng kiếm không ra. Sư tủi lòng, khóc giống như Ngài A-nan, rồi đến từ giã Ngài Quy Sơn đi. Nghĩ tri thức hiểu biết không dùng được, Sư đốt sách hết, làm ông tăng thường cơm cháo qua ngày. Sư đi đến chỗ di tích Quốc sư Huệ Trung tham thiền cho đến khi tâm thuần thục, một hôm đang quét sân quét trúng hòn sỏi văng vào bụi tre, vang lên một tiếng, liền tỏ ngộ.
Đó là để cảnh tỉnh cho người, đừng ỷ lại vào tri thức thông minh. Đây Ngài A-nan cũng vậy, đến đây Ngài không ỷ lại vào tri thức bên ngoài đó nữa, tự trách mình bị hai thứ chướng trói buộc cho nên không nhận ra tâm tánh vắng lặng thường hằng của mình. Hai chướng tức là phiền não chướng, và sở tri chướng. Đa số người cũng bị hai cái chướng này mà không nhận ra chân tánh. Phiền não chướng là những thứ tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ, v.v... Những thứ phiền não đó làm tâm bất an, rối loạn hoài cho nên mờ tâm tánh sáng suốt thường hằng vắng lặng. Đó là cái chướng về sự. Sở tri chướng là những thứ hiểu biết nhiều che mờ làm tối thêm. Đó gọi là chướng về lý, không sáng tỏ được lý thật.
Bây giờ Ngài cầu Đức Phật thương xót, chỉ dạy cho cho kẻ nghèo khổ này. Nghèo khổ đây không phải là không có cơm ăn, áo mặc mà là quên mất của báu nơi chính mình cho nên nhờ Phật thương xót mở bày mắt đạo. Đến đây, Ngài A-nan đã biết mình còn có tâm nhiệm mầu sáng suốt. Lúc trước chỉ biết có tâm năng suy là tâm của mình thôi. Cũng có tiến bộ nhưng chưa nhận ra. Đa số chúng ta hiện nay cũng đồng cảnh ngộ. Vậy mình cũng không đến nỗi mặc cảm.
Ở đây tuy Ngài nói thương xót cho kẻ nghèo khổ, nhưng xét trên lý, có thật nghèo không? Có của báu mà không biết xài rồi tự than nghèo chứ không phải là thật nghèo. Trong nhà thiền có ông tăng Thanh Nhuệ đến Tào Sơn thưa: “Con nghèo cùng, xin thầy cứu vớt cho”.
Ngài Tào Sơn bảo: “Xà-lê Nhuệ! Hãy đến gần đây!”.
Ông nghe vậy cũng thật thà đi đến trước, Ngài Tào Sơn bảo: “Ba chén rượu nhà họ Bạch ở Tuyền Châu đã uống xong rồi lại còn nói chưa dính môi”. Uống xong ba chén rượu rồi, nói chưa dính môi tức là nói dối. Ngài bảo ông nói ông nghèo cùng, xin cứu vớt đó là nói dối! Kêu ông đến đây, ông biết đi đến thì ông đâu có nghèo. Đó là cảnh tỉnh.
Đây cũng vậy, Ngài A-nan tuy nói nghèo như vậy nhưng sự thật cũng không hẳn là nghèo. Phật bắt đầu khai thị.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy từ tướng chữ “vạn” ở trên ngực của Đức Như Lai phóng ra hào quang báu, hào quang ấy rực rỡ có trăm ngàn màu sắc sáng khắp một lúc cả mười phương thế giới của Phật như số vi trần, rót khắp trên đảnh của các Đức Như Lai ở các cõi nước trong mười phương, soi đến ông A-nan và cả đại chúng. Phật bảo ông A-nan rằng: “Nay Tôi vì ông dựng lập pháp tràng lớn, cũng khiến cho tất cả chúng sanh trong mười phương được tâm tánh nhiệm mầu sâu kín, trong sạch sáng suốt và con mắt đạo thanh tịnh”.
GIẢNG GIẢI:
Đây là nói lên những điều thù thắng, bây giờ dựng lập pháp tràng lớn không phải chuyện thường. Tất cả phải hết sức chú ý! Trước khi khai thị Phật lại phóng quang nói pháp, đây là nói pháp không lời. Ở trước Phật phóng quang từ diện môn, tức từ nơi khuôn mặt. Đó là để hiển bày căn tánh hiện tiền đã lộ bày ánh sáng chân thật ở trong đó, ngay trước mặt đây là đầy đủ. Đến đây Phật phóng quang từ tướng chữ “vạn” ở trên ngực. Nói tướng chữ “vạn” chứ không phải là chữ, đó là một trong 32 tướng tốt. Ngay tướng chữ “vạn” ở ngực phóng hào quang ra soi khắp mười phương cõi nước. Đó là hiển bày cả hông ngực ra chỉ cho hết, không còn giấu giếm gì nữa. Hào quang này soi khắp cả mười phương cõi Phật, rót vào đảnh của chư Phật, xong quay về soi đến Ngài A-nan và cả đại chúng.
Đây ngầm chỉ cho cái tâm này thông đến cả mười phương chư Phật. Rót vào đảnh của mười phương chư Phật tức khế hợp với tâm của mười phương chư Phật, và cũng suốt đến cả chúng sanh. Người tâm thuần thục, ngay khi thấy hào quang, liền ngộ suốt được tâm này. Ngộ suốt tâm này là thầm thông được với chư Phật, mà cũng thông được thấu suốt tất cả chúng sanh nữa. Thấy tất cả chúng sanh đều có đủ hết. Chính vì vậy, Đức Phật khi thành đạo rồi, Ngài thốt lên: “Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ của Như Lai”. Rõ ràng như vậy, không riêng một ai. Vậy thì còn lo gì mình không có tâm? Nếu có mất cái tâm sanh diệt chợt có, chợt không - bị Phật bác này - cũng không đáng kể gì. Mất cái tâm chợt có chợt không, nhưng còn cái tâm thông suốt như vậy thì có gì đâu thiệt thòi, cho nên không phải lo sợ nữa. Bởi vậy mỗi người cần khéo nhận trở lại tâm này, đó là chỗ Phật phóng quang, ân cần ban ơn cho mình.
Hào quang quay về chạm đến Ngài A-nan, chạm đến cả đại chúng, mà không biết trong đó Phật có thâu lại chưa, nếu chưa, mà có ai chạm cái đó thì hay. Không nghe Phật nói thâu lại, chắc còn! Vậy thì ai chạm được ánh sáng này tức bảo đảm cười vui cả ngày không hết. Đây ngầm chỉ mười phương chư Phật, cũng đồng thuyết pháp như thế, không nghi ngờ gì nữa. Phóng quang xong, Phật mới lên tiếng, tức từ chỗ không lời, bây giờ bắt đầu có lời.
Phật lên tiếng: “Nay tôi sẽ vì ông dựng lập pháp tràng lớn, cũng khiến cho chúng sanh tất cả mười phương được tâm tánh nhiệm mầu sâu kín, trong sạch sáng suốt, được con mắt đạo thanh tịnh”.
Dựng lập pháp tràng lớn, là nêu cao cờ pháp để xua dẹp tà chấp mê lầm, khiến cho trở về với chánh pháp Như Lai, và cũng để hiển bày chân tánh, dẹp trừ vọng thức.
Đức Phật sắp hiển bày chân tánh để xua dẹp vọng thức cho đại chúng nên gọi là nêu cao cờ pháp. Đồng thời khiến cho tất cả chúng sanh nhận được tâm tánh nhiệm mầu sâu kín, trong sạch sáng suốt và con mắt đạo thanh tịnh. Tâm tánh nhiệm mầu sâu kín tức diệu tâm vi mật, nó nhiệm mầu mà lại sâu kín vượt ngoài sự suy nghĩ phân biệt đối đãi. Chỗ đó khó đem tình thức mà hiểu biết được, Phật phóng quang để biểu hiện, người lanh lợi thì ngay đó nhận ra liền. Nhưng vì chúng sanh theo tình mê lâu đời, chưa nhận ra được cho nên bắt buộc Phật phải phương tiện mà nói. Do Phật phương tiện mà nói nên mình cũng phải thấy vượt qua những lời nói đó, đừng chết trên những lời nói đó. Bởi từ chỗ không thể nói, bắt buộc phải nói cho nên ngôn ngữ không nói đến được trong đây, gọi là nhiệm-mầu-sâu-kín! Nếu ngôn ngữ nói được thì đâu có sâu kín. Nhưng cũng chính vì chỗ nhiệm mầu sâu kín, ngôn ngữ không thể nói đến mà không ai có thể dòm lén được, cũng không ai xuyên tạc được.
Cho nên, nếu mình nhận ra rồi thì không còn sợ ai chê bai, chuyện chê bai không thành vấn đề. Đâu phải người ta chê cái này không có liền thành không có, bảo là không thật liền thành không thật; không phải vậy, không ai xuyên tạc được nó. Bởi vì ngôn ngữ không thể nói tới được nó. Người thấy được nó rồi thì hết còn lo sợ cho nên niềm tin vững chắc, đưa mình vào đại định Thủ Lăng Nghiêm, tức là đại định rốt ráo kiên cố không có gì phá hoại được. Đây mới chính là nguồn chân thật của tất cả chúng sanh, là lẽ sống của tất cả nhưng mà mọi người đều bỏ quên. Chính vì mê chỗ đó mà Phật phải khai thị, có của báu mà bỏ quên rồi than nghèo khổ, chạy sang Phật cầu. Đó là tâm trạng của chúng sanh. Bởi vậy, khi thấy được chỗ này rồi thì chính là mở được con mắt đạo thanh tịnh, mới gọi là người mắt sáng.
Như vậy, kiểm lại mắt chúng ta hiện nay tối hay sáng? Chúng ta có buồn tủi cho mình giống như Ngài A-nan không? Nhiều khi tự hào mình sáng suốt, trí tuệ nhưng sự thật còn đang là người mắt tối, chưa phải là người mắt sáng. Bởi vậy tất cả cần phải chú tâm nghe kỹ lời Phật khai thị để mình mở mắt sáng.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “A-nan! Trước ông đã trả lời với Tôi là thấy được nắm tay sáng chói. Như vậy nắm tay sáng chói này nhân đâu mà có? Vì sao thành nắm tay? Ông đem cái gì thấy?”.
A-nan thưa: “Do toàn thân của Phật như vàng Diêm-phù-đàn chói ngời dường núi báu, từ thanh tịnh sanh ra nên có hào quang sáng chói. Con thật là dùng mắt xem thấy năm ngón tay của Phật co lại, đưa cho người xem nên có tướng nắm tay.”
GIẢNG GIẢI:
Phật nhắc lại: “Trước ông đã trả lời với tôi là thấy được nắm tay sáng chói. Như vậy nắm tay sáng chói nhân đâu mà có? Vì sao thành nắm tay? Ông đem cái gì thấy?” Đây là chỗ nhấn mạnh cho mình phải chú ý mà sáng tỏ.
Ngài A-nan trả lời: “Toàn thân của Phật giống như vàng Diêm-phù-đàn chói ngời, đó là từ công đức thanh tịnh sanh ra. Con dùng mắt xem thấy năm ngón tay Phật, sở dĩ có nắm tay là từ bàn tay năm ngón của Phật co lại mới thành nắm tay”. Như vậy, trước tiên Phật dùng bàn tay và nắm tay để so sánh với con mắt và cái thấy. Phật nói tiếp.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo A-nan: “Hôm nay Như Lai thật bảo ông: Những người có trí cốt yếu là nhờ do thí dụ mà được khai ngộ. A-nan! Thí như nắm tay của Tôi, nếu như không có bàn tay Tôi thì chẳng thành nắm tay. Nếu không có mắt của ông thì không thành cái thấy của ông. Lấy con mắt mà so sánh với cái lý nắm tay của Tôi thì nghĩa ấy có đồng với nhau chăng?”.
Ngài A-nan thưa: “Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy. Nếu không có con mắt của con, thì cái thấy của con không thành. Lấy con mắt của con đem so sánh với nắm tay của Đức Như Lai thì nghĩa ấy đồng nhau”.
GIẢNG GIẢI:
Ngài A-nan đại diện cho chúng sanh, đều lầm như vậy. Trước Phật dùng bàn tay và nắm tay để so sánh, có bàn tay nắm lại mới thành nắm tay. Vậy nắm tay có từ bàn tay, không có bàn tay tức không có nắm tay, để so sánh con mắt với cái thấy. “Lấy con mắt”, đây nói đơn giản chứ đầy đủ nghĩa là lấy cái thấy nơi con mắt của ông. Ông nói ông dùng mắt thấy, như vậy cái thấy từ con mắt, nếu không con mắt tức không có thấy, giống như không có bàn tay thì không có nắm tay. Vậy có đồng nhau không? Phật so sánh để gạn lại.
Khi hỏi nghĩa ấy có đồng nhau chăng thì đó là cái bẫy mà không hay! Thường thường chúng ta hay mắc kẹt theo ngôn ngữ, thấy Phật gợi ý dễ quá, chấp nhận là bị gạt. Mình học đạo, nhất là học thiền phải sáng suốt chỗ đó. Tuy nghe hỏi đồng chăng nhưng phải thấy được ý sâu, chứ không phải nghe sao nói vậy.
Trước Phật đã bác cái thấy không phải con mắt rồi. Đây nhắc lại nắm tay sáng chói nhân đâu mà có? Vì sao thành có nắm tay và đem cái gì thấy? Hỏi đem cái gì thấy là có chân có vọng trong đó. Người không khéo là mắc kẹt, lầm ngay.
Ngài A-nan đáp: “Do toàn thân của Phật như sắc vàng Diêm-phù-đàn sáng chói cho nên nắm tay cũng theo đó mà có sáng chói. Nhưng sở dĩ có tướng sáng chói như vậy là từ đức tướng thanh tịnh của Phật mà được tướng thù thắng này”.
Kinh nói thân tướng Phật như sắc vàng (kim sắc), màu vàng đây là vàng Diêm-phù-đàn. Theo truyền thuyết Ấn Độ thì ở phía nam núi Tu-di có cây Diêm-phù-đàn, rừng cây này ở gần bên dòng sông. Khi trái cây chín rụng xuống dòng sông, chất nước của trái này chảy dính vào cát thì cát biến thành vàng. Vàng này sáng chói rực cho nên nó quý hơn các thứ vàng khác. Ví thân Phật sắc vàng chói như vậy. Do từ thân sắc vàng chói đó, nắm tay cũng sắc vàng chói, mà sở dĩ có như vậy là do đức tướng thanh tịnh của Phật mà có ra. Ngài A-nan cũng thấy được điều đó.
Thứ hai, sở dĩ có nắm tay là do bàn tay co lại mà thành. Thứ ba, thấy được tướng nắm tay sáng chói là do dùng mắt mà xem thấy.
Theo cái hiểu phổ thông là như vậy, ai cũng hiểu vậy. Song trước kia, Phật đã quở không phải con mắt thấy rồi nhưng Ngài A-nan chưa ngộ cho nên Phật hỏi lại chỗ đó để chỉ dạy cho thấu tột. Vì đây là chỗ khó nói, vượt ngoài ngôn ngữ và những hình tướng vật chất cho nên Phật tạm mượn thí dụ để gợi ý. Nhớ là dùng thí dụ để gợi ý thôi, người nghe phải nhân đó mà đạt được ý.
Nghĩa là người trí có thể nhân thí dụ mà thấy được chỗ ngầm chỉ đó cho nên trong nhà thiền gọi là “ngựa hay thấy bóng roi liền chạy” không phải đợi đánh vào da; đợi đánh vào da mới chạy là ngựa dở. Đây cũng vậy, vừa nghe nói thí dụ đó là đạt ý kia liền, không phải chấp vào ngôn ngữ. Đó là người giỏi. Phật nói người trí nhân thí dụ mà được khai ngộ là vậy.
Ở đây, Phật ví dụ:
1. Bàn tay: có bàn tay thì mới có nắm tay. Tức là từ bàn tay mà có nắm tay, không bàn tay thì không thành nắm tay. Đó là cái thứ nhất.
2. Từ con mắt mà thành thấy. Như vậy, không con mắt thì không thành cái thấy. Đem so sánh với cái dụ nắm tay của Phật. Nắm tay từ bàn tay mà có, không bàn tay thì không có nắm tay. Cũng vậy, từ con mắt mà được xem thấy, vậy không con mắt thì không có cái thấy, cũng giống như là không bàn tay thì không có nắm tay. Hai cái này có đồng nhau không? Khi hỏi có đồng nhau không? Không khéo theo lời mà đáp thì rơi vào bẫy liền. Nhưng Ngài A-nan chưa thấy được ý sâu đó, Ngài cũng theo lời mà đáp “dạ đồng nhau” thì lọt bẫy ngay.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “A-nan! Ông nói đồng nhau nghĩa ấy không đúng. Vì cớ sao? Như người không bàn tay thì nắm tay hẳn là không rồi. Còn người không con mắt chẳng phải họ hoàn toàn không có cái thấy. Bởi tại sao? Ông thử đi ra đường hỏi những người mù mắt xem: “Anh có thấy gì chăng?”, các người mù kia ắt sẽ đáp với ông: “Nay tôi đối trước mắt chỉ thấy tối đen không thấy gì khác”. Dùng nghĩa ấy để quán xét thì tiền trần tự tối chứ cái thấy đâu có thiếu kém”.
GIẢNG GIẢI:
Chỗ này cần phải thấy chín chắn trở lại, không thể thấy hời hợt được. Không bàn tay thì không có nắm tay, chuyện đó rõ rồi. Nhưng không con mắt thì không hẳn không có cái thấy. Đây là chỗ vi tế thế gian ít thấy. Phật ngầm chỉ cái thấy không thuộc con mắt, chớ lầm chỗ này.
Phật dẫn chứng, ông ra đường hỏi người mù có thấy gì không, người mù nói trước mắt thấy tối đen. Như vậy, tuy mù vẫn còn biết thấy tối đen, không phải không có thấy. Ngài A-nan vẫn chưa tỉnh ngộ nên chưa chịu.
