Thiền Tông Việt Nam
Kinh Pháp Bảo Đàn - Tào Khê Nguyên Bản giảng ký - Tập II
Phẩm 10. Phó Chúc Lưu Thông

CHÁNH VĂN:

Năm Nhâm Tý, đầu niên hiệu Thái Cực (712), Sư sai môn nhân qua chùa Quốc Ân ở Tân Châu xây tháp, đồng thời đốc thúc thợ làm. Cuối mùa hạ năm sau thì hoàn thành. Ngày 1 tháng 7, Sư nhóm đồ chúng, bảo:

- Đến tháng 8, ta muốn lìa thế gian, các ông có ai nghi điều gì cần hỏi sớm, ta sẽ giải nghi cho khiến các ông sạch hết mê. Nếu sau khi ta diệt rồi không người dạy các ông.

Pháp Hải v.v... nghe Sư nói, thảy đều rơi nước mắt mà khóc. Chỉ có Thần Hội là thần tình chẳng động, cũng không khóc. Sư bảo:

- Tiểu sư Thần Hội lại được thiện-ác bình đẳng, chê-khen chẳng động, buồn vui chẳng sanh, ngoài ra đều chẳng được. Mấy năm ở trong núi trọn tu cái đạo gì? Nay các ông buồn khóc là lo cho ai? Nếu lo cho tôi chẳng biết chỗ đi, thì tôi tự biết chỗ đi, nếu tôi không biết chỗ đi thì trọn chẳng báo trước cho các ông. Các ông buồn khóc, bởi vì chẳng biết chỗ đi của tôi, nếu biết chỗ đi của tôi, tức chẳng nên buồn khóc. Pháp tánh vốn không sanh diệt đến đi. Các ông hãy ngồi hết xuống đây, tôi sẽ nói cho một bài kệ gọi là Chân Giả Động Tĩnh kệ. Các ông học thuộc bài kệ này thì đồng với ý tôi, nương theo bài kệ này tu hành ắt chẳng mất tông chỉ.

Chúng Tăng làm lễ thỉnh Sư nói kệ:

Tất cả không có chân,

Chẳng dùng thấy nơi chân.

Nếu người thấy nơi chân,

Thấy ấy trọn chẳng chân.

Nếu hay tự có chân,

Lìa giả tức là chân.

Tự tâm chẳng lìa giả,

Không chân chỗ nào chân?

Hữu tình tức biết động,

Vô tình tức chẳng động.

Nếu tu hạnh chẳng động,

Đồng vô tình chẳng động.

Nếu tìm chân chẳng động,

Trên động có chẳng động.

Chẳng động là chẳng động,

Vô tình không giống Phật.

Hay khéo phân biệt tướng,

Nghĩa đệ nhất chẳng động.

Chỉ khởi thấy như thế,

Tức là chân như dụng.

Báo những người học đạo,

Gắng sức cần dụng ý.

Chớ đối cửa Đại thừa,

Lại chấp trí sanh tử.

Nếu ngay lời tương ưng,

Liền cùng bàn nghĩa Phật.

Nếu thật chẳng tương ưng,

Chắp tay khiến hoan hỷ.

Tông này vốn không tranh,

Tranh liền mất ý đạo.

Chấp pháp môn tranh cãi,

Tự tánh vào sanh tử.

Âm:

Nhất thiết vô hữu chân,

Bất dĩ kiến ư chân.

Nhược kiến ư chân giả,

Thị kiến tận phi chân.

Nhược năng tự hữu chân,

Ly giả tức tâm chân.

Tự tâm bất ly giả,

Vô chân hà xứ chân.

Hữu tình tức giải động,

Vô tình tức bất động.

Nhược tu bất động hạnh,

Đồng vô tình bất động.

Nhược mích chân bất động,

Động thượng hữu bất động.

Bất động thị bất động,

Vô tình vô Phật chủng.

Năng thiện phân biệt tướng.

Đệ nhất nghĩa bất động.