CHÁNH VĂN:
A-nan thưa: “Những người mù trước mắt tối đen thì đâu thể gọi là thấy được!” Đức Phật bảo A-nan: “Những người mù không mắt chỉ thấy tối đen cùng với người có mắt sáng ở trong nhà tối thì hai cái tối đó khác nhau hay không khác?”.
Ngài A-nan bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Người mắt sáng ở trong chỗ tối cùng với người mù mắt thấy tối, hai cái tối đó so sánh không từng khác”.
Phật bảo A-nan: “Nếu người mù mắt thấy phía trước hoàn toàn tối đen bỗng nhiên được sáng mắt trở lại thì đối với tiền trần liền thấy các sắc tướng thì gọi là mắt thấy. Người sáng mắt ở trong nhà tối toàn thấy tối ở trước bỗng dưng được đèn sáng thì cũng đối với tiền trần thấy các sắc tướng thì đáng lý cũng gọi là đèn thấy. Nếu đèn thấy thì đèn hay có cái thấy tự chẳng gọi là đèn. Lại nữa, nếu đèn thấy thì đâu quan hệ gì đến việc của ông. Thế nên, phải biết đèn hay hiển sắc còn cái thấy là mắt chẳng phải đèn. Rồi mắt lại hay hiển sắc, như thế cái tánh thấy là tâm chứ chẳng phải mắt”.
GIẢNG GIẢI:
Đây là chỗ Phật khai thị. Phật từ chỗ không lời mà nói nên lời, nhưng mình phải hiểu được cái ý ngoài lời. Ngài A-nan cho rằng người mù, tức không có mắt làm sao thấy được. Đa số người thế gian đều hiểu vậy. Cho nên người mù thấy trước mắt tối đen cho là thấy, Ngài không chịu. Bởi vì con mắt hư rồi, tức không có mắt sao gọi là thấy? Ngài vẫn kẹt cái thấy ở con mắt, chưa thoát ra được.
Phật thí dụ: “Người mù ở trước mắt thấy tối đen, người mắt sáng ở trong nhà tối cũng thấy tối đen thì hai chỗ thấy có giống nhau không?”. Ngài A-nan nói cũng giống. Nghĩa là cùng một trần tướng tối ở trước. Như vậy, nếu người mù được chữa lành, mắt sáng trở lại nhìn thấy các sắc tướng ở trước đó thì gọi là mắt thấy. So với người mắt sáng ở trong nhà tối, được đem đèn vào cũng liền thấy các sắc tướng ở trước, vậy là đèn thấy hay sao? Ngay đó thấy được chỗ lầm chưa?
Phật bảo: “Nếu đèn thấy thì đâu có dính gì với ông, vì đèn thấy chứ không phải ông thấy. Cái đèn ở ngoài, không can hệ gì tới ông. Song đèn chỉ là để soi sáng cho ông thấy vật, còn thấy là ở mắt không phải nơi đèn”. Ông chớ dính kẹt nơi con mắt rồi tự đồng hóa cái thấy vào đó, quên mất chính mình. Đó là cái điên đảo mê lầm, là con trưởng giả kho báu đầy nhà mà bỏ cha lang thang xứ người, xin làm công kiếm ăn mỗi ngày.
Tánh thấy đã sẵn tự thấy rồi mà quên mất nó để đồng hóa với trần kia cho nên thấy lúc có lúc không, có trần thì thấy, không trần không thấy. Thành ra cái thấy không lìa khỏi trần, tức không lìa khỏi sắc mà có thể thấy. Đó gọi là quên mất tự tánh thấy vốn sẵn tự có, không phải nhờ trần mới có. Cái thấy này không thuộc nơi căn.
Phật khai thị chỗ này là hết sức từ bi, đâu còn giấu gì nữa mà vẫn chưa ngộ. Nếu học kỹ chỗ này thì nhận ra tâm tánh rõ ràng. Chân vọng Phật chỉ rất rõ. Tối sáng là thuộc về trần, căn khi đủ khi thiếu, không can hệ gì đến tánh thấy. Không phải do trần hoặc tối hoặc sáng mà thành ra tánh thấy hoặc có hoặc không. Cũng không do căn khi đủ khi thiếu mà tánh thấy cũng khi có khi không, mà phải thấy rõ trần tự tối tự sáng, căn tự đủ tự thiếu nhưng tánh thấy thường hằng. Đó mới thấy trở lại gốc.
Cho đến thân mình còn mất cũng không dính gì đến tánh thấy. Như vậy còn gì nữa mà chưa ngộ?! Người tỏ ngộ được chỗ này mới thấy lòng từ của Phật quá lớn! Nếu không có Phật, làm sao chúng ta biết được chỗ này, ai nói ra cho mình? Đa số người thế gian chỉ thấy theo trần mà nói, không nói được chỗ này.
Người đời đều kẹt cái thấy ở con mắt, nên nói người mù không mắt thì không thấy. Chính vì vậy mà đa số người thấy không ra khỏi sắc trần, không sắc trần là không thấy. Nghe cũng không ra khỏi âm thanh. Tức là sống lẩn quẩn ở trong căn và trần, quên mất chính mình, không được tự do tự tại gì hết.
Đức Phật phát minh ra cái thấy là ở nơi tâm, không can hệ gì con mắt khiến cho người ngộ trở lại, vượt khỏi căn trần, không lệ thuộc vào căn trần, tự soi sáng trở lại thì ngay đó giải thoát!
Hiểu chỗ này rồi thì sáng tỏ được câu kệ Tổ Bá Trượng từng khai thị: “Linh quang riêng chiếu, vượt khỏi căn trần. Thể bày chân thường, chẳng kẹt văn tự. Tâm tánh không nhiễm, vốn tự viên thành. Chỉ lìa vọng duyên, tức như như Phật”. Mỗi người đều có cái linh quang sáng ngời, riêng chiếu một mình, không mắc kẹt nơi căn trần; tự nó sáng không phải do căn do trần mới sáng. Thể nó hiển bày, vốn sẵn chân thật thường có, không phải khi có khi không, nó không mắc kẹt trong văn tự chữ nghĩa. Đừng sợ người ta chê thành không có. Tâm tánh vốn thanh tịnh. Người khéo chỉ lìa vọng duyên bên ngoài tức là Phật như như chứ không gì hết. Mới thấy Phật, Tổ nói khéo hợp với nhau, đó chính là con đường trở về nguồn chân rõ ràng trước mắt không tìm đâu xa. Tới đây:
CHÁNH VĂN:
Ông A-nan và đại chúng tuy được nghe lời ấy mà miệng vẫn lặng thinh, tâm chưa khai ngộ, còn mong Đức Như Lai dùng từ âm chỉ dạy thêm nên chắp tay lắng lòng, trông chờ Phật thương xót dạy bảo.
GIẢNG GIẢI:
Nghe đến đây rồi nhưng Ngài A-nan và đại chúng đều im lặng, cái im lặng này khác với cái im lặng ở trước. Ở trước do Phật bác tâm năng suy, không còn chỗ nào bám nữa, Ngài A-nan im lặng mà ngơ ngác, chới với. Đây cũng im lặng mà trong cái im lặng này có một chút hiểu được lời Phật khai thị: Không hẳn thấy do có mắt, không mắt không thấy. Cũng không hẳn thấy sáng mới thành thấy, thấy tối không thành thấy. Nhưng chỉ hiểu qua lời của Phật, còn cái tâm thấy như thế nào thì chưa sáng tỏ, chưa ngộ, chưa phát được Vô sư trí. Do đó, cùng đại chúng chắp tay lắng lòng chờ nghe Phật khai thị thêm. Chỗ này mình học cũng hiểu qua lời của Phật thôi chứ chưa phải tự mình sáng tỏ được cái của chính mình, cần có bước tiến thêm. Phật khai thị thêm:
CHÁNH VĂN:
Khi ấy, Đức Thế Tôn duỗi cánh tay đâu-la-miên sáng ngời, xòe năm ngón tay bảo ông A-nan và cả đại chúng rằng: “Khi Tôi mới thành đạo ở Lộc viên, vì ông A-nhã-đa, năm vị Tỳ-kheo v.v... và bốn chúng nói: “Tất cả chúng sanh chẳng thành Bồ-đề và A-la-hán đều do khách trần phiền não làm mê lầm”. Các ông khi ấy nhân đâu được ngộ nay thành tựu chứng quả Thánh?”.
GIẢNG GIẢI:
Tay Phật có màng lưới mịn mỏng như lụa đâu-la-miên nên gọi cánh tay đâu-la-miên. Do có màng lưới mịn cho nên bụi không dính được vào da của Phật. Đây cũng là một trong ba mươi hai tướng tốt.
Khi Phật giơ cánh tay xòe năm ngón ra trước đại chúng rõ ràng thì ai thấy được cái gì? Ngay lúc Phật xòe năm ngón tay trước đại chúng, tất cả đại chúng nhìn lên có ai không thấy chăng? Vậy tại sao không ngộ? Phật xòe năm ngón tay trước đại chúng khai thị rõ ràng, không giấu giếm gì hết. Người tâm thuần thục thì ngay đó liền tỏ ngộ ý chỉ Như Lai sáng ngời ngay trước mắt, không thiếu gì cả.
Nhưng chưa ngộ, Phật mới gạn hỏi về nghĩa khách trần ở nơi nhóm năm ông Kiều-trần-như (có chỗ gọi là Kiều-trần-na). Chính nơi khách trần phiền não che mờ, làm mê lầm cho nên chúng sanh không thể thành Bồ-đề và A-la-hán, không ngộ được chân tánh. Bây giờ phải rõ khách trần phiền não để không lầm nó nữa. Ngài khai thị nghĩa này để cho mọi người tỏ ngộ cái chân thật.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy, ông Kiều-trần-na đứng dậy bạch Phật: “Nay con là hàng trưởng lão, đối với trong đại chúng riêng được tên là hiểu (giải), do con ngộ hai chữ khách trần mà được thành Thánh quả. Bạch Đức Thế Tôn! Ví như người khách đi đường vào nghỉ nhờ ở một quán trọ, hoặc ngủ, hoặc ăn. Ăn ngủ xong, sửa sang hành lý lên đường, chẳng ở lại nữa. Nếu thật là người chủ thì tự không đi đâu. Như thế mà suy xét, chẳng dừng trụ gọi là khách, còn dừng trụ là chủ. Do cái chẳng dừng trụ nên có nghĩa là khách.
GIẢNG GIẢI:
Chỗ này nghe kỹ sẽ sáng tỏ ý Phật. Trong nhóm năm người lúc Phật thuyết Tứ đế, Ngài Kiều-trần-na (hay Kiều-trần-như) lãnh hội trước, nên được tên là giải – tức A-nhã-đa – và thường gọi Ngài là A-nhã Kiều-trần-như. Ngài Kiều-trần-như cũng là người cao tuổi hạ nhất trong chúng.
Năm vị: A-nhã Kiều-trần-như, Thập-lực Ca-diếp – thuộc họ mẹ của Đức Phật; Ngài Mã-thắng, người đọc bài kệ khiến Ngài Xá-lợi-phất cảm ngộ; Ngài Bạt-đề dịch là Tiểu Hiền; Ngài Câu-luật tức Ma-ha-nam – ba vị này thuộc họ cha của Đức Thế Tôn. Khi Đức Phật còn là Thái tử vượt thành xuất gia, Vua Tịnh Phạn cho năm vị này đi theo để làm bạn tu. Phật tu khổ hạnh, mấy vị này tu theo. Sau thấy Phật bỏ khổ hạnh, họ tưởng Phật thối tâm, bèn bỏ đi qua Lộc Uyển.
Đây Ngài Kiều-trần-na trình bày chỗ ngộ về nghĩa khách trần. Như người khách là người đi đường, lỡ đường vào nghỉ nơi quán trọ. Nghỉ qua đêm rồi ra đi, còn người chủ quán thì ở tại chỗ không đi đâu. Đó là nghĩa chủ khách.
CHÁNH VĂN:
Như mưa mới tạnh, mặt trời lên trong trẻo ánh sáng soi vào kẽ hở, trong hư không hiện rõ các tướng bụi bặm. Tánh chất của bụi thì dao động, còn hư không thường lặng lẽ. Như thế nên con suy nghĩ: Lắng lặng gọi là hư không, còn dao động gọi là bụi bặm. Do cái dao động đó nên có nghĩa là trần.
GIẢNG GIẢI:
Trên là nghĩa về khách, đây là nghĩa về trần. Thí dụ như nhà có kẽ hở, trời mưa mới tạnh, buổi sáng thấy mặt trời chiếu qua kẽ hở trong vách thì trong đó có những bụi lăng xăng. Lăng xăng là dao động, còn hư không thì vắng lặng, không động. Như vậy bụi gọi là trần, trần thì có dao động; còn hư không thì không động, là vắng lặng.
Hợp lại khách và trần: Khách thì có đến có đi, không dừng trụ. Trái lại, chủ thì thường ở tại chỗ không đi đâu. Trần thì dao động, không yên, hư không thì yên lặng không dao động. Nắm vững hai nghĩa này mới thấy chỗ Phật khai thị.
CHÁNH VĂN:
Phật nói: “Đúng thế!”.
Khi ấy Đức Như Lai ở trong đại chúng co năm ngón tay lại xòe nắm, xòe nắm và hỏi ông A-nan rằng: “Nay ông thấy cái gì?”.
Ông A-nan thưa: “Con thấy bàn tay trăm báu của Đức Như Lai ở trong chúng xòe ra nắm lại”.
Phật bảo A-nan: “Ông thấy cánh tay của Tôi ở trong chúng xòe nắm là cái tay Tôi có xòe có nắm hay cái thấy của ông có xòe có nắm?”.
A-nan bạch Phật: “Con thấy cái tay của Như Lai tự có xòe, có nắm chớ chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm”.
Phật nói: “Cái nào động, cái nào tịnh?”.
A-nan thưa: “Tay của Phật không dừng, tánh thấy của con còn không có tịnh thì đâu có gì là động?”.
Phật nói: “Đúng như vậy”.
GIẢNG GIẢI:
Chỗ này ai lanh lợi là ngộ rồi. Khi Ngài Kiều-trần-na trình bày nghĩa khách và trần thì Phật xác định là đúng như vậy. Kế đó, Đức Phật ở trước chúng giơ cái tay lên xòe ra nắm lại, xòe ra nắm lại để khai thị cho tất cả cái gì là khách, cái gì là chủ, cái gì động, cái gì không động. “Cái xòe ra nắm lại là có động, còn cái thấy của ông thì nó có xòe nắm theo đó không?”.
Ngài A-nan cũng đáp rõ: “Con thấy bàn tay của Phật đối trong chúng có xòe nắm, tánh thấy của con thì chẳng có xòe nắm”. Đến đây, Ngài A-nan biết được tánh thấy không có xòe nắm theo nắm tay. Chính vì nó không có xòe nắm nó mới thấy được cái tay xòe nắm. Chứ nếu tay xòe ra nó cũng xòe ra theo thì nó thành ra cái tay xòe rồi. Hoặc tay nắm lại nó thành nắm lại, thì nó đâu thấy cái tay nắm, tay xòe được.
Người đời mê là ở chỗ cái thấy của mình có xòe có nắm theo nắm tay, cho nên bị trần lôi cuốn, làm dao động. Sự thật, cái thấy là tự tánh thấy, không thuộc ở nắm tay. Đó là chỗ mình phải hiểu.
Phật gạn lại cái nào động, cái nào tịnh? Ngài A-nan do có hiểu nên đáp tay Phật có động có dừng, còn tánh thấy của con vốn không có tịnh nữa nói gì là động. Tịnh là đối với động, khi động hết thì tịnh. Còn tánh thấy vượt qua cả tướng động tịnh, tức là xưa nay nó chỉ vậy thôi, nó chưa từng động nói gì tịnh. Như vậy thì đâu có theo cái động tịnh mà thành sanh diệt. Ngay đó ngộ trở lại thì thấy được đường về, rõ cái gì là chủ, cái gì khách. Cái có động có tịnh là thuộc về khách, cái không động tịnh là chủ thường hằng.
Ở đây, Phật lấy nắm tay để thuyết pháp. Trong nhà thiền, các Thiền sư khi giơ phất tử, giơ ngón tay cũng là thuyết pháp. Vậy, rõ ràng cái gì cũng là Phật pháp hết. Thấy được chỗ đó mới không còn lầm theo ngôn ngữ bên ngoài nữa. Cho thấy những pháp thế gian nếu vào tay Đức Phật cũng thành Phật pháp. Người tâm sáng, cái gì cũng thành Phật pháp được. Còn người tâm chưa sáng hoặc tâm phiền não hoặc tâm tà thì có khi Phật pháp lại thấy thành thế gian pháp, hoặc Phật pháp thấy thành tà pháp.
Đối với Thiền sư, pháp ăn trộm cũng nói thành Phật pháp được. Đức Phật khi thấy người nông dân gieo mạ thì pháp làm ruộng cũng nói thành Phật pháp được. Vậy thì tại sao Phật pháp không nói thành Phật pháp mà nói thành phi pháp? Nếu thấy được chỗ này, khi thấy gió thổi lá cây đong đưa, nhìn mây trôi trên trời cũng thuyết pháp được. Mây trôi tức là nó có trôi có dừng. Còn cái thấy mây thì không trôi đâu hết. Mã Tổ thấy bầy le le bay qua, khai thị cho Ngài Hoài Hải tỏ ngộ. Xưa Ngài Linh Vân thấy hoa đào nở, ngộ đạo; có vị khi nghe gió thổi cũng ngộ là do tâm các Ngài thuần thục, lúc nào ở trước mắt cũng chỉ thấy pháp thôi, không thấy gì khác mới có thể ngộ được. Tâm mình còn kẽ hở nhiều, thấy tất cả mà không thấy pháp cho nên không ngộ được. Hiểu rõ thì đâu đâu cũng có pháp hết, không còn nghi ngờ.
CHÁNH VĂN:
Bấy giờ trong lòng bàn tay của Đức Như Lai phóng luồng hào quang báu soi đến vai bên phải ông A-nan. Liền khi ấy ông A-nan xoay đầu ngó qua bên phải. Phật lại phóng hào quang qua bên vai trái của ông A-nan, ông A-nan lại xoay đầu ngó về bên trái.
Phật bảo A-nan: “Đầu của ông hôm nay nhân gì lại dao động?”.
A-nan thưa: “Con thấy Như Lai phóng hào quang báu đến vai bên phải, bên trái của con, con nhìn qua hai bên để xem, nên đầu con tự dao động”.
Phật bảo A-nan: “Ông nhìn xem hào quang của Phật, đầu ông xoay qua hai bên vai, vậy đầu ông động hay cái thấy của ông động?”.
Ngài A-nan bạch: “Bạch Thế Tôn! Đầu con động mà tánh thấy của con còn không có dừng huống là có động”.
Phật nói: “Đúng như vậy”.
GIẢNG GIẢI:
Ở trước, Phật dùng bàn tay xòe ra nắm lại, xòe ra nắm lại để khai thị về tánh thấy không có động tĩnh. Đến đây Phật khai thị ngay nơi thân ông A-nan: Cái đầu xoay qua bên phải, xoay qua bên trái để ngó theo hào quang. Phật gạn hỏi lại: Như vậy đầu của ông động hay tánh thấy động? Khi Phật hỏi đầu ông động hay tánh thấy động đó là Phật khéo khai thị để cho người quên duyên nhận trở lại tánh. Hầu hết chúng sanh đều lầm chỗ này, đầu động mình cũng động theo. Giống như thuyền đi mà thấy bờ dời, hoặc ngồi trên xe chạy mà thấy như cây bên đường chạy ngược ra sau. Đó là ảo giác.
Ngài A-nan do đã nhận hiểu rồi, Ngài đáp: Đầu của con tự dao động, tánh thấy còn không dừng nói gì động! Nghĩa là đầu tự động, không dính gì tánh thấy kia. Tánh thấy vượt qua cả tướng động, tướng dừng. Trước khi đầu động, tánh thấy đã có rồi, sau khi đầu động, nó cũng không phải theo đó mà dừng, và ngay khi đầu động cũng không hề dính dáng. Nó đã có trước cả ba thời, cho nên không dính gì chuyện động tịnh.
Đây chỉ mượn cái đầu làm thí dụ. Cái đầu có động có dừng, không dính gì tánh thấy. Thân này có động có dừng cũng không dính gì tánh thấy hết. Vậy thì thân này có mất đi cũng không sao. Đây mới là chỗ chân thật để mình trở về, không đồng hóa mình với cái động tịnh kia. Người khéo thì ngay đó nhận trở lại trong chỗ động tịnh sanh diệt, có cái chưa từng động tịnh sanh diệt.
Thiền sư Thần Tán khi kỳ lưng cho thầy Bổn sư, liền vỗ vào lưng ông thầy nói:
- Điện Phật đẹp quá mà không có Thánh.
Thầy Bổn sư xoay đầu ngó lại. Thần Tán nói tiếp:
- Phật tuy không Thánh nhưng hay phóng quang.
Ngài A-nan thì xoay qua xoay lại, còn đây thầy Bổn sư xoay đầu ngó lại. Đó là Phật đang phóng quang! Như vậy, ngay khi xoay đầu ngó lại thì cái gì động? Cái gì không động? Trong đó có chân có vọng đầy đủ không thiếu. Người khéo, ngay đó nhận ra lẽ thật. Thấy được chỗ này thì thông cảm được chỗ Phật khai thị cho Ngài A-nan. Học kinh Lăng Nghiêm kỹ sẽ có nhiều chỗ sáng tỏ thêm.
Có vị tăng đến hỏi Thiền sư Tề An:
- Thế nào là bổn thân của Phật Lô Xá Na?
Lô Xá Na là Phật báo thân. Bổn thân là thân chính của Phật Lô Xá Na.
Thiền sư Tề An bảo:
- Ông đem cái bình đồng ở trước đến đây cho ta.
Ông tăng theo lời dạy, đến lấy bình đem lại cho Sư.
Thiền sư Tề An bảo:
- Thôi, đem để lại chỗ cũ.
Ông tăng liền đem cái bình để lại chỗ cũ, rồi hỏi lại câu hỏi trước.
Thiền sư Tề An liền bảo:
- Phật xưa đã quá khứ lâu rồi.
Phật xưa tức cổ Phật, ông Phật xa xưa đã thuộc về quá khứ lâu rồi, còn ông Phật hiện tại đây không ngộ.
Bảo ông đem bình lại thì ông đem lại, bảo ông để lại chỗ cũ thì ông để lại chỗ cũ. Cái thân có đi qua đi lại nhưng trong đó có gì? Ngay đó ngộ là ngộ được bổn thân của Phật liền. Đó là Phật sống thực tế ngay hiện tại đây, không nhận còn lo hỏi bổn thân Phật xa xưa ở thời quá khứ lâu xa nào đó làm gì. Đa số người học hiện nay là học kiểu này. Lo phân tích Phật ở cõi này cõi kia, Phật Lô Xá Na là sao, Phật Tỳ Lô Giá Na là sao v.v... mà không biết ở chỗ nào. Tức là theo ngôn ngữ, danh từ tưởng tượng, phân tích thế này thế kia nhưng không thấy Phật Lô Xá Na, không thấy Phật Tỳ Lô Giá Na đâu hết. Chính các Ngài ở ngay hiện tiền đó mà bỏ qua. Cho nên, Thiền sư không phí ngôn ngữ để giải thích dài dòng, mà đánh thức cho người học thức tỉnh ngay hiện tiền, ngay ông Phật sống đó. Ngộ ông Phật này mới là chuyện quan trọng.
Bảo đem cái bình đến thì đem bình đến, bảo đem trở lại chỗ cũ thì đem trở lại chỗ cũ. Đi qua, đi lại rõ ràng đó. Ngay đó khéo là ngộ liền.
Cũng như đây, Đức Phật đánh thức Ngài A-nan và đại chúng. Ngài A-nan do có chỗ tỉnh nên đáp: “Đầu con động, tánh thấy còn không có dừng huống gì có động”. Phật xác định đúng như vậy. Đến đây Phật mới khai thị thêm.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy Đức Như Lai bảo khắp đại chúng: “Nếu lại có chúng sanh cho cái dao động đó gọi là trần, cái chẳng dừng gọi đó là khách thì các ông xem đầu của ông A-nan tự dao động mà tánh thấy không có dao động. Lại các ông xem tay của Tôi có co mở mà tánh thấy không có co mở. Tại sao nay các ông lấy cái động làm thân, lấy cái động làm cảnh, từ thủy chí chung niệm niệm sanh diệt để sót mất chân tánh, làm việc điên đảo, tâm tánh mất chân, nhận vật làm mình, luân hồi ở trong ấy tự nhận sự lưu chuyển”.
GIẢNG GIẢI:
Đến đây Phật nói trắng ra, tánh thấy vẫn thường như vậy không thuộc về tướng động tịnh hay xòe nắm co mở gì hết. Phật bảo cho khắp đại chúng hiểu rõ. Nếu nhận rõ cái dao động là trần, cái chẳng dừng là khách thì có qua lại, có động dừng, là thuộc về trần, thuộc về khách; vậy chớ có lầm theo nó mà nhận trở lại cái không động tịnh, không qua lại kia mới là quý.
Kế, Phật trách tại sao các ông lại lấy động làm thân, lấy động làm cảnh, theo đó thành lưu chuyển đánh mất mình ở trong đó gọi là đánh mất chân tánh. Chân tánh vốn không sanh diệt mà lầm thành có sanh có diệt, thành ra giờ nói cái không sanh diệt không ai biết. Nếu thấy rõ được Chân tánh rồi thì sanh tử là thuộc về thân. Chuyện còn mất của thân, thân đi qua lại không dính gì đến chân tánh. Động tịnh của thân thuộc giả tướng bên ngoài.
Nếu không biết dừng để trở lại, thì cứ theo đó mà lưu chuyển mãi thôi.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy ông A-nan và cả đại chúng nghe Phật chỉ dạy, thân tâm thơ thới, nghĩ từ vô thủy đến nay bỏ mất bản tâm, vọng nhận bóng dáng duyên trần phân biệt. Hôm nay được khai ngộ như đứa hài nhi khát sữa bỗng gặp mẹ hiền, ông chắp tay lễ Phật nguyện nghe Đức Như Lai chỉ ra nơi thân tâm cái nào là chân vọng, hư thật và hiện tiền phát minh hai tánh sanh diệt cùng chẳng sanh diệt.
GIẢNG GIẢI:
Được Phật ân cần khai thị rõ quá rồi, Ngài A-nan và đại chúng tỉnh sáng trở lại, biết mình có bản tâm không sanh diệt, thấy được chỗ lầm xưa nay của mình là chỉ nhận cái phân biệt duyên theo bóng dáng của sáu trần, lấy đó làm tâm mà quên mất bản tâm chân thật hằng hữu của mình.
Đa số sống theo cái tâm chạy theo bóng dáng ở trong đầu, lấy đó làm tâm của mình. Hễ còn duyên theo bóng dáng thì còn có tâm, hết duyên thì hết tâm. Đó là cái tâm sanh diệt lưu chuyển. Sống như vậy là bị lưu chuyển theo khách theo trần, mất chủ. Còn chân tâm tự nó sẵn biết, không phải nhờ bóng dáng làm duyên mới biết.
Bây giờ, Ngài A-nan và đại chúng biết mình có chủ rồi, nhưng chưa nhận ra. Xưa nay như kẻ lang thang mất chủ, như đứa con thơ xa mẹ khát sữa, mà gặp mẹ thì quá mừng. Cho nên thân tâm thơ thới, nhẹ nhàng, không còn gì vui hơn nữa vì buông xuống được gánh nặng mất mình từ xa xưa. Quý vị tu hành khi nào có kinh nghiệm đó thì biết liền.
Vậy là ngay đây Ngài A-nan đã tỉnh sáng trở lại rồi, vượt qua cái mê từ vô thủy, không phải tầm thường. Tuy Ngài A-nan cũng như đại chúng đã biết mình có cái tánh không mất, có bản tâm rồi nhưng chưa phát minh ra để thật sự chứng biết. Giống như con ngỗng chúa biết uống sữa chừa nước. Sữa và nước hòa lẫn vào nhau nhưng ngỗng chúa biết uống sữa chừa nước trở lại. Ngài A-nan biết trong nước có sữa rõ ràng tin chắc không nghi, nhưng chưa biết làm sao lừa nước ra như con ngỗng chúa, cho nên thỉnh Phật chỉ dạy thêm. Đây là chỗ vi tế rất khó thấy, chỗ này không phải lý luận được. Chỗ thức trí khó phân, nếu không nhờ trí Phật, không dễ gì biện rõ được chỗ này.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy, Vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: “Xưa kia khi con chưa được Phật chỉ dạy thì nghe bọn Ca-chiên-diên và Tỳ-la-chi-tử đều nói thân này sau khi chết sẽ đoạn diệt gọi là Niết-bàn. Con tuy gặp Phật nhưng nay vẫn còn hồ nghi làm thế nào bày tỏ để chứng biết tánh không sanh diệt nơi tâm này? Nay những hàng hữu lậu trong đại chúng đây đều mong mỏi được nghe điều ấy”.
GIẢNG GIẢI:
Vua Ba-tư-nặc đứng lên thưa hỏi cái nghi về thuyết đoạn diệt của hai thứ ngoại đạo là Ca-chiên-diên và Tỳ-la-chi-tử. Ngoại đạo Ca-chiên-diên nói đủ là Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, Trung Hoa dịch là Tiễn Thế. Còn Tỳ-la-chi-tử nói đủ là San-xà-dạ Tỳ-la-chi-tử, dịch là Đẳng Thắng, ban đầu Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cũng theo ông này. Hai ngoại đạo này là hai trong số lục sư ngoại đạo; chủ trương có khác nhau chút đỉnh nhưng đều chấp thuyết đoạn diệt, cho rằng thân này sau khi chết là mất hẳn không còn gì nữa, không còn sanh tử, đó là Niết-bàn. Cái chấp này rất nguy hiểm. Bởi chữ Niết-bàn có nghĩa đen và nghĩa bóng. Chữ Niết-bàn nghĩa đen chỉ cho sự nguội tắt. Cục than cháy hết, tắt ngúm thì gọi cục than niết-bàn. Con người tu hành khi phiền não dứt hẳn thì gọi là Niết-bàn.
Đây chấp thân này chết rồi không còn gì nữa là Niết-bàn, làm cho người ta lầm chấp không còn nhân quả nghiệp báo. Có giết người, chết là xong. Nhóm này bác không có nhân quả. Rất nguy hiểm. Đó là tà kiến.
Trước khi gặp Phật, Vua Ba-tư-nặc cũng nghe theo những ngoại đạo này. Bây giờ được gặp Phật, nghe pháp nhưng cũng còn nghi ngờ chưa giải quyết được chỗ lầm này. Cho nên cầu Phật chỉ dạy để sáng tỏ được lẽ thật này. Phật dẫn đi từng bước cho ông thấy rõ.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “Đại vương! Thân ông hiện sống đó, nay Tôi lại hỏi ông: Thân thịt này của ông là đồng như kim cang thường còn hay là biến hoại?”.
Ông bạch: “Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay rốt cuộc cũng thay đổi và hoại diệt”.
Phật bảo: “Đại vương! Thân ông chưa từng hoại diệt thì làm sao biết nó phải diệt?”.
Ông thưa: “Bạch Thế Tôn! Cái thân vô thường biến hoại của con đây tuy chưa từng diệt nhưng con xem hiện tiền mỗi niệm dời đổi mãi mãi không dừng, như lửa thành tro lần lần tiêu mất. Vì dứt mất không dừng nên con biết thân quyết định là
phải theo đó mà diệt mất”.
Phật nói: “Đúng vậy!”.
GIẢNG GIẢI:
Phật gạn về sự biến đổi của thân bằng cách hỏi từng bước để cho ông tự đáp. Nếu Phật nói sẵn ông sẽ hiểu hời hợt, để chính ông đáp thì hiểu sâu hơn.
Thứ nhất: “Thân của ông có đồng với kim cang thường còn bất hoại không, hay nó sẽ biến hoại?”. Đó là để xác định lẽ thật vô thường của thân này. Vua Ba-tư-nặc cũng có hiểu đạo nên biết rõ, ông thưa: “Thân con rốt cuộc cũng phải thay đổi và hoại diệt, không thường còn như kim cang bất hoại được”.
Phật hỏi thêm: “Thân ông chưa hoại làm sao ông biết là nó sẽ diệt?”. Gạn hỏi để chỗ thấy phải thực tế rõ ràng, chớ không phải lý luận suông. Ông đáp: “Tuy hiện tại nó chưa diệt nhưng thấy rõ nó vẫn luôn luôn biến đổi không dừng, theo đó biết chắc nó cũng đi đến hoại diệt”. Phật xác định: “Đúng vậy”. Phật đi thêm bước nữa:
CHÁNH VĂN:
“Đại vương! Nay ông tuổi đã già yếu, nhan mạo so với lúc còn bé thì như thế nào?”.
Vua thưa: “Bạch Thế Tôn! Xưa kia khi con còn bé thì da dẻ hồng hào, đến tuổi trưởng thành thì khí huyết đầy đủ, nay tuổi già hình sắc cũng theo đó mà già yếu khô gầy, tinh thần tối tăm, tóc bạc mặt nhăn, sắp chết chẳng còn bao lâu. Như thế đâu thể so sánh với khi còn trẻ mạnh”.
GIẢNG GIẢI:
Đây là so sánh về nhan sắc lúc trẻ lúc già để chứng minh cho sự biến đổi của thân này. Tức là đi vào thực tế. Ông nhận xét còn bé thì da dẻ hồng hào, trẻ thì sức khỏe cường tráng, tới già thì da dẻ nhăn nheo, sức khỏe suy yếu. Đó là hiện tướng của sự biến hoại rõ ràng, không có gì phải nghi ngờ. Vua Ba-tư-nặc lúc này cũng lớn tuổi rồi, cho nên ông chứng minh thực tế rõ ràng. Lẽ thật sờ sờ trước mắt, đâu có giấu giếm gì ai nhưng tại sao lại có người vẫn nhắm mắt làm ngơ?
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “Đại vương! Thân thể của ông đâu phải già liền?”.
Vua thưa: “Bạch Thế Tôn! Nó biến hóa thầm thầm thay đổi, con thật chẳng biết, lạnh nóng đổi dời, lần lần cho đến ngày nay. Vì sao? Vì lúc con 20 tuổi, tuy tuổi còn nhỏ nhưng nhan sắc đã già hơn khi lên 10, đến 30 tuổi lại già hơn năm 20 tuổi, đến nay 62 tuổi so với lúc 50 tuổi rõ ràng khi 50 tuổi sức lực cường tráng hơn.
Bạch Thế Tôn, con thấy nó thầm thầm dời đổi, tuy cái già nua này thay đổi giới hạn trong 10 năm, nhưng nếu con suy nghĩ kỹ hơn chẳng những nó thay đổi trong khoảng 10 năm, 20 năm mà thực nó thay đổi từng năm. Chẳng những nó thay đổi từng năm mà nó thay đổi từng tháng, chẳng những nó thay đổi từng tháng mà nó thay đổi từng ngày, chẳng những nó thay đổi từng ngày mà xét cho cùng nghĩ cho kỹ thì nó thay đổi từng sát-na trong khoảng một niệm không dừng. Thế nên, con biết thân này trọn theo sự biến đổi và hoại diệt”.
GIẢNG GIẢI:
Đây là đi sâu vào vi tế trong sự biến đổi của nó. Phật hỏi, ông nói thân này già nhưng có phải nó già liền không? Nó không phải già liền nhưng nó có một sự biến đổi thầm thầm trong đó, không dễ gì mình biết kịp. Đa số chúng sanh cứ tưởng mình thường còn, bền chắc, không ngờ sự biến đổi thầm thầm không dừng trong thân của mình. Biến đổi vi tế đó mắt mình nhìn thấy không kịp. Từ hôm nay qua đến ngày mai là có biến đổi rồi. Không những như vậy mà ngay khi mình ngồi đây nãy giờ là có biến đổi rồi, không phải đợi tới ngày mai.