Đản tác như thử kiến,

Tức thị chân như dụng.

Báo chư học đạo nhân,

Nỗ lực tu dụng ý.

Mạc ư Đại thừa môn,

Khước chấp sanh tử trí.

Nhược ngôn hạ tương ưng,

Tức cộng luận Phật nghĩa.

Nhược thật bất tương ưng,

Hiệp chưởng linh hoan hỷ.

Thử tông bổn vô tránh,

Tránh tức thất đạo ý.

Chấp nghịch tránh pháp môn,

Tự tánh nhập sanh tử.

***

Đồ chúng nghe nói kệ xong, cả thảy đều làm lễ, đồng thời thể nhận ý Sư, mỗi người nhiếp tâm, y theo pháp tu hành trọn chẳng dám tranh cãi. Đã biết Sư chẳng còn ở đời lâu, Thượng tọa Pháp Hải lại lễ bái hỏi:

- Sau khi Hòa thượng tịch, y pháp sẽ trao phó cho ai?

Sư bảo:

- Tôi ở chùa Đại Phạm nói pháp cho đến hiện nay, hãy biên chép lại để truyền rộng ra, đề tên Pháp Bảo Đàn Kinh. Các ông giữ gìn lần lượt truyền trao cho nhau để độ các quần sanh. Chỉ nương theo lời nói đây, đó gọi là chánh pháp. Nay đã vì các ông mà nói pháp, nhưng chẳng trao y. Bởi vì các ông lòng tin đã thuần thục, quyết định không nghi ngờ, kham nhận việc lớn. Song y cứ theo ý kệ của Đại sư Tiên Tổ Đạt-ma đã trao phó thì y chẳng nên truyền. Kệ nói:

Ta vốn đến cõi này,

Truyền pháp cứu mê tình.

Một hoa nở năm cánh,

Kết trái tự nhiên thành.

Âm:

Ngô bản lai thử độ,

Truyền pháp cứu mê tình.

Nhất hoa khai ngũ diệp,

Kết quả tự nhiên thành.

Tổ nói thêm:

- Này thiện tri thức! Các ông mỗi người hãy lắng nghe tôi nói pháp. Mọi người các ông tự tâm là Phật chớ nghi ngờ nữa. Ngoài không một vật mà hay dựng lập, đều là bổn tâm sanh muôn pháp. Nên kinh nói: “Tâm sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi pháp diệt”.

Nếu muốn thành tựu chủng trí, cần đạt Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội. Nếu đối tất cả chỗ mà chẳng trụ tướng, đối trong tướng kia chẳng sanh yêu-ghét, cũng không lấy-bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ích, thành-hoại v.v... an nhàn, điềm tĩnh, rỗng suốt vô ngại, lặng lẽ vô tư, đây gọi là Nhất tướng tam-muội. Nếu đối tất cả chỗ đi đứng, ngồi nằm, thuần một tâm ngay thẳng, chẳng động đạo tràng thật thành tịnh độ, đây gọi là Nhất hạnh tam-muội. Nếu người đầy đủ hai thứ tam-muội, như đất có hạt giống, gồm chứa, nuôi lớn, thành thục hạt chắc. Nhất tướng và nhất hạnh cũng lại như thế. Nay tôi nói pháp, giống như cơn mưa nhuận khắp mọi nơi. Phật tánh của các ông, ví như hạt giống gặp mưa này thấm ướt thảy đều nảy mầm. Người tiếp nhận ý chỉ của tôi quyết sẽ được Bồ-đề, y theo tôi mà tu hành nhất định sẽ chứng Diệu quả. Hãy nghe tôi nói kệ:

Đất tâm chứa các giống,

Mưa khắp thảy nảy mầm.

Tình hoa đã chóng ngộ,

Quả Bồ-đề tự thành.

Âm:

Tâm địa hàm chư chủng,

Phổ vũ tất giai manh.

Đốn ngộ hoa tình dĩ,

Bồ-đề quả tự thành.