Các nhà khoa học cũng nhận thấy tế bào của mình chuyển đổi luôn luôn. Bảy ngày là có thay đổi, bảy năm coi như thay đổi toàn bộ. Do tế bào thay đổi mình mới có lớn, có già. Nếu tế bào dừng một chỗ chắc mình không lớn. Rõ ràng vậy nhưng mình không thấy tới đó.
Vua Ba-tư-nặc suy xét thời gian thay đổi dài là 5 năm – 10 năm, nhưng nếu xét cho thật kỹ thì nó thay đổi trong từng sát-na vi tế. Sát-na là khoảng thời gian rất ngắn. Trong một niệm có 90 sát-na, trong một sát-na có 900 lần sanh diệt, thì thấy sự sanh diệt trong đó rất vi tế. Những vị tu thiền đạt được sức định thật sâu mới có thể thấy được. Các Ngài ghi lại cho mình biết chớ mình đâu có biết nổi. Thấy rõ chỗ này rồi thì ngồi đây là đang chết một cách vi tế. Nếu quán sâu chỗ này thì chấp ngã sẽ cởi mở, nhẹ dần dần. Bởi vì đâu có thấy mình bền chắc. Còn nghĩ mình đang sống cho nên có sự bám chấp. Chấp ngã là chỗ đó. Quán vô thường cũng là một cách để trừ chấp ngã.
Trong kinh Đại Niết Bàn, Phật có dạy: “Quán vô thường là một pháp quán hơn hết trong các pháp quán”. Vua Ba-tư-nặc hiểu được như vậy, thật đáng nể. Trong khi đa số người, ngay cả chúng ta đây cũng chưa chắc đã có ai thấy được như vậy. Đó cũng là một sự cảnh tỉnh, nhắc chúng ta phải xét lại sự tu của mình, không khéo còn hời hợt lắm, tức là tu chưa kỹ. Phật tiến thêm một bước nữa.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “Đại vương! Ông thấy sự biến hóa đổi thay không dừng nên ngộ biết thân ông hoại diệt. Vậy chính khi hoại diệt ông có biết trong thân có cái gì chẳng hoại diệt chăng?”.
Vua Ba-tư-nặc chắp tay bạch Phật: “Thật con chẳng biết”.
GIẢNG GIẢI:
Phật muốn khai thị ngay trong cái sanh diệt có cái không sanh diệt. Đây cũng là để đánh thức cho mọi người hiểu, trong đây còn có cái không hoại diệt, tức không sanh diệt, không phải chỉ một chiều đoạn diệt.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “Nay Tôi chỉ cho ông cái tánh chẳng sanh diệt. Đại vương! Khi ông được bao nhiêu tuổi thì ông thấy nước sông Hằng?”.
Vua thưa: “Khi con được 03 tuổi, mẹ con dẫn đến lễ ra mắt thần Kỳ-bà thiên. Khi đi ngang dòng sông này, con được thấy nước sông Hằng”.
Phật bảo: “Đại vương! Như ông đã nói khi 20 tuổi đã già hơn lúc 10 tuổi, cho đến 60 tuổi năm tháng ngày giờ niệm niệm dời đổi. Vậy khi ông 03 tuổi thấy sông Hằng này, đến 13 tuổi cái thấy nước sông Hằng ấy thế nào?”.
Vua thưa: “Như khi 03 tuổi rõ ràng không khác. Và đến nay con 62 tuổi cái thấy vẫn không khác”.
Phật bảo: “Nay ông tự cảm thương tóc bạc, mặt nhăn, mặt ông nhất định là nhăn hơn lúc trẻ rồi. Vậy cái thấy của ông hiện nay xem thấy sông Hằng cùng với khi xưa còn trẻ xem thấy sông Hằng, cái thấy đó có già có trẻ chăng?”.
Vua thưa: “Bạch Thế Tôn! Không vậy”.
GIẢNG GIẢI:
Chỗ này rất tế nhị. Phật gạn hỏi cái thấy về nước sông Hằng để chỉ ra tánh thấy không biến đổi. Người học phải lắng lòng nghe nghiệm kỹ, không thể hời hợt theo thường tình của thế gian. Vua có nhận xét tinh tế là lúc bé nhìn thấy nước sông Hằng đó, lúc già cũng thấy nước sông Hằng đó. Chỉ là cái thấy vậy thôi. Chỗ này phải nghiệm kỹ.
Có những vị ỷ vào trí thông minh lanh lợi của thế gian, đem chỗ này ra lý luận lung tung, làm lệch lạc ý của Phật hoặc xuyên tạc. Đó là vẽ rắn thêm chân mà không hay. Người học đạo là phải cẩn thận chỗ này, đừng để người khác chuyển mình.
Ở đây Phật muốn chỉ tánh thấy, xưa cũng nhìn thấy sông Hằng, bây giờ cũng nhìn thấy sông Hằng, tức cũng cái nhìn thấy đó thôi. Tướng nước sông Hằng có khi lặng khi gợn sóng, cái thấy nương tựa theo căn cũng có thể có thay đổi. Trẻ thấy sáng suốt, già thấy lờ mờ, phải đeo kiếng, cái đó thì có khác có thay đổi. Hoặc thấy theo chỗ hiểu biết cũng có khác, còn bé ngây thơ thì thấy ngây thơ; bây giờ lớn tuổi lanh lợi, đầu có sạn rồi thì thấy khác. Nhưng cái biết thấy thì không khác. Xưa cũng nhìn thấy sông Hằng, bây giờ cũng nhìn thấy sông Hằng đó thôi. Phật muốn hỏi chỗ này, không phải hỏi chỗ thông minh lanh lợi kia. Thấy được chỗ này mới thấy chỗ sâu. Cho nên cần phải lắng lòng để xét kỹ, đừng xen cái thông minh lanh lợi của thế gian vào.
Vua Ba-tư-nặc cũng có nhận xét, ông đáp quyết định không khác. Tức xưa kia đối trước sông Hằng cũng nhìn thấy, bây giờ đối trước sông Hằng cũng nhìn thấy, quan trọng là chỗ đó. Cái biết nhìn thấy này không có già trẻ, để chỉ cho thân có già trẻ, có đổi thay nhưng tánh thấy không có hai. Đó là chỗ Phật muốn gạn hỏi để khai thị ra.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo: “Đại vương! Mặt ông tuy có nhăn nhưng tánh thấy này chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi, còn cái chẳng bị nhăn thì không biến đổi, cái biến đổi thì phải chịu hoại diệt, còn cái chẳng biến đổi kia vốn không sanh diệt thì làm sao trong ấy lại nhận chịu cái sanh tử của ông mà ông còn dẫn lời của bọn Mạt-già-lê kia bảo rằng thân này sau khi chết hoàn toàn mất hẳn”.
Vua nghe lời ấy tin biết thân này sau khi chết sẽ sanh thân khác nên cùng với đại chúng hết sức vui mừng, được việc chưa từng có.
GIẢNG GIẢI:
Vua Ba-tư-nặc đã biết, tự trả lời là cái thấy sông Hằng khi trẻ cũng như vậy, khi già cũng như vậy. Mặc dù thân có thay đổi già trẻ nhưng cái thấy không khác, tức không có già trẻ. Nhân đó Phật chỉ ra cái có già trẻ là tóc có đen có bạc, mặt có nhăn có láng, đó thuộc về tướng vô thường sanh diệt. Còn cái không có già trẻ, không có nhăn tại sao ông lại cho nó đồng với tướng sanh diệt đổi thay. Lẽ thật rõ ràng như vậy rồi ông còn nghi gì nữa mà dẫn lời của ngoại đạo để tự làm mê mình. Vậy cho thấy, dù ngoại đạo có chủ trương đoạn diệt hoặc có lý luận nó mất hẳn nhưng lẽ thật không phải vì đó mà mất. Bởi ngôn ngữ không có thật tánh, đừng mắc kẹt. Không phải nói có thành có, nói không thành không, không phải nói khen thành tốt, không phải nói chê thành xấu. Chân lý cũng vậy, dù cho ngoại đạo có chủ trương diệt hẳn nhưng chân lý xưa nay nó vẫn là như thế, dù ai chủ trương hoặc là lý luận thế nào đi nữa cũng không vì thế mà làm đổi thay được, chẳng qua lầm nhận thôi.
Được Phật khai thị rõ ràng, Vua Ba-tư-nặc tin rõ, biết rằng thân này chết không phải hoàn toàn diệt hẳn mà còn có đời sau, sẽ sanh thân khác. Vua hết sức vui mừng, không còn sợ chết là không còn gì nữa. Tuy nhiên, đây chỉ vui vì thấy không mất; chưa phải cái vui thấy đến giải thoát sanh tử, vui thấy được chân tâm thường trụ. Đó cũng tiến được một bước là trừ cái thấy tà kiến về đoạn diệt.
Vua Ba-tư-nặc và đại chúng hết sức vui mừng, đại chúng ở đây là cùng loại với ông Vua, không phải nói chung hết. Bởi trong này còn có các vị Đại A-la-hán, các Ngài không thấy có thân sau.
CHÁNH VĂN:
Ngài A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật, chắp tay, quỳ dài bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Nếu cái thấy nghe này hẳn là không sanh diệt thì tại sao Đức Thế Tôn lại gọi bọn chúng con là bỏ sót mất chân tánh, làm việc điên đảo? Cúi mong Thế Tôn rủ lòng từ bi rửa sạch trần cấu cho chúng con”.
GIẢNG GIẢI:
Ở trước Ngài A-nan đã có tỉnh ngộ, nhưng chưa thật hiện tiền nên còn bị tình mê che. Tới đây nghe Phật nói trong cái sanh diệt có tánh không sanh diệt, chết cũng không phải hết. Ngài nghi tại sao lúc trước Phật nói chúng con bỏ sót mất chân tánh mà ở đây Phật nói không mất, vậy là sao? Tức cũng còn phân biệt theo ngôn ngữ. Mới thấy tình mê có nhiều lớp. Phật gỡ từng lớp, từng lớp, gỡ lớp này lòi lớp kia, gỡ lớp kia lòi ra lớp nọ. Tuy hiểu có cái không mất nhưng còn bị cái lời “sót mất chân tánh” che mờ. Tại sao Phật nói có cái không sanh diệt mà Phật lại bảo bỏ sót mất chân tánh, vậy thành ra nó sanh diệt rồi. Lầm theo ngôn ngữ là chỗ đó.
CHÁNH VĂN:
Liền khi ấy, Đức Như Lai buông xuôi cánh tay sắc vàng, năm ngón chỉ xuống đất bảo A-nan rằng: “Nay ông thấy cánh tay Mẫu-đà-la của Tôi là xuôi hay là ngược?”.
Ông A-nan thưa: “Chúng sanh trong thế gian cho đây là ngược. Riêng con chẳng biết cái nào là xuôi, cái nào là ngược”.
Phật bảo ông A-nan: “Nếu người thế gian cho đây là ngược, vậy họ cho thế nào mới là xuôi?”.
Ông A-nan thưa: “Đức Như Lai dựng cánh tay Đâu-la-miên lên, ngón tay chỉ lên hư không thì gọi là xuôi”.
Phật liền dựng cánh tay lên bảo ông A-nan: “Điên đảo là như thế. Chỉ đầu đuôi thay đổi lẫn nhau mà các người trong thế gian cả bọn đều xem thấy thế ấy.
GIẢNG GIẢI:
Bởi vì ông A-nan nghi tại sao Thế Tôn bảo là bọn chúng con bỏ sót mất chân tánh, làm việc điên đảo. Mới thỉnh Phật chỉ ra cái điên đảo để rửa sạch trần cấu. Trước Phật dùng cánh tay chỉ xuống đất, hỏi ngược hay xuôi. Ngài A-nan do đã có tỉnh sáng phần nào rồi, nên không theo lời mà đáp. Ngài nói: Theo chúng sanh thế gian thì họ nói vậy là ngược, nhưng riêng con không biết sao là xuôi sao là ngược. Theo tập tục bên Ấn Độ chỉ xuống là ngược, đưa lên là xuôi. Cũng là cánh tay thôi mà đưa lên nói là xuôi, chỉ xuống nói là ngược, lẫn lộn như vậy không phải điên đảo là gì? Đó là nghĩa điên đảo. Phật chỉ thêm:
CHÁNH VĂN:
Nên biết thân ông cùng với Pháp thân thanh tịnh của các Đức Như Lai so sánh để phát minh: Thân Như Lai gọi là “chánh biến tri”, thân của các ông gọi là “tánh điên đảo”. Ông nên xét kỹ thân ông và thân Phật, cái danh từ “điên đảo” ấy ở chỗ nào gọi là điên đảo?”.
GIẢNG GIẢI:
Trước Phật dùng cánh tay thí dụ, bây giờ chỉ thẳng vào thân. Cũng là thân mà thân Phật gọi là “chánh biến tri”, tức cái hiểu biết chân chánh mà rộng khắp. Còn thân ông gọi là “tánh điên đảo”. Danh từ “điên đảo” đó ở chỗ nào gọi là điên đảo? Người lanh lợi thì hiểu liền, cái “điên đảo” cũng chỉ là danh từ thôi, không có thật tánh. Nếu điên đảo có thật tánh thì đâu thể trừ được, vậy là mình hết tu. Chính nó không có tánh thật cho nên ngộ thì nó hết, giác thì nó hết.
Đây cũng giống như đi đêm ở trong rừng mà lạc lối, phương đông tưởng là phương tây, rồi đi ngược nên lạc. Khi mặt trời sáng soi trở lại, rõ ra phương đông phương tây, ngay đó liền hết lầm. Lầm tức điên đảo, hết lầm thì hết điên đảo. Cho nên gọi điên đảo là không có chỗ nơi. Đừng nghe Phật bảo xem cái danh từ “điên đảo” ở chỗ nào mà gọi là điên đảo, liền tìm chỗ điên đảo là bị lừa. Theo ngôn ngữ rồi bị mê là chỗ đó. Vì nó không có chỗ nơi cho nên khó chỉ ra. Vì khó chỉ ra cho nên Phật gạn hỏi để tự xét thấy, tỉnh ngộ là hết điên đảo. Đây là chỗ khéo của Phật.
CHÁNH VĂN:
Khi ấy, ông A-nan và cả đại chúng sửng sốt nhìn Phật không nháy mắt chẳng biết nơi thân tâm này cái điên đảo ở chỗ nào. Phật khởi lòng từ bi thương xót A-nan và cả đại chúng mà phát ra tiếng hải triều, bảo khắp hội chúng: “Này các thiện nam tử! Tôi thường nói sắc, tâm, các duyên và các tâm sở sử cùng các pháp sở duyên đều do tâm hiện. Thân ông, tâm ông đều là vật ở trong Chân Tâm Diệu Minh hiện ra. Tại sao các ông lại bỏ sót mất cái tâm tánh vốn nhiệm mầu sáng suốt ấy mà nhận cái mê ở trong cái ngộ?
GIẢNG GIẢI:
Nghe Phật hỏi chỗ điên đảo, Ngài A-nan và đại chúng đều nhìn Phật chăm chăm sửng sốt, không biết điên đảo ở chỗ nào để chỉ. Đó giống như dồn vào đường cùng, hết biết chỗ nào để chỉ. Nhưng chính đó là chỗ để bật sáng ra. Phật thương xót phát ra tiếng hải triều giống như sóng biển bảo khắp chúng hội: Sắc, tâm, đến các duyên và các tâm sở cũng như các pháp sở duyên đều do tâm hiện. Thân, tâm và cảnh duyên đều từ Chân Tâm Diệu Minh (tức chân tâm nhiệm mầu sáng suốt) hiện ra. Nhưng ông lại bỏ quên cái gốc chân thật sáng suốt nhiệm mầu đó, chỉ nhận lấy cái tướng hiện ra này. Tức là trái chân mà theo vọng. Ở trong cái sáng suốt nhiệm mầu mà lại nhận cái vọng hiện. Ở trong cái ngộ mà nhận cái mê, rồi lại cầu ngộ. Vậy không phải điên đảo là gì?! Mình cũng vậy. Nếu khéo, ngộ ngay cái mê này, tức là trái vọng về chân.
Cũng như tay đưa lên gọi là xuôi, chỉ xuống gọi là ngược. Còn đây trái chân nhận theo tướng bên ngoài thì gọi là vọng, nhớ trở lại thì gọi là chân. Không có gì khác trong đó. Điên đảo là chỗ đó thôi. Nói sót mất chỉ là danh từ phương tiện tạm thời để đánh thức cho ông nhớ trở lại thôi, không phải nói sót mất là thật mất, đừng bị ngôn ngữ lừa! Liền đó sáng tỏ cái nghĩa vốn chỉ là Chân Tâm Diệu Minh thôi, không có cái gì khác, cũng không mất đi đâu. Lầm thì gọi sót mất, ngộ trở lại thì liền nhận ra nó vốn sẵn đầy đủ. Nói chân nói vọng chỉ là đổi cái nhìn, không phải có hai cái. Thể vốn không hai. Người trí cần phải giác ngộ trở lại để không lầm.
Có ông tăng hỏi Thiền sư Văn Ích:
- Thế nào là mặt trăng thứ hai?
Sư đáp:
- Sum la vạn tượng.
Hỏi:
- Thế nào là mặt trăng thứ nhất?
Sư đáp:
- Vạn tượng sum la.
Mặt trăng thứ nhất – mặt trăng thứ hai vốn không hai thể, không thể tách rời nhau mà có. Người trí khéo ngay đó mà sáng tỏ trở lại là xong! Chân Tâm Diệu Minh cũng vậy, chỉ là Chân Tâm Diệu Minh thôi, không có cái thứ hai. Cái lầm tưởng là vọng, không phải thật có. Nói “chân tâm” “vọng tâm” là danh từ tạm lập trong khi mê, thật sự không có hai thể, không riêng có vọng tâm. Vọng là cái lầm mê, thể vẫn là một không có hai. Nói vô số tâm cũng vậy. Không phải thật có nhiều thứ, chỉ do lầm mê. Ngộ cái thật rồi mới sáng tỏ được mọi vấn đề, không còn sợ mất. Đó là chỗ Phật khai thị để trừ cái điên đảo. Ai sáng tỏ được chỗ này rồi thì rõ được cái điên đảo của mình, tức là hết điên đảo.
Đây nói lược qua pháp số. Kinh nói: “Sắc, tâm, các duyên và các tâm sở sử cùng pháp sở duyên đều do tâm hiện”.
* Sắc chỉ cho 11 thứ sắc pháp, gồm 5 căn và 6 trần. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là 11 thứ sắc pháp.
* Tâm gồm 8 thức tâm vương: a-lại-da, mạt-na, ý thức và năm thức trước.
* Các duyên tức là những duyên để sanh tâm. Có 4 duyên để sanh tâm:
- Thân nhân duyên
- Sở duyên duyên
- Tăng thượng duyên
- Đẳng vô gián duyên
Trong đó chỉ có hai duyên sanh sắc thôi, đó là thân nhân duyên và tăng thượng duyên.
* Tám thức tâm kia là tâm vương, còn tâm sở sử là tâm sở. Tức nó phụ thuộc vào tâm vương, nó bị sai sử cho nên gọi là tâm sở sử. Gồm có 51 thứ:
- Biến hành tâm sở có 5: xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư.
- Biệt cảnh tâm sở có 5: dục, thắng giải, niệm, định và huệ.
- Thiện tâm sở có 11: tín, tàm quý (tức hổ thẹn), vô tham, vô sân, vô si, cần (tinh tấn, siêng), khinh an, bất phóng dật, hành, xả, bất hại.
- Căn bản phiền não có 6: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
- Tùy phiền não có 20: phẫn, hận, phú (che giấu, che đậy), não, tật, san, cuống, xiểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín (không có niềm tin), giải đãi, phóng dật, thất niệm (mất niệm), tán loạn, bất chánh tri.
- Bất định tâm sở có 4: hối, miên, tầm, tứ.
51 thứ này thuộc về tâm sở sử.
* Các pháp sở duyên, tức là các pháp làm duyên cho tâm, gồm có 24 thứ bất tương ưng hành và 6 thứ vô vi.
- Các pháp bất tương ưng hành: đắc (được), mạng căn, chúng đồng phận, nhị sanh tánh, Vô tưởng định, Diệt tận định, Vô tưởng báo (hay vô tưởng sự tức báo thân cõi vô tưởng), danh thân, cú thân (danh từ, câu cú), sanh, lão, trụ, vô thường, lưu chuyển, định vị (tức nhân quả lành dữ khác nhau), tương ứng, thứ đệ, phương (không gian), thời (thời gian), số (số lượng), hòa hợp tánh, bất hòa hợp tánh.
- Sáu pháp vô vi: hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, bất động diệt vô vi, thọ tưởng diệt vô vi và chân như vô vi.
Đó gọi là các pháp sở duyên.
Nói chung thân, tâm và các cảnh duyên đều từ tâm hiện, không có cái gì ngoài tâm mà riêng có được, do tâm mới biết có nó. Lẽ thật là như vậy.
Quán kỹ chỗ này mới thấy từ pháp thế gian, cho tới xuất thế gian đều không rời tâm mà riêng có được. Vậy tâm là gốc, tại sao không ngộ lại tâm mà lo đi tìm mấy cái kia? Đó là chỗ Phật muốn khai thị. Dù lên tới sao Hỏa, sao gì đi nữa cũng không rời tâm mà được. Diệt tận định, Vô tưởng định cũng không rời tâm mà có. Chỉ cần ngộ lại tâm là đủ tất cả. Sáng tỏ được tâm là sáng tỏ tất cả, là trở về gốc.
Người đời lo đi tìm ngọn, lo phát minh cái này cái kia mà quên phát minh cái gốc. Tìm kiếm, phát minh cũng lợi ích phần nào, giúp cho thế gian sống được thoải mái chút chút nhưng chỉ là cái ngọn. Bao giờ phát minh được cái gốc này mới thấy những cái kia không thành vấn đề.
Trong kinh Duy Ma Cật, kinh Hoa Nghiêm, chư Bồ-tát phát minh được cái gốc rồi, ứng hiện ra thì mấy cái phát minh kia không thấm vào đâu hết. Các Ngài ở đây mà thấy thấu qua vi trần cõi khác, hiện thân khắp nơi, biết khắp nơi, có thể biết nơi mình, có thể biết tâm ý mọi người nữa. Rõ ràng đâu có gì rời tâm mà riêng có. Hiểu vậy mình mới thấy được cái gốc để làm chỗ nương trở về tu tập. Tiếp theo, Phật bảo:
CHÁNH VĂN:
Trong chỗ mê muội mờ tối đó thành có hư không, trong hư không mờ tối ấy kết cái mờ tối làm sắc, sắc xen tạp với vọng tưởng, nhận lấy tướng vọng tưởng làm thân. Nhóm các duyên dao động ở bên trong, dong ruổi theo cảnh vật bên ngoài, lấy tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh. Một khi mê chấp làm tâm tánh thì quyết định lầm cho tâm ở trong thân. Chẳng biết sắc thân cho đến núi sông, hư không và thế giới bên ngoài đều là vật ở trong Diệu Minh Chân Tâm. Thí như bỏ đi trăm ngàn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một hòn bọt nổi cho là nước của toàn biển cả thì các ông là một nhóm người trong mê như cánh tay Tôi rủ xuống không khác. Như Lai nói là đáng thương xót!”.
GIẢNG GIẢI:
Ở đây Phật nói rõ đầu mối mê lầm thành ra có thân tâm, rồi lầm tâm ở trong thân. Tâm tánh vốn nhiệm mầu sáng suốt, quý báu. Nguyên bản chữ Hán là “Bản diệu viên diệu minh tâm, bảo minh diệu tánh” nghĩa là tâm tánh nhiệm mầu, tròn đầy sáng suốt thật quý báu. Trong đó lại chợt bất giác, quên nó đi thành ra mờ tối, mênh mang, mất điểm tựa. Cái vô minh mênh mông vô bờ giống như hư không. Mình cũng vậy, trong cái tâm tánh sáng suốt, bất giác mê nó, không biết tựa vào cái gì thành ra một cái mê mênh mông, mờ mịt, vô bờ, không biết đâu là bờ mé, cũng như hư không không biết đâu là bờ mé, mà lại mờ mịt. Trong khi tâm tánh mình sáng suốt, liễu liễu thường tri, rõ biết rõ ràng. Bây giờ giống như hư không, mênh mông mờ mịt không bờ mé. Thấy đáng thương chưa?! Giống như mình đang sáng suốt tỉnh táo đây, rồi mỏi mệt, uể oải, nhắm mắt ngủ thì cũng mờ mịt không biết đâu là bờ mé. Rồi trong mờ mịt, bắt đầu hiện thành cảnh mộng.
Đây cũng vậy, do mờ mịt thành có hư không, rồi trong hư không mờ tối đó mới kết cái mờ tối làm sắc, sắc xen với vọng tưởng, lấy cái tướng của tưởng làm thân. Vậy tức là mê vọng thành ra có hư không mờ mịt, không biết gì hết, mà lại không có bờ mé. Trong cái mờ tối hỗn độn, không có phân biệt gì hết, cho nên không còn biết đâu là chỗ ban đầu. Cũng giống như mình ngủ mê, lúc đó nằm mộng đâu biết chỗ nào là chỗ ban đầu của mộng của mê, tỉnh dậy thì hết. Chính không biết chỗ ban đầu đó cho chúng ta thấy cái mê không có chỗ bắt đầu. Do không có chỗ bắt đầu mới nói mê không có tánh thật, hễ giác nó thì nó hết. Người tu hành chưa giác ngộ được cội nguồn tâm tánh sáng suốt đó thì có tu cách mấy cũng không mở sáng được trí tuệ chân thật, chỉ biết tới chỗ mờ mịt hỗn độn này thôi, rồi chấp cái đó là chỗ bắt đầu của thế giới chúng sanh. Chính cái này là cái ngoại đạo Ấn Độ chấp.
Lão giáo của Trung Hoa cũng chấp chỗ hỗn độn mờ mịt âm dương chưa phân, cho là chỗ ban đầu. Do mê nên thấy tới đó thôi đâu còn thấy gì khác nữa. Nếu giác ngộ thấy được tâm tánh sáng suốt thì khác. Bên Ấn Độ, ngoại đạo Số Luận thì chấp Minh đế hay Minh sơ, lập làm nguồn gốc của vạn vật. Chữ “minh” này là mờ mịt, chứ không phải “minh” là sáng suốt. Chấp cái chỗ mờ mịt ban đầu đó làm nguồn gốc vạn vật, là chưa thoát được cái mê. Nếu không phải là trí Phật thì làm sao thấy đến chỗ này? Chúng sanh nói tới chỗ này nổi không? Khi đã thành cái mờ tối mênh mông không gốc có thể tựa, tức là quên mất cái tâm tánh sáng suốt nhiệm mầu rồi, mới bám vào cái chỗ mờ tối đó để ngưng kết làm chỗ nương, thành ra có sắc hiện ra.
Rồi tâm có biết, sắc thì không biết; hai thứ đó xen lẫn lộn với nhau tưởng như là một. Vậy đâu còn biết rõ ràng nữa, vì xen lẫn rồi. Tức là đem cái tưởng kết với sắc, rồi bám lấy đó làm cái tướng của thân. Thân này là tổ hợp của tướng sắc và tưởng. Do đó trong Mười hai nhân duyên, Phật nói danh sắc. Một bên danh (tâm) có biết và sắc (thân) không có biết, nhưng bây giờ tâm này mê mất rồi thành ra chỉ tưởng thôi, tưởng xen lẫn với sắc. Cho nên mình sống ở đây là sống trong tưởng. Mọi thứ cảm xúc vui buồn v.v... đều là tưởng chút vậy thôi chứ không thật có gì hết. Xúc chạm vui một chút gọi là xúc tưởng, chứ có được gì đâu! Thí dụ chạm cái gì êm ái thì thấy vui chút rồi qua mất. Tưởng như là được cái gì êm ái, buông ra có còn được gì đâu!
Cũng vậy, ăn vô miệng ngọt ngọt ngon ngon, tưởng như được cảm thọ, chút xíu thì qua mất, được gì đâu; cũng là tưởng thôi. Nhìn thấy sắc, sắc đẹp thấy vui thích thấy thỏa mắt, rồi cũng qua, đó chỉ là tưởng thôi chứ có được gì! Nếu chưa giác ngộ để sống được với thật trí thì toàn là sống trong tưởng thôi, lấy tưởng làm nguồn sống.
Trong Luật có câu chuyện, bà mẹ bị giặc bắt đi, phải bỏ đứa con nhỏ ở nhà. Bà lấy túi tro treo ở trên nóc nhà, bảo nó: “Cơm đây, có đói thì ăn”. Đứa nhỏ đói ngồi nhìn cái túi đó, nhìn hoài tưởng là cơm. Do cái tưởng đó mà nó còn lẽ sống. Có người đi vào thấy đứa nhỏ ngồi nhìn cái túi hoài, không biết cái gì trong đó, bèn trèo lên lấy xuống mở ra cho nó coi, nó thấy là tro. Ngay đó nó chết liền, vì hết còn hy vọng. Cho thấy chúng sanh sống trong tưởng. Mình sống với sắc thân này cũng là tưởng xen lẫn với sắc mà thấy dường như trong sắc có biết, thật sự đó là tưởng. Buông tưởng ra, sắc cứng đơ như khúc gỗ. Nhưng chúng sanh mê lầm, cứ nhận nó làm ta rồi từ đó thành khổ với nhau.
Như vậy, lấy thân làm điểm tựa rồi giới hạn mình ở trong đó. Bởi vì mê mất tánh biết rồi, cho nên bây giờ phải gom góp những cái duyên để cho nó biết, sợ nó không biết. Thành ra biết đó là biết theo duyên thôi. Có chỗ để duyên thì mới biết. Đây gọi là lấy tướng vọng tưởng làm thân, rồi nhóm các duyên dao động, dong ruổi theo cảnh vật bên ngoài, lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh. Tức là cái tướng thầm thầm lặng lặng phân biệt các duyên bên trong, đuổi bên ngoài, nên gọi là lăng xăng.
Đa số ai cũng nghĩ tâm mình là cái duyên theo phân biệt cái này cái kia trong đầu. Ai cũng nghĩ tâm tánh mình là cái suy nghĩ đó mà không biết tâm tánh vốn nhiệm mầu tự sáng suốt, tự hiểu biết, không cần cái gì khác. Do không biết nó nên đi gom góp các thứ bóng dáng làm chỗ biết. Thấy đau chưa?! Do lấy duyên làm biết, cho nên duyên đổi thì nó đổi theo, không yên được, cũng không rõ ràng được, thành ra biết mà biết lờ mờ, thầm thầm lặng lặng, lăng xăng, luôn luôn sanh diệt. Đã nhận nó làm tâm rồi thì tưởng cái lăng xăng đó là tâm ở trong thân. Hầu hết chúng sanh đều nghĩ tâm ở trong thân, thân chứa tâm. Trong thân này có cái hiểu biết, hiểu biết đó là tâm. Thấy lầm chưa?!
Tâm tánh rộng lớn thênh thang như vậy đó, bây giờ đóng khung nó trong cái thân chút xíu này. Không ngờ thân này chỉ là cái tướng của tưởng thôi! Cho nên Phật trách: “Chẳng biết là sắc thân cho đến núi sông, hư không và thế giới bên ngoài đều là vật ở trong Diệu Minh Chân Tâm”. Tức là từ thân cho đến hư không, thế giới bên ngoài đều từ trong Diệu Minh Chân Tâm hiện ra. Lại lầm nhận cái tưởng trong thân tâm mình, thế mới đau! Cho nên, Phật nói: “Thí như bỏ đi trăm ngàn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một hòn bọt nổi cho là toàn biển cả. Các ông là một nhóm người ở trong mê (là người mê trong nhóm người mê), như cánh tay tôi rủ xuống không khác”. Tức là điên đảo như cánh tay đưa lên nói xuôi, rủ xuống nói ngược, cũng là cánh tay. Đó là nghĩa điên đảo. Đây cũng vậy, tâm tánh rộng lớn thênh thang không nhận, đi nhận cái giới hạn ở trong thân thì đúng là điên đảo. Nếu buông cái mê này, nhận trở lại nó thì rộng lớn thênh thang, chuyển cái điên đảo thành giác liền.
Thấy được như vậy rồi thì dù trăm ngàn thân này có mất đi cũng không dính dáng gì đến nó. Sống được chỗ đó là đạt được Chánh định kiên cố Thủ Lăng Nghiêm, không gì lay động được. Đây là Phật chỉ hết tình, mình khéo quán kỹ thấu suốt được chỗ này rồi là phá được cái căn bản vô minh từ ban đầu bất giác chứ không phải thường.
CHÁNH VĂN:
Ông A-nan vâng nghe lời Phật từ bi cứu độ chỉ dạy, khóc lóc vòng tay bạch Phật: “Tuy con vâng nghe tiếng pháp nhiệm mầu của Phật như thế, ngộ được tâm thanh tịnh sáng suốt viên mãn thường trụ sẵn có. Song con ngộ được pháp âm của Phật vừa dạy, cũng dùng tâm phan duyên để nhận biết mà thỏa mãn chỗ ước mong. Con luống được tâm này nên chưa dám nhận là tâm địa vốn sẵn có của con. Cúi mong Phật thương xót, tuyên lời viên âm chỉ dạy nhổ sạch gốc nghi cho con để trở về đạo Vô thượng”.
GIẢNG GIẢI:
Ngài A-nan trước nghe Phật quở là mê lầm, theo duyên bỏ mất chân tâm. Đến đây nghe Phật khai thị lý chân thật xưa nay sẵn có, biết mình có cái chân tâm sáng suốt, Ngài có cái hiểu sâu hơn cho nên cảm xúc mà khóc.
Tuy ngộ biết mình có chân tâm thường trụ rồi nhưng chưa trực tiếp nhận rõ chân tâm. Ngài nói: “Con cũng còn dùng tâm phan duyên theo pháp âm của Phật mà nhận hiểu cho nên chưa dám nhận tâm địa sẵn có của mình”. Ngài A-nan cũng thật thà, có sao nói vậy, không phải là chưa được mà nói được. Tuy Ngài nghe được tiếng pháp nhiệm mầu của Phật chỉ rõ lý thật, nhưng cũng còn duyên theo tiếng pháp đó để hiểu tức cũng còn dùng tâm phan duyên, chứ chưa đi thẳng vào đó được. Do còn dùng tâm phan duyên cho nên chưa dám buông chỗ duyên, chưa dám nhận cái tâm địa sẵn có của mình. Và cầu Phật chỉ dạy thêm để nhổ sạch gốc nghi. Tức là nhổ sạch gốc nghi rồi mới dám buông chỗ duyên mà trở về đạo Vô thượng.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo ông A-nan: “Các ông còn dụng tâm phan duyên nghe pháp thì pháp này cũng là sở duyên, chẳng phải được pháp tánh.
GIẢNG GIẢI:
Đến đây Phật nói thẳng, dù nghe pháp âm vi diệu của Phật nói ra những lý sâu xa nhưng còn duyên theo pháp âm đó mà hiểu cũng chưa phải thật pháp. Chỉ là hiểu về nó thôi chưa phải nắm nó trong tay. Thí dụ nghe nói trong nhà có ngọc báu thì biết có hòn ngọc báu trong nhà nhưng không biết nó ở đâu, chưa nắm được nó trong tay. Đây cũng vậy, còn nhờ qua tiếng pháp âm của Phật mà hiểu, chưa phải trực nhận. Đó là điều mình phải nhớ kỹ.