Sư nói kệ xong, lại bảo:

- Pháp ấy không hai, Tâm ấy cũng vậy. Đạo ấy thanh tịnh, cũng không các tướng. Các ông hãy dè dặt chớ quán tịnh và để tâm trống trơn. Tâm này vốn tịnh, không thể lấy bỏ. Mỗi người hãy tự gắng sức, tùy duyên khéo đi!

Bấy giờ đồ chúng làm lễ rồi lui.

***

Ngày mùng 8 tháng 7, Sư chợt bảo môn nhân:

- Tôi muốn về Tân Châu, các ông mau sửa soạn thuyền chèo!

Đại chúng buồn bã cố giữ lại, Sư bảo:

- Chư Phật ra đời vẫn thị hiện Niết-bàn. Có đến ắt có đi, lý cũng thường nhiên. Hình hài của tôi đây, về ắt có chỗ.

Chúng thưa:

- Thầy từ đây đi, bao lâu trở lại?

Sư bảo:

- Lá rụng về cội, lúc đến không báo.

Chúng lại thưa:

- Chánh pháp nhãn tạng truyền trao cho ai?

Sư bảo:

- Người có đạo thì được, người không tâm thì thông.

Lại hỏi:

- Từ đây về sau có nạn gì chăng?

Tổ bảo:

- Sau khi tôi tịch năm sáu năm sẽ có một người muốn lấy đầu tôi. Hãy nghe tôi dự ký:

Trên đầu nuôi thân (cha mẹ).

Trong miệng cần ăn.

Gặp nạn Mãn đó,

Dương Liễu làm quan.

Âm:

Đầu thượng dưỡng thân,

Khẩu lý tu xan.

Ngộ Mãn chi nạn,

Dương Liễu vi quan.

Lại bảo:

- Tôi đi khoảng 70 năm, có hai vị Bồ-tát từ phương đông đến, một xuất gia, một tại gia đồng thời giáo hóa hưng thạnh dựng lập tông của tôi, tu tạo chùa chiền, dòng pháp được tiếp nối vững mạnh.

Lại hỏi:

- Chưa biết Phật, Tổ từ trước ứng hiện đến nay, truyền trao bao nhiêu đời, mong thầy từ bi mở bày chỉ dạy.

Sư bảo:

- Phật xưa ứng hiện ra đời đã vô số chẳng thể tính hết. Nay lấy bảy Đức Phật làm trước hết.

Kiếp Trang Nghiêm của quá khứ có:

- Phật Tỳ Bà Thi

- Phật Thi Khí

- Phật Tỳ Xá Phù

Kiếp Hiền hiện nay có:

- Phật Câu Lưu Tôn

- Phật Câu Na Hàm Mâu Ni

- Phật Ca Diếp

- Phật Thích Ca Văn

Gồm bảy Đức Phật, rồi tiếp:

01. Phật Thích Ca Văn ban đầu truyền cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp.

02. Tôn giả A-nan

03. Tôn giả Thương-na-hòa-tu

04. Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa

05. Tôn giả Đề-đa-ca

06. Tôn giả Di-giá-ca

07. Tôn giả Bà-tu-mật-đa

08. Tôn giả Phật-đà-nan-đề

09. Tôn giả Phục-đà-mật-đa

10. Tôn giả Hiếp

11. Tôn giả Phú-na-dạ-xa

12. Đại sĩ Mã Minh

13. Tôn giả Ca-tỳ-ma-la

14. Đại sĩ Long Thọ

15. Tôn giả Ca-na-đề-bà

16. Tôn giả Ma-hầu-la-đa

17. Tôn giả Tăng-già-nan-đề

18. Tôn giả Già-da-xá-đa

19. Tôn giả Cưu-ma-la-đa

20. Tôn giả Xà-dạ-đa21.

21. Tôn giả Bà-tu-bàn-đầu

22. Tôn giả Ma-noa-la

23. Tôn giả Hạc-lặc-na

24. Tôn giả Sư Tử

25. Tôn giả Bà-xá-tư-đa

26. Tôn giả Bất-như-mật-đa

27. Tôn giả Bát-nhã-đa-la

28. Tôn giả Bồ-đề Đạt-ma. Ngài là Sơ Tổ ở xứ này.

29. Đại sư Huệ Khả

30. Đại sư Tăng Xán

31. Đại sư Đạo Tín

32. Đại sư Hoằng Nhẫn

Huệ Năng là Tổ thứ 33.