Dù cho mình có nhận hiểu được chân tâm, nhưng đó là chân tâm của tâm duyên. Tức là nó thuộc về pháp sở duyên, là cái đối tượng để hiểu thôi. Như vậy là chỉ hiểu về chân tâm, chưa phải thật thể chân tâm hiện tiền, cho nên Phật gọi là pháp sở duyên. Pháp sở duyên tức là pháp bị duyên, là đối tượng. Chân tâm mà thành ra đối tượng để cho mình hiểu, là thành nó ở trước mình hoặc nó ở ngoài mình, nó là cái thứ hai chứ chưa phải chính là mình. Nếu mình chưa dám quên duyên để nhận thẳng vào đó thì coi như còn đứng ngoài cửa. Đây Phật chỉ rõ. Phật ví dụ:
CHÁNH VĂN:
Như người dùng ngón tay trỏ mặt trăng để chỉ cho người khác thì người kia phải nhân ngón tay mà nhìn lên mặt trăng. Nếu lại xem ngón tay cho là thể mặt trăng thì người này đâu những chỉ quên mất mặt trăng mà cũng quên luôn cả ngón tay. Vì sao? Bởi lẽ cho ngón tay chỉ, là mặt trăng sáng thì đâu những chỉ quên ngón tay mà cũng lại chẳng biết tối hoặc sáng. Vì sao? Vì lấy cái thể ngón tay cho là tánh sáng của mặt trăng thì cũng không rõ được hai tánh tối và sáng.
GIẢNG GIẢI:
Pháp âm của Phật dù vi diệu thế nào cũng chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng chân lý. Vậy thì mình nghe cần quên ngón tay để nhận thẳng vào chân lý mới thật thấy. Nếu cứ bám vào ngón tay cho là mặt trăng sáng thì Phật nói không những không biết được ngón tay, cũng không rõ được tối và sáng, mê cả hai. Ngón tay dụ cho giáo pháp của Phật, mặt trăng dụ cho chân tánh của mỗi người. Vậy nếu chấp vào ngón tay, tức là nhận ngón tay giáo pháp là tâm tánh chân thật thì không thật hiểu được giáo pháp, cũng không rõ được tánh linh giác tức là ngu mê cả tối và sáng. Đó là mê cả giáo pháp và mê luôn cả tâm tánh, mê cả hai.
Bởi vậy trong nhà thiền, các Thiền sư thường đánh thức người học là phải khéo quên duyên. Đó gọi là giáo ngoại biệt truyền bất lập văn tự, để cho người nhận thẳng vào lẽ thật, không kẹt trên ngón tay. Không phải nói giáo ngoại biệt truyền là bác bỏ giáo pháp.
Người học nghe mà chấp như vậy cũng thành chấp ngón tay, là chấp ngôn ngữ, mắc kẹt trong ngôn ngữ. Nếu thật sự Thiền truyền ngoài giáo pháp Phật thì không phải Phật giáo, là ngoài đạo Phật rồi. Ý của các Ngài là để chỉ cho mình quên ngón tay, nhận thẳng vào chân lý. Truyền ngoài là như vậy, không phải bỏ giáo pháp. Không hiểu kỹ lầm cho là bác bỏ kinh điển cũng là mê luôn. Cho nên mình học phải hiểu kỹ để không lầm theo ngón tay, mà phải khéo nhận ra mặt trăng.
Có vị tăng hỏi Ngài Điều Ngự Giác Hoàng:
- Thế nào là một việc hướng thượng?
Hướng thượng là thẳng vào việc lớn.
Ngài đáp:
- Đầu gậy khêu nhật nguyệt.
Đầu gậy mà khêu mặt trời mặt trăng. Đó là đúng theo ý của Phật dạy. Người học không hiểu cứ suy nghĩ: “Tại sao đầu gậy mà khêu được tới mặt trời mặt trăng?”. Suy nghĩ, luận tới luận lui hoài cũng nằm trên đầu gậy. Cứ bám vào đầu gậy để suy nghĩ thì không bao giờ hiểu nổi. Ở đây Ngài nói cũng để đánh thức mình. Nếu là một việc hướng thượng thì mình phải nhảy qua cái đầu gậy đó mới thấy được mặt trời mặt trăng kia, mới thật rõ được việc hướng thượng, tức là chỗ thật rốt ráo. Cho nên, nghe câu đó mình phải ngộ trở lại chính mình, còn bám theo đó để suy luận thì kẹt trong ngôn ngữ.
Chính Phật dạy: “Nếu nghe tiếng pháp âm vi diệu của Như Lai mà bám vào đó thì chỉ là pháp sở duyên thôi, chưa phải là pháp tánh chân thật”. Chính Phật bảo mình không thể chấp kẹt dính cứng vào lời dạy của Ngài. Phải quên lời để nhận thẳng vào. Ngoài đời, ông thầy dạy thế nào bắt phải nghe y vậy, bám chặt vào lời đó. Phật thì nói thẳng bởi vì Phật thấy như thật, nói như thật; lẽ thật như vậy thì nói như vậy.
Mình học cũng để thấy được những lời chân thật của Như Lai và nghiệm sâu để mở sáng trí tuệ của mình, không mắc kẹt trong những chỗ mê chấp. Phật nói rõ thêm để cảnh tỉnh cho người:
CHÁNH VĂN:
Ông cũng lại như vậy. Nếu lấy cái phân biệt tiếng Tôi nói pháp làm tâm của ông, thì khi rời cái phân biệt tiếng nói pháp, tâm ấy vẫn có tánh phân biệt. Thí như có người khách đến ngủ nhờ trong quán trọ rồi đi không ở mãi. Còn ông chủ quán thì không đi đâu nên gọi là chủ. Đây cũng như vậy, nếu thật là tâm của ông thì không đi đâu, làm sao rời hình dung, sắc tướng và tiếng của Tôi lại không còn tánh phân biệt? Nói như thế, chẳng những tâm phân biệt các tiếng mà cái phân biệt về hình dung của Tôi, rời các sắc tướng thì cũng không có tánh phân biệt; như thế cho đến cái phân biệt cũng đều không, chẳng phải sắc chẳng phải không, mà bọn Câu-xá-ly v.v... lầm cho là Minh Đế, nếu rời các pháp trần cũng không có tánh phân biệt thì tâm tánh của ông đều có chỗ trả về, vậy lấy cái gì làm chủ?
GIẢNG GIẢI:
Trước Phật cảnh tỉnh hãy chín chắn để nhận cho kỹ, chớ vội vàng, hấp tấp. Ngay cái phân biệt tiếng nói pháp của Phật đã có chân vọng đầy đủ. Mê theo tiếng nói pháp là vọng, ngay đó nhớ trở lại là chân. Đây Phật nói: Ông cũng như vậy, nếu lấy cái phân biệt tiếng tôi nói pháp làm tâm của ông thì khi rời cái phân biệt tiếng nói pháp, tâm ấy vẫn có tánh phân biệt mới đúng. Nếu rời tiếng nói pháp mà mất tánh phân biệt tức là vọng rồi!
Ngài đem nghĩa chủ khách chỉ rõ. Khách đến ngủ tạm rồi đi. Cũng vậy, thức tâm của mình cũng tạm duyên theo trần sanh diệt, không thường trụ thì như khách. Còn chủ thì không đi đâu, cũng như chân tâm thường trụ không mất. Thức tâm duyên theo trần thì tạm có, qua rồi thì mất, duyên cái khác. Giống như khách tạm đến rồi đi. Còn chân tâm thì vẫn thường trụ, rõ ràng liễu liễu thường tri. Nhớ kỹ, cái có mất thì không phải chân tâm, chân tâm là thường trụ.
Phật nói rõ thêm, dù là phân biệt theo tiếng nói pháp của Phật hay phân biệt về hình dáng của Phật cũng là phân biệt theo duyên. Mất tiếng nói pháp hoặc mất hình dáng của Phật, tánh phân biệt này cũng mất thì cái đó thuộc về khách. Nếu là chân tâm thì không lúc nào mất. Như vậy, nếu nhận tánh phân biệt theo duyên là khách, chưa phải là chủ.
Nếu khéo thì phải thấy trở lại trước khi nó phân biệt. Đừng theo duyên. Theo duyên là theo đuôi.
Phật nói thêm: Nếu chỉ theo cái phân biệt theo tiếng, theo hình sắc thì rời các sắc tướng đó nó thành không có tánh phân biệt luôn. Cho đến cái phân biệt đều không, chẳng phải sắc chẳng phải không mà bọn Câu-xá-ly v.v... lầm cho là Minh Đế. Nếu rời pháp trần cũng không có tánh phân biệt thì lúc đó tâm tánh của ông đều có chỗ trả về, chưa phải là chân thật. Đây là chỗ vi tế. Chỗ này tuy là ngoại đạo nhưng họ tu cũng sâu lắm. Họ thấy tới chỗ không phải sắc, không phải không, tới chỗ gọi là Minh Sơ, Minh Đế. Nhưng vì còn mê nên họ chưa ra khỏi luân hồi.
Quên duyên mà rõ ràng thường biết mới thật là chân tâm. Còn trường hợp này quên duyên mà mờ mờ, không rõ ràng gì hết cho nên không phải sắc mà không phải không.
Ngoại đạo chấp vào chỗ đó cho là Minh Đế. Câu-xá-ly là một trong những Luận sư thời Đức Phật, dịch theo chữ Hán là Ngưu Xá. Có chỗ giải thích ông này sanh ra trong chuồng bò, lấy chỗ sanh đặt tên; có chỗ gọi là tên mẹ; tên khác là Mạt-già-lê, là một trong số Lục sư. Trong nhóm Số luận có những vị ban đầu tu sức định rất sâu, khi nhập định có thể thấy được tới tám muôn kiếp trở về trước. Nhưng ngoài tám muôn kiếp thì mờ mịt không biết gì nữa hết, mới chấp cho đó là thật tánh của pháp gọi là Đế (đế là chân thật). Chữ “Minh” này là mờ mờ mịt mịt, không phải “minh” là sáng. Nhập định rồi thì không còn cảnh duyên bên ngoài, thiếu duyên là mất tánh phân biệt, nhưng còn chỗ thầm thầm lặng lặng ở trong tức còn cái vi tế bên trong. Chỗ mờ mịt đó không biện biệt được gì hết cho nên đồng như không phải sắc, không phải không. Đó cũng thuộc pháp trần vi tế, tức cũng còn có chỗ phân biệt vi tế chưa hết, cho nên chưa ra khỏi sanh tử. Rốt cuộc, tâm đó cũng là tâm còn chỗ trả về.
Phật kết lại: “Nếu tánh phân biệt đó rời tiền trần liền mất tánh phân biệt, thì tâm tánh của ông thành ra có chỗ trả về, thì nó thuộc về khách, vậy sao ông chấp làm tâm ông được?”. Tâm mà có chỗ trả về là khách rồi, giống như mượn rồi trả. Nếu thật tâm mình thì trả về cho ai? Chỗ này quán kỹ thì sẽ thấu qua được nguồn gốc sanh tử luân hồi chứ không phải thường. Nếu khéo ngay đó liền tỉnh trở lại, tức đồng Như Lai.
Hòa thượng Đại Điên từng khai thị trong chúng: “Nay ta vì các ông nói trắng ra, mỗi người hãy lắng nghe mà nhận lấy. Trừ bỏ tất cả vọng động, tưởng niệm, xét lường tức là chân tâm của ông. Tâm này cùng với trần cảnh và khi kềm giữ lặng lẽ hoàn toàn không dính dáng”.
Hòa thượng Đại Điên dạy là trừ bỏ những cái vọng động, những cái tưởng niệm xét lường thì đó là chân tâm của ông chứ không gì khác. Cái tâm cùng với trần cảnh, hay tâm lúc ngồi thiền mà kềm giữ lặng lẽ thì hoàn toàn không dính dáng gì với chân tâm đó.
Kềm giữ lặng lẽ là cố buông duyên để kềm giữ nó cho lặng lẽ thì cùng với tâm này chưa dính dáng. Bởi tâm này vốn thường lặng lẽ, đâu do kềm giữ. Khi kềm giữ cho nó lặng lẽ giống như dừng cái động để về cái tịnh, mà dừng động về tịnh thì cũng là động tịnh đối nhau. Còn muốn thấu rõ chân tâm thì phải vượt qua cả động tịnh mới thấu rõ được. Đó là chỗ sâu xa mà Phật muốn chỉ dạy. Chúng ta cần phải sáng tỏ trở lại chỗ này, đừng lo tìm sáng cái gì đâu đâu. Tiếp theo:
CHÁNH VĂN:
A-nan thưa: “Nếu Phật nói tâm tánh của con đều có chỗ trả về thì cái tâm tánh diệu minh sẵn có mà Như Lai nói đó vì sao lại không có chỗ trả về? Cúi mong Phật thương xót chỉ dạy cho điều ấy”.
GIẢNG GIẢI:
Ngài A-nan nghe bảo tâm tánh có chỗ trả về liền bị ngôn ngữ đó chuyển, cho nên sanh nghi tâm tánh diệu minh của mình có trả về hay không?
CHÁNH VĂN:
Phật bảo A-nan: “Vả lại, cái tánh thấy vốn sáng suốt của ông thấy Tôi thì cái tánh thấy này tuy chẳng phải là cái diệu tinh minh tâm, nó như mặt trăng thứ hai, không phải bóng mặt trăng.
GIẢNG GIẢI:
Chỗ này vi tế. Cái tánh thấy vốn sáng suốt của ông đây gọi là kiến tinh viên minh, khi ông thấy tôi thì cái tánh thấy này tuy chẳng phải là cái diệu tinh minh tâm (tức cái tâm sáng suốt nguyên vẹn nhiệm mầu), nhưng nó như mặt trăng thứ hai, không phải bóng mặt trăng. Chúng ta cần chú ý điểm này.
Phật khai thị rõ cho thấy cái tánh thấy vốn sáng suốt, nhớ là tánh thấy vốn sáng suốt. Vậy cái tánh thấy mà khi ông thấy tôi đây nó vốn là tự sáng, chứ không phải thấy tôi nó mới sáng, không phải nhờ duyên nó mới sáng. Và nó không có lẫn lộn với tôi (tức không xen lẫn với trần), cho nên mới gọi là kiến tinh. Chỗ này chúng ta cần phải thầm hiểu là cái thấy đó tuy nguyên vẹn, vốn sáng, không trộn lẫn với trần nhưng tánh thấy đó chưa phải là chân tâm, song gần với chân tâm. Nó chưa phải là chân tâm nhưng nó cũng không phải rời ngoài chân tâm mà riêng có, giống như mặt trăng thứ hai không phải rời mặt trăng thật mà có. Tuy chưa phải là chân tâm nhưng nó sát với chân tâm rồi, như mặt trăng thứ hai sát với mặt trăng thật, chứ không phải nó là cái bóng mặt trăng dưới nước, là còn xa lắm. Bóng mặt trăng dưới nước là chỉ cho cái tâm phân biệt theo duyên, theo các trần, cái đó còn xa nữa. Cái tánh thấy này nó gần với chân tâm, giống như mặt trăng thứ hai là vậy. Các Thiền sư cũng thường khai thị chỗ tánh thấy này, người khéo ngay đây chuyển nhẹ là hợp về với chân tâm, vì nó gần mặt trăng thứ nhất. Đây Phật dạy tiếp:
CHÁNH VĂN:
Ông hãy nghe cho kỹ, nay Tôi sẽ chỉ cho ông chỗ không thể trả về. A-nan! Cửa đại giảng đường này mở rộng về phương đông, khi mặt trời lên thì chiếu sáng; giữa đêm không trăng mây mù mờ mịt thì tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt; khoảng tường ngăn thì thấy bít lấp; chỗ phân biệt được thì thấy cảnh sắc duyên; trong chỗ trống rỗng toàn là hư không; cảnh tượng mịt mù là bụi tối, mưa tạnh trời thanh thì thấy trong.
A-nan! Ông hãy xem các tướng biến hóa này, nay Tôi đều trả về bản nhân của nó. Thế nào là bản nhân? A-nan! Các tướng biến hóa này sáng trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì nếu không mặt trời thì không sáng. Nguyên nhân cái sáng thuộc về mặt trời, cho nên trả về cho mặt trời. Cái tối trả về cho đêm không trăng; thông suốt trả về cho cửa; ngăn bít trả về cho tường vách; sắc duyên trả về cho phân biệt; rỗng không trả về cho hư không; mù mịt trả về cho bụi; trong sáng trả về cho trời tạnh. Tất cả vật có ra trong thế gian đều không ngoài các thứ này.
Còn tánh thấy sáng suốt của ông thấy tám thứ kia, ông muốn trả nó về đâu? Vì sao? Vì nếu trả về cho sáng, thì khi tối đến cũng không thấy tối. Tuy sáng tối mỗi mỗi đều sai khác, nhưng cái thấy không sai khác. Các thứ có thể trả về được, tự nhiên chẳng phải là ông. Cái ông không thể trả về được, chẳng phải ông thì là gì?
Ắt biết tâm ông vốn nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê muội, bỏ mất tánh bản nhiên, đành chịu luân hồi, thường bị trôi nổi chìm đắm trong sanh tử. Thế nên, Như Lai nói là đáng thương xót vậy!”.
GIẢNG GIẢI:
Đây chúng ta thấy Phật dạy rất thứ tự, trước khi chỉ ra cái không thể trả về Phật liền chỉ ra cái có thể trả về, nhờ vậy mà biết cái còn lại là cái không thể trả về. Loại ra hết những cái có thể trả về thì còn lại là cái không thể trả về, rõ ràng như vậy. Phật thí dụ như cửa giảng đường mà Ngài ngồi giảng đang mở rộng về phương đông, qua đó liền biết giảng đường này hướng về phương đông. Ngài nói về bốn đôi đối nhau là: sáng-tối, thông-bít, rỗng không-sắc duyên, rồi mù-trong. Trong bốn đôi trên, Phật dạy mỗi thứ đều có chỗ trả về: Như sáng thì trả về cho mặt trời, tối thì trả về cho đêm không trăng; chỗ thông suốt thì trả về cho cửa (cửa này mở để thông bên ngoài thì chỗ thông suốt đó trả về cho cửa), còn chỗ ngăn bít thì trả về cho tường vách; sắc duyên trả về cho phân biệt (do chỗ tâm phân biệt có sắc duyên thì sắc duyên đó trả về cho tâm phân biệt, nếu không tâm phân biệt thì sắc duyên đó mất), chỗ rỗng không thì trả về cho hư không; chỗ mù mịt thì trả về cho bụi, chỗ trong sáng thì trả về cho trời tạnh.
Như vậy mỗi cái đều có chỗ trả về nơi bản nhân (tức nhân gốc) của nó. Nghĩa là những cái này là những cái không thể tự tồn tại và chúng đều có chỗ trả về vì chúng thuộc về pháp nhân duyên. Còn cái tánh thấy vốn sáng suốt của ông hay thấy tám thứ kia thì muốn trả nó về đâu? Nếu khi ngồi thiền quán kỹ chỗ này thì sẽ ngộ. Vậy thì tám thứ đó mỗi cái đều có chỗ trả về, còn cái tánh thấy mọi thứ sai biệt thì trả về đâu? Mà nó không có chỗ trả về thì nó là mình chứ còn là ai nữa? Còn mê gì nữa? Phải xét kỹ chỗ này để đừng lầm. Những đối tượng bị thấy đó thì nó có sai biệt, có nhiều thứ, có sáng-tối, có thông-bít v.v... đủ thứ, còn cái thấy được mọi thứ sai biệt thì nó đâu có sai biệt. Nếu nó sai biệt thì nó hết thấy. Thí dụ nó thấy sáng mà nó thành sáng thì nó hết thấy tối. Hoặc là nó thấy tối mà nó thành tối thì hết thấy sáng. Còn nó thấy tối thấy sáng tức là nó không thuộc sáng không thuộc tối, nó không thành sai biệt, như vậy nó đâu có trả về. Tại sao lại đồng hóa nó vào mấy thứ kia làm chi vậy?
Nhớ là khi thấy sáng thì tánh thấy không phải là sáng. Khi thấy tối thì tánh thấy không phải là tối. Sáng tối không có can hệ gì đến nó. Rồi khi thấy thông thấy bít, thấy mù thấy trong v.v... thì tánh thấy cũng không phải là thông-bít, không phải là mù-trong, không phải là sắc duyên, cũng không phải là hư không v.v... “Nó thấy hết tất cả nhưng nó không là cái gì hết”. Nó vẫn là nó xưa nay, là “xưa nay không một vật” nên gọi là kiến tinh, không có lẫn lộn, cho nên thấy tất cả mà không là tất cả. Rõ ràng, đâu có cái gì che mờ được nó! Vậy còn mê, còn nghi gì nữa? Lẽ thật như vậy mà còn không chịu nhận thì đi nhận cái gì? Chúng ta thấy được cái chỗ mê của mình chưa?
Tánh thấy rõ ràng sáng suốt thấy hết mọi thứ nhưng không là cái gì hết, nó vẫn nguyên vẹn nó là nó thôi, chúng ta lại đồng hóa nó với mấy thứ kia để thành mê bị lưu chuyển rồi chạy theo người khác cầu chỉ dạy. Của mình mà lại đi cầu người khác chỉ cho! Nên đến phần sau, Phật trách Ngài A-nan: “Ngay chân tánh của ông không nhận mà lại đi đến cầu Như Lai chứng nhận cho”.
Lâu nay, chúng ta học là mê là giác, học đủ thứ nhưng khi cái mê hiện ngay trước mắt thì không biết. Vậy lâu nay chỉ học chữ nghĩa, giờ chúng ta phải đi vào thực tế. Đây Phật xác định rõ: “Tâm ông vốn nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê muội, bỏ mất tánh bản nhiên, đành chịu luân hồi, thường bị trôi nổi chìm đắm trong sanh tử. Thế nên Như Lai nói là đáng thương xót vậy!”. Chú ý! “Tâm ông vốn là nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt”. Nó là nhiệm mầu, tức là không thuộc ngôn ngữ phân biệt, không thuộc suy nghĩ cho nên mới nhiệm mầu, còn suy nghĩ được thì nó đâu có nhiệm mầu. Nó là thanh tịnh sáng suốt, tức không có gì làm mờ, không có gì làm nhiễm được nó thì đó là cái sẵn nơi ông rồi. Cũng không phải do ông làm ra, cũng không phải tìm bên ngoài, vậy mà đành bỏ quên nó để nhận cái chợt sanh chợt diệt làm tâm mình, tức nhận khách làm mình.
Cho nên Phật nói là đáng thương xót, thương xót là chỗ đó. Đó là chỗ ông cần phải thức tỉnh trở lại. Càng học chúng ta càng nhận thấy Phật hết tình chỉ dạy, mà vẫn chưa ngộ thì không biết nói sao! Mỗi người cần phải nghiệm kỹ, quán cho sâu để thấu rõ trở lại tâm tánh chân thật của chính mình, không lầm vọng tưởng để bị nó che mờ.
Tiếp đến Phật lựa riêng trần cảnh để nêu tánh thấy.
CHÁNH VĂN:
Ngài A-nan thưa: “Con tuy biết tánh thấy này không trả về đâu, nhưng làm sao biết nó là chân tánh của con?”.
Phật bảo A-nan: “Nay Tôi hỏi ông, hiện nay ông chưa được quả Vô lậu thanh tịnh, do nương theo oai thần của Phật mà thấy được cõi Sơ Thiền không bị chướng ngại; ông A-na-luật-đà thấy cõi Diêm-phù-đề như xem trái Yêm-ma-la để trong bàn tay; các vị Bồ-tát v.v... thấy cả trăm ngàn cõi thế giới; mười phương Như Lai đều thấy cùng tận các cõi nước thanh tịnh như số vi trần không sót chỗ nào. Còn chúng sanh xem thấy chẳng quá gang tấc.
A-nan! Lại Tôi với ông cùng xem cung điện của Tứ Thiên Vương, ở khoảng giữa xem khắp những vật dưới nước, trên mặt đất và trong hư không, tuy có nhiều hình tượng tối sáng khác nhau, nhưng đều là cảnh tiền trần phân biệt ngăn ngại. Ông hãy ở nơi đó phân biệt cái gì là mình, cái gì là vật? Nay Tôi cho ông lựa trong cái thấy, cái gì là tâm thể của ông, cái gì là hình tượng của sự vật? A-nan! Cùng tột sức thấy của ông từ mặt trời, mặt trăng chính là vật chứ chẳng phải ông, cho đến Thất kim sơn xem xét cùng khắp, tuy có những thứ hào quang cũng là vật chẳng phải ông, lần lần xem đến mây kéo, chim bay, gió động, bụi dấy, cây cối, núi sông, rau cỏ, người, thú thảy đều là vật chứ chẳng phải ông.
GIẢNG GIẢI:
Trước Phật đã nêu về tám thứ trả về, Ngài A-nan nghe Phật nói liền nhận biết những tướng bên ngoài đều có chỗ trả về, còn tánh thấy thì không có chỗ trả về. Ngài mới thưa với Phật là Ngài cũng biết tánh thấy là không trả về đâu nhưng làm sao biết nó là chân tánh của con? Ngài vẫn chưa nhận rõ. Ngài biết nhưng cũng là biết qua cái biết của Phật, nghe Phật khai thị mà biết chứ không phải chính mình thật biết. Nếu chính mình thật biết đâu còn nghi nữa.
Đây Phật mới chỉ ra tùy theo căn cơ chỗ thấy có rộng có hẹp. Ngài A-nan mới chứng quả Tu-đà-hoàn chưa được quả Vô lậu A-la-hán, nhưng nhờ nương theo sức oai thần của Phật nên thấy suốt cõi trời Sơ Thiền. Còn Ngài A-na-luật-đà thì do được thiên nhãn thấy cả cõi Diêm-phù-đề như là xem trái cây trong bàn tay.
Còn các vị Bồ-tát thì cũng tùy theo trình độ của mỗi vị mà thấy có sai khác. Thí dụ như Bồ-tát Sơ địa thì thấy được 100 cõi Phật; còn Bồ-tát Nhị địa thấy cả ngàn cõi Phật; cho đến Thập địa thấy được vô lượng cõi Phật; chỉ có Phật thì mới thấy cùng tận hết các cõi nước không sót cõi nào.
Đọc kinh Pháp Hoa, có khi Phật nói là từ cõi này đi qua vô số cõi nước khác. Thí dụ như Phật phóng hào quang từ đây qua vô số cõi nước phương Đông, tới cõi nào đó thì Phật cần thấy là thấy, còn chúng sanh thì thấy không quá gang tấc. Cái thấy của chúng sanh rất hạn hẹp, che tờ giấy trước mặt là hết thấy rồi. Như vậy, cùng là tánh thấy không hai nhưng chỗ dụng thì không đồng. Do đó chúng ta cần ngộ trở lại tánh thấy để không lầm theo vật bên ngoài rồi bị che ngại.
Kế Phật chỉ dạy tiếp: “Tôi cùng với ông (tức Ngài A-nan) xem cung điện của Tứ Thiên Vương. Cung điện Tứ Thiên Vương ở lưng chừng núi Tu-di, nên khoảng giữa từ đây đến đó thấy được nhiều hình tượng sai biệt ở trên hư không, trên đất liền hoặc ở trong nước v.v..., nhưng tất cả những vật đó đều là cảnh tiền trần phân biệt ngăn ngại”. Phật bảo Ngài A-nan phải lựa những vật nêu trên xem cái gì là tâm thể của mình (ngã thể), cái gì là hình tượng của sự vật. Đây cùng tột sức thấy của Ngài A-nan lúc đó thấy từ cõi đất này cho đến thấy tới mặt trời, mặt trăng rồi tới Thất kim sơn. Thất kim sơn tức là bảy lớp núi vàng nằm ở giữa núi Tu-di và núi Thiết Vi. Do bảy chóp núi bằng vàng nên có ánh sáng. Như vậy, từ cõi đất này lên tới núi Tu-di rồi chung quanh là những vật ở trên không, dưới nước, trên đất liền cho đến các núi vàng có ánh sáng chiếu rọi... Khi xem xét kỹ, nhận rõ thì mặc dù nhìn thấy suốt hết tất cả những thứ nêu trên nhưng chúng cũng là vật, không thể trong đó mà chỉ ra tánh thấy được.
Đây là nhờ thần lực của Phật nên Ngài A-nan mới rộng thấy được hết những thứ nêu trên, dù thấy suốt lên đến cõi Tứ Thiên Vương, thấy những núi vàng có ánh sáng rọi chiếu nhưng chúng đều là đối tượng bị thấy. Đã là đối tượng bị thấy thì làm sao là ông được? Hơn nữa chúng có nhiều thứ sai biệt, nên nếu chúng là ông thì ông thành ra nhiều thứ, vậy cái nào mới là ông? Phật bảo Ngài A-nan là bước đầu ông hãy nhận rõ những cái không phải là ông để không lầm nó, sau đó Phật sẽ chỉ ra cái gì chính là ông, cái gì là tánh thấy.
Đoạn kinh này Phật dạy Ngài A-nan trước hãy nhận ra những cái không phải tánh thấy. Đây Phật mới chỉ rõ hơn:
CHÁNH VĂN:
A-nan! Tánh chất của các vật xa gần tuy có sai khác, nhưng đều là vật do tánh thấy trong sạch của ông xem thấy. Vậy các loại vật kia tự có sai khác, mà tánh thấy của ông không sai khác. Tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu này quả thật là tánh thấy của ông.
Nếu tánh thấy là vật, thì ông cũng có thể thấy được tánh thấy của Tôi. Nếu khi đồng thấy sự vật mà gọi là thấy cái thấy của Tôi, vậy khi Tôi không thấy, sao ông không thấy chỗ không thấy của Tôi? Nếu ông thấy được cái không thấy, thì tự nhiên nó không phải là tướng của cái không thấy kia. Nếu ông không thấy được chỗ không thấy của Tôi, thì cái thấy tự nhiên không phải là vật, sao lại không phải là ông?
GIẢNG GIẢI:
Ở trên, Phật đã chỉ ra những cái không phải cái thấy, dù là có thấy suốt từ đây lên cõi Tứ Thiên Vương, nhưng tất cả đều thuộc về đối tượng bị thấy chứ không phải tánh thấy. Đây Phật mới chỉ ra tánh thấy không phải vật thì còn nghi gì nữa? Bởi vì các vật dù có xa có gần, có đủ thứ sai biệt nhưng đều là vật do tánh thấy trong sạch của ông xem thấy. Tánh thấy thanh tịnh, trong sạch của ông không lẫn lộn với mấy thứ đó cho nên nó mới thấy được hết những vật đó, gọi nó là “kiến tinh”. Đó là điều chúng ta cần phải sáng suốt nhận định cho kỹ. Nếu nó có lẫn lộn với những vật đó thì nó không thể thấy hết. Thí dụ như nó lẫn với núi thì nó đâu thấy được sông, vì chính nó trong sạch không lẫn lộn cho nên nó thấy được hết tất cả những thứ đó. Nhưng ông lại lầm mấy cái đó cho là ông, chính đó là cái mê của chúng sanh.
Đoạn kinh này, Phật chỉ rõ tánh chất của các vật xa gần tuy có sai khác nhưng đều là vật do tánh thấy trong sạch của ông xem thấy, chứ nó không lẫn lộn với tánh thấy của ông. Các loại đó nó tự có sai khác, còn tánh thấy của ông thì không sai khác. Tánh thấy sáng suốt, nhiệm mầu này quả thật là tánh thấy của ông, còn nghi gì mà chưa dám nhận?
Đức Phật hết tình chỉ dạy, tức là cái thấy mọi thứ sai biệt đó nhưng nó không là cái gì hết, nó vẫn là nó thôi. Chúng sanh vì mê lầm nên khi thấy cái gì đó thì đồng hóa cái thấy của mình với cái đó, giống như trộn lẫn nên mê là chỗ đó. Còn tánh thấy vốn thanh tịnh nhiệm mầu, nó thấy hết mấy cái đó nhưng nó không có trộn lẫn với cái nào, cũng không có cái gì trộn lẫn được với nó. Tức là nó vẫn nguyên vẹn nó là nó thôi, vậy ông còn nghi gì nữa?
Kế, Phật mới nói thêm để ngăn ngừa cái chấp của mọi người: Giả sử tánh thấy nó là vật thì nó thành ra cái có thể thấy được để cho ông thấy. Nhưng chuyện đó không thể có. Thí dụ hai người cùng thấy cái bình hoa, ông thấy bình hoa, tôi cũng thấy bình hoa thì cho là ông thấy cái thấy của tôi rồi, được chăng? Ở đây Phật nói không có chuyện đó. Giả sử ông vẫn cố chấp, cho rằng cùng thấy một vật tức ông thấy cái thấy của tôi thì chuyện đó chỉ là tưởng tượng.
Lại, nếu ông cho rằng khi cùng thấy một vật là ông thấy được cái thấy của tôi, vậy khi tôi không thấy vật, thì ông có thể thấy cái chỗ không thấy của tôi không? Nếu không thì ông chỉ thấy vật thôi chứ làm sao thấy cái thấy của tôi được. Nếu ông cho rằng cũng thấy được chỗ không thấy của tôi, như khi tôi không thấy bình hoa, ông cũng không thấy bình hoa, đó là ông thấy được chỗ không thấy của tôi. Thì đó cũng là ông suy tưởng thôi. Sự thật, tôi không thấy bình hoa thì tôi tự biết, ông không thấy bình hoa cũng là ông tự biết, chớ làm sao ông thấy được đến chỗ không thấy của tôi.
Nó đâu có dấu vết gì để cho ông thấy. Phật lại nói thêm, nếu ông thấy được cái không thấy thì tự nhiên nó không phải là tướng của cái không thấy kia, tức nó không thuộc cái đối tượng bị thấy.
Kết luận lại thì khi tôi và ông cùng thấy vật, rõ ràng ông cũng chỉ thấy được vật chứ đâu có thấy được cái thấy của tôi. Mà đã không thấy được cái thấy của tôi thì xác định lại nó không phải là vật nên ông không thể thấy được nó, và khi nhìn thấy là ông chỉ thấy vật thôi, chớ lầm với nó.
Tánh thấy của tôi như vậy thì tánh thấy của ông cũng như vậy, vốn không phải là vật. Đã không phải là vật thì không phải là ông vậy là gì?
Phật chỉ hết tình, không còn giấu giếm, vậy mà cũng còn chưa ngộ. Đó cũng vì thói quen của chúng sanh theo cảnh rồi mê cảnh mất mình, nhận tiền trần mà quên mất tánh thấy.
Tóm lại, đoạn này cần hiểu kỹ là tánh thấy, thấy khắp mọi sự vật sai khác. Giống như cái gương hiện tất cả hình bóng nhưng gương không phải là các hình bóng. Nhớ kỹ! Gương hiện rõ tất cả mọi hình bóng nhưng gương không phải là những hình bóng.
Tánh thấy cũng vậy, nó thấy hết tất cả mọi thứ sai biệt nhưng nó vẫn là tánh thấy, nó không thành các thứ sai khác, không có trộn lẫn với cái gì hết. Biết rồi thì không lầm theo các vật mà mê mất mình.
Nghĩa là tánh thấy vẫn là tự tánh thấy chứ không phải nhờ các vật mới thấy, và các vật cũng không làm ra tánh thấy; do đó chúng ta chớ có theo vật mà sanh tâm là chỗ đó. Tức là nó vẫn nguyên vẹn không có trộn lẫn với vật, không trộn lẫn với bất
cứ cái gì thì đâu có cái gì mê mất được nó. Vậy sao còn chưa tỉnh ngộ!
Chúng sanh cứ xen cái tưởng phân biệt vào thành ra chướng ngại, còn quên cái tưởng phân biệt thì ngay đó sáng tỏ rồi. Vậy mới thấy rằng ngay chỗ sống hằng ngày của phàm phu là cái chỗ phát minh của Thánh trí chứ không gì khác, không cần cầu đâu xa. Kế là Phật chỉ thêm.
CHÁNH VĂN:
Lại như cái thấy là vật thì đương khi ông thấy vật đó, ông đã thấy được vật, thì vật cũng thấy được ông. Thế thì thể tánh xen lộn, ông và Tôi cùng các thế gian không thành lập được.