- Chư Tổ từ trước mỗi vị đều có tiếp nhận kế thừa. Các ông về sau hãy lần lượt lưu truyền, chớ để cho sai trái.

***

Ngày mùng 3 tháng 8 năm Quý Sửu, đầu niên hiệu Khai Nguyên (722), Sư ở chùa Quốc Ân thọ trai xong, bảo các đồ chúng:

- Các ông mỗi người hãy y theo ngôi thứ mà ngồi xuống, tôi sẽ từ biệt các ông.

Pháp Hải bạch rằng:

- Hòa thượng để lại giáo pháp gì khiến cho người mê ở đời sau thấy được Phật tánh?

Sư bảo:

- Các ông hãy lắng nghe kỹ, người mê ở đời sau nếu nhận biết chúng sanh tức là Phật tánh, nếu chẳng nhận biết chúng sanh thì tìm Phật muôn kiếp khó gặp. Nay tôi dạy cho các ông nhận biết chúng sanh của tự tâm, thấy Phật tánh của tự tâm. Muốn cầu thấy Phật, chỉ nhận biết chúng sanh, chỉ vì chúng sanh mê Phật, chẳng phải Phật mê chúng sanh. Tự tánh nếu tỏ ngộ thì chúng sanh là Phật, tự tánh nếu bị mê thì Phật là chúng sanh. Tự tánh bình đẳng thì chúng sanh là Phật, tự tánh tà hiểm thì Phật là chúng sanh. Nếu tâm các ông cong vạy tức Phật ở trong chúng sanh, một niệm ngay thẳng tức chúng sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật chính mình đó là Phật thật, chính mình nếu không có tâm Phật thì cầu Phật thật ở đâu? Tự tâm các ông là Phật, lại chớ nghi ngờ. Ngoài tâm không một vật có thể dựng lập, đều là bản tâm sanh muôn thứ pháp, nên kinh nói: “Tâm sanh muôn thứ pháp sanh, tâm diệt muôn thứ pháp diệt”. Nay tôi để lại một bài kệ từ biệt các ông gọi là “Tự Tánh Chân Phật Kệ”. Người đời sau nhận biết ý kệ này, tự thấy bản tâm, tự thành Phật tánh.

Chân như tự tánh là chân Phật,

Tà kiến ba độc đó Ma vương,

Khi có tà mê ma tại nhà,

Lúc đủ chánh kiến nhà có Phật.

Trong tánh tà kiến ba độc sanh,

Liền đó Ma vương đến ở nhà,

Chánh kiến tự trừ tâm ba độc,

Ma biến thành Phật chân không giả.

Pháp thân, báo thân và hóa thân,

Ba thân xưa nay là một thân,

Nếu nhằm trong tánh hay tự thấy,

Chính là nhân Bồ-đề thành Phật.

Vốn từ hóa thân sanh tánh tịnh,

Tánh tịnh thường ở trong hóa thân,

Tánh khiến hóa thân hành chánh đạo,

Về sau viên mãn thật không cùng.

Tánh dâm vốn là nhân tánh tịnh,

Trừ dâm tức có thân tánh tịnh,

Trong tánh mỗi tự lìa năm dục,

Thấy tánh sát-na tức là chân.

Đời nay nếu gặp môn Đốn giáo,

Chợt gặp tự tánh thấy Thế Tôn,

Nếu muốn tu hành tìm thành Phật,

Chẳng