A-nan! Nếu khi ông thấy thì chính ông chứ chẳng phải Tôi, tánh thấy trùm khắp đó chẳng phải ông chứ là ai?
Tại sao tự nghi chân tánh của ông? Tánh của ông mà ông chẳng tự nhận lấy lại cầu Tôi chỉ dùm cho ông?”.
GIẢNG GIẢI:
Phật trách. Trước Phật đã xác định rõ cái thấy là không phải vật. Nếu cái thấy là vật thì vật thành cái thấy rồi, vậy thì khi ông thấy vật thì vật nó thấy lại ông. Như vậy thì thế gian này thành lộn xộn, thể tánh xen lộn, không còn phân biệt được đâu là hữu tình, vô tình rồi ông và tôi cùng các thế gian không thành lập được, nên chuyện đó không thể có. Vậy còn lầm cái gì nữa? Phật nói nếu khi ông thấy thì chính cái thấy đó là của ông chứ không phải tôi. Tức khi ông nhìn thấy thì đó là ông thấy chứ không có ai can thiệp xen lẫn vào đó.
Vậy tánh thấy trùm khắp đó, không phải ông thì là ai vào trong đó nữa. Tại sao chính ông mà lại tự nghi ông? Khi ông thấy thì cũng ông thấy thôi, chứ tôi đâu có xen vào can thiệp cái thấy của ông. Cũng như khi tôi thấy thì ông cũng không can thiệp vào cái thấy của tôi được. Như vậy là mỗi người tự có chỗ thọ dụng, không có lẫn lộn, vậy còn nghi gì nữa mà không tự nhận để rồi đành phải chịu lưu chuyển.
Phật trách: “Tại sao ông lại nghi chân tánh của ông?”. Và “đã là chân tánh của ông sao ông chẳng tự nhận, lại cầu tôi chỉ dạy”. Nếu vậy tức là cầu tôi nhận dùm cho ông hay sao?
CHÁNH VĂN:
Ông A-nan bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy này nhất định là con chẳng phải vật khác, thì khi con cùng Đức Như Lai xem kho tàng bảo điện thù thắng của Tứ Thiên Vương, ở cung mặt trời mặt trăng, cái thấy này trùm khắp cả cõi Ta-bà; lui về Tinh xá chỉ thấy vườn chùa, đến khi ngồi nơi giảng đường, thì chỉ thấy một chái nhà. Bạch Thế Tôn! Cái thấy này như thế, thể nó xưa nay là khắp giáp một cõi, nay ở trong nhà thì chỉ thấy nội trong nhà. Vậy cái thấy này rút lớn làm nhỏ, hay bị tường vách ép lại khiến cho đứt đoạn. Nay con chẳng biết nghĩa này thế nào? Cúi mong Thế Tôn mở rộng lòng từ vì con diễn nói rõ”.
GIẢNG GIẢI:
Phật đã chỉ tánh thấy không phải là vật và trùm khắp hết, nhưng Ngài A-nan cũng còn theo tình phân biệt nên bị nó làm ngại, tức vẫn còn theo vật nên mới thấy có rộng hẹp, có đứt nối. Thành ra qua chỗ hiểu của Ngài A-nan thì cái thấy giống như một vật.
Ở đây, Ngài A-nan đại diện cho chúng sanh mê lầm để thưa hỏi nhờ Phật khai thị, vì đâu đến nỗi Ngài chậm nhận hiểu đến vậy.
Chúng sanh cứ chấp theo vật gọi là mê mình theo vật, cứ nhận vật nên tưởng đâu cái thấy cũng giống như vật nên nói có rộng có hẹp, có đứt nối vì bị tường vách ngăn đứt. Thử hỏi, vậy khi cái thấy suốt ra ngoài thì nó phải có dấu nối lại, mà có dấu nối thành ra cái thấy giống như một vật. Mê mình theo vật là vậy đó.
CHÁNH VĂN:
Phật bảo A-nan: “Tất cả các thứ trong ngoài lớn nhỏ ở thế gian đều thuộc về tiền trần, chẳng nên nói tánh thấy có co giãn.
Thí như món đồ vuông, trong ấy thấy hư không vuông. Nay Tôi lại hỏi ông, trong món đồ vuông này nhìn thấy hư không vuông, là nhất định vuông hay không nhất định vuông? Nếu nhất định vuông, thì khi ở trong món đồ tròn, hư không đáng lẽ chẳng tròn. Nếu không nhất định thì khi ở trong món đồ vuông đáng lẽ hư không chẳng vuông. Ông nói chẳng biết nghĩa này thế nào, nghĩa tánh là như thế sao còn hỏi là thế nào?
A-nan! Nếu muốn nhập được tánh không vuông tròn, chỉ trừ bỏ cái vuông của đồ vật, thì biết thể hư không vốn không vuông; không nên nói phải bỏ cái tướng vuông của hư không.
Nếu như ông hỏi khi vào nhà cái thấy rút nhỏ lại, vậy khi ngước xem mặt trời, há ông kéo tánh thấy giãn ra ngang với mặt trời? Nếu bị tường vách ngăn ép, tánh thấy phải đứt đoạn, thì khi xoi một lỗ nhỏ, sao không thấy dấu nối? Nghĩa ấy chẳng đúng!
GIẢNG GIẢI:
Phật nói: Tất cả các thứ lớn nhỏ trong ngoài ở thế gian đều thuộc về tiền trần. Câu này xem như tóm tắt hết ý nghĩa rồi.
Nghĩa là mọi thứ ở trong thế gian này dù lớn dù nhỏ, thế này thế kia thì nó cũng đều thuộc về tiền trần chứ không phải là tánh thấy của ông, nên đâu có gì phải cho là có co giãn, lớn nhỏ. Nếu người thấy được chỗ này thì sáng tỏ được nghĩa trên, khỏi còn nghi gì nữa!
Vì ông đồng hóa tánh thấy của ông với tiền trần, nhận tiền trần là ông nên ông mới có cái nghi đó. Cớ gì ông cứ dính vào tiền trần đó mãi mà không chịu soi trở lại? Đây là chỗ Phật ngầm đánh thức.
Phật ví dụ như hư không ở trong món đồ vuông, vuông đó là món đồ vuông thôi chứ không phải là hư không vuông. Cũng vậy, tánh thấy thấy xa thấy gần, thấy nhỏ thấy lớn là thuộc về tiền trần có lớn có nhỏ, có xa có gần chứ không phải tánh thấy có xa gần, lớn nhỏ. Cũng như hư không ở trong món đồ vuông thì cũng đâu phải là hư không vuông, chỉ là món đồ vuông thôi. Nếu thật sự hư không vuông thì khi chúng ta để hư không vào món đồ tròn thì hư không cũng không tròn được, bởi nó cố định vuông rồi.
Quả thật, hư không đâu có vuông tròn nhưng mà người mê thì tưởng hư không có vuông tròn. Đây cũng giống như vậy, thấy tiền trần rồi mê mất mình theo tiền trần đó, thành ra bị lầm là chỗ đó.
Phật lại bảo, ông nói chẳng biết nghĩa này thế nào thì nghĩa tánh nó rõ ràng như thế rồi còn nghi là thế nào gì nữa!
Đây Phật dạy kỹ là, nếu muốn nhập vào tánh không vuông tròn thì chỉ cần trừ bỏ cái vuông của đồ vật vì biết thể của hư không vốn không phải vuông, chứ không phải là dẹp bỏ luôn cái tướng vuông của hư không vì hư không đâu có tướng gì mà dẹp.
Chỗ này cần cẩn thận!
Nghĩa là muốn nhập được tánh không vuông tròn thì chỉ trừ các món đồ đi là xong.
Là rõ được thể hư không vốn rỗng rang, thênh thang chứ không phải là cố trừ cái tướng vuông của hư không cho nhọc nhằn. Cũng vậy, rộng hẹp hay ngăn đứt, thì đó là tướng của tiền trần đâu có can hệ gì đến tánh thấy. Cho nên, chỉ cần quên tiền trần mà soi lại tánh thấy thì liền tỏ ngộ tánh trùm khắp xưa nay thông suốt, chưa từng có rộng-hẹp đứt-nối, chứ không phải cố trừ cái tướng rộng-hẹp của tánh thấy.
Nên đây Phật mới nói nếu ông lầm như vậy thì khi nhìn gần, cho tánh thấy có co rút, rồi khi nhìn xa lại cho tánh thấy có kéo giãn ra, vậy tánh thấy là vật rồi. Vì là vật cho nên nó mới có đứt có nối, mà đã là một vật thì đâu còn là tánh thấy. Đó là chỗ mê.
Hơn nữa, nếu thật sự nó có rút lại, có kéo dài ra thì lấy cái gì rút lại, lấy cái gì kéo dài ra? Là có thêm cái thứ hai nữa để rút nó lại, rồi cái thứ hai kéo dài ra, tức là thêm cái ngã nữa, thành ra thêm một lớp lầm nữa.
Phật bảo A-nan là ông bị cái tưởng phân biệt theo tiền trần mà thành ngại. Hay nói chung lại là chúng sanh bị cái tưởng phân biệt theo tiền trần mà thành ra ngăn ngại.
Cũng chính cái tưởng phân biệt này, nó gạt chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp đến nay.
Đó là chỗ mà mỗi người cần phải sáng tỏ để tỉnh trở lại không có bị gạt nữa. Mỗi người cần phải quên cái thấy đây kia để sáng tỏ trở lại tánh thấy. Thông suốt được chỗ đó thì cái thấy trùm khắp, không ngăn ngại.
Như Ngài Thiện Đạo, một hôm đi dạo núi với Ngài Thạch Đầu, Ngài Thạch Đầu bảo:
- Ông hãy chặt cái cây trước mặt cho ta, nó làm ngại ta!
Đi vào núi, thấy có cây ở trước nên Ngài bảo Ngài Thiện Đạo hãy chặt cái cây đó vì nó ở trước làm ngại.
Ngài Thiện Đạo thưa:
- Con không có đem dao theo.
Đang đi dạo núi chơi thì đâu có đem theo dao.
Nhưng Ngài Thạch Đầu lại có đem theo, nên Ngài rút dao ra, trở ngược đầu lại, đưa cho Ngài Thiện Đạo. Ngài Thiện Đạo thưa:
- Sao chẳng đưa đầu kia?
Ngài Thạch Đầu bảo:
- Ông dùng đầu kia để làm gì?
Ngay đó Ngài Thiện Đạo liền tỏ ngộ.
Ngài Thiện Đạo còn mắc kẹt theo đầu này đầu kia. Ngài Thạch Đầu gạn hỏi lại: “Dùng đầu kia để làm gì?”, thì ngay đây Ngài Thiện Đạo quên cái thấy đây-kia, tỏ ngộ liền. Nếu còn theo đầu này đầu kia thì không ngộ nổi rồi, chỉ ngộ con dao thôi.
Nó thuộc về vật. Muốn quên chỗ thấy đây-kia thì mỗi người phải tự khéo thấy!
Đây Phật mới kết lại chỗ này. Phật nói:
CHÁNH VĂN:
Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, mê mình làm vật, bỏ mất bản tâm, bị vật xoay chuyển nên ở trong ấy lại xem có lớn nhỏ.
Nếu hay chuyển được vật tức đồng Như Lai, thân tâm tròn sáng chẳng rời nơi đạo tràng, trên đầu một mảy lông có thể chứa đựng mười phương cõi nước”.
GIẢNG GIẢI:
Phật chỉ ra cái lỗi của chúng sanh lâu nay mê mình theo vật thấy có lớn có nhỏ, có đây có kia, có đứt có nối nên bị vật chuyển làm ngại.
Phật nói nếu ngay đây hay chuyển được vật thì tâm tròn sáng vượt qua cả lớn-nhỏ, đồng với Đức Như Lai, trên đầu một sợi lông có thể chứa đựng được mười phương cõi nước. Chỗ này hơi khó hiểu, nhưng khi sáng tỏ được trở lại tự tâm rồi thì chuyện đó không có khó khăn. Các Thiền sư cũng thường khai thị: “Núi Tu-di nhét trong hạt cải”. Đó là quên cái thấy lớn-nhỏ.
Hiện nay, các nhà khoa học tuy chưa ngộ đạo nhưng cũng làm được chút đỉnh rồi. Trong con chíp nhỏ đây mà có thể chứa cả một tủ sách. Trong cái máy vi tính chứa không biết bao nhiêu quả núi v.v... Các nhà bác học chỉ dùng tình thức thôi chứ chưa phải là trí tuệ mà còn được như vậy. Còn người tu mà ngộ được tánh này, mở sáng được trí tuệ Bát-nhã thì cái thấy sẽ như thế nào! Chuyện đó đâu có khó khăn gì, rõ ràng vậy thôi.
Đây Phật nói rõ nếu hay chuyển được vật thì tức đồng Như Lai, cái thấy suốt cả lớn-nhỏ, rộng-hẹp, không còn bị các trần ngăn ngại; dù cho xa gần đều thấy trùm khắp nhưng không rời một niệm hiện tiền. Ngay một niệm hiện tiền thấy khắp tất cả, tức quên mất các tướng đây kia, như vậy đâu còn bị cái gì chuyển mà là chuyển tất cả.
Không bị các vật chuyển mà còn chuyển tất cả, tức không còn bị cái gì làm mê. Cho nên, chư Phật, chư Tổ không còn mê là vậy. Các Ngài dù nhìn thấy hết thảy mọi vật nhưng không bị vật làm mê. Còn cái thấy của chúng ta rất hạn hẹp, chỉ thấy chút ít sự vật, nhìn cho nhiều cho xa thì chỉ thấy chừng 10 cây số. Còn Phật mà mở mắt nhìn ra thấy các cõi nước và vô số vật nhiều như cát bụi.
Tuy nhiên, các Ngài thấy như không thấy vì đâu có bị các vật chuyển; thấy tất cả đều là như cái bóng, là tánh không, đều từ trong chân tâm nhiệm mầu này mà hiện, chứ không có gì khác. Còn chúng ta bị vật chuyển cho nên thấy nhiều như vậy là bị loạn.
Có vị tăng hỏi Thiền sư Hy Phụng ở Viện Chánh Cần:
- Người xưa nói rằng: “Núi sông, cõi đất là thiện tri thức chân thật của ông”. Vậy thế nào được núi sông, cõi đất là thiện tri thức?
Dẫn người xưa tức những bậc Thiền sư trước, các Ngài nói rằng núi sông, cõi đất mênh mông nhưng đều là thiện tri thức chân thật của ông chứ không có gì khác. Vậy thế nào thấy được núi sông, cõi đất là thiện tri thức?
Thiền sư Hy Phụng đáp:
- Ông gọi cái gì là núi sông, cõi đất?
Bởi vì ông kẹt vào cái tướng núi sông, cõi đất đó nên bị nó chuyển không thấy được thiện tri thức chân thật. Còn với Thiền sư thì núi sông, cõi đất đều là tướng rỗng, là tánh không, nên ngay đó thấy thấu qua hết thì sáng tỏ rõ ràng, là chuyển được vật, đâu có cái gì chướng ngại.
Cũng như Thiền sư Hành Ngôn - Huyền Giác, một hôm Ngài thượng đường nói:
- Hôm nay bậc anh hiền (tức những bậc tài giỏi) cùng nhóm họp ở đây, hải chúng đồng tụ về, cảm thông chỉ thú Phật pháp thảy đều đầy đủ. Nếu là bậc anh hiền thì chẳng cần phải đợi nói. Song mà, nói đó cũng vốn là không thì vì sao lại im lặng? Do đó sum la vạn tượng là nguồn lớn của chư Phật, tỏ sáng thì hải ấn sáng trong, còn mê mờ thì tình mê tự làm lầm.
Ngài nói, đúng lý thì không cần phải đợi nói, nhưng mà lời nói cũng vốn là không, thì tại sao lại nói không được mà im lặng? Cho nên với Ngài, nói hay im cũng đều thông suốt hết.
Lại nói ngộ thì sum la vạn tượng đều chuyển về nguồn chân, là nguồn lớn của chư Phật, là thông với chư Phật không có gì ngăn ngại. Tức là đồng về một tâm, nó hiện bày trong suốt giống như là hải ấn, còn mê thì bị tình thức che lấp cho nên lầm có ngăn ngại đây-kia.
Để thấy rằng người xưa đã thấu được như vậy, cũng chứng minh được lời chân thật của Phật đã nói rõ ràng đâu có sai. Vậy thế nào là hay chuyển được vật? Đó là chỗ mà mỗi người phải khéo quán thấu! Đây dẫn câu chuyện này để tất cả nghiên cứu thêm.
Một hôm, Ngài Nam Tuyền đưa quả cầu lên hỏi ông tăng:
- Cái kia đâu giống cái này?
Ông tăng thưa:
- Chẳng giống.
Ngài Nam Tuyền hỏi:
- Ông ở chỗ nào thấy cái kia mà nói là chẳng giống?
Ông nói “chẳng giống” tức là ông thấy được cái gì đó!
Ông tăng thưa:
- Nếu hỏi chỗ thấy của con thì Hòa thượng hãy buông vật ở trong tay xuống!
Ngài Nam Tuyền bảo:
- Nhận cho ông đủ một con mắt.
Vậy ông tăng này thấy cái gì, ông có bị cái quả cầu làm ngăn ngại không? Chuyển vật là vậy đó.
Ngài Nam Tuyền đưa quả cầu lên nói cái kia sao không giống cái này. Nếu người không có con mắt đạo thì không biết cái kia là cái nào, sẽ bị quả cầu đó làm ngại. Còn ông tăng này khéo chuyển vật nên khi bị gạn lại thì ông nói rõ: “Nếu hỏi chỗ thấy của con thì Hòa thượng hãy buông vật trong tay xuống”, thì đó là chỗ thấy của ông.
Quán kỹ chỗ này thì chúng ta sẽ thầm thông được tâm người xưa. Đó là cái khéo của các Ngài gợi ý để chúng ta quán rồi chuyển vật thì cái thấy sẽ thông suốt, không bị tiền trần làm ngại.
Đến đây Ngài A-nan còn chưa chịu nhận.
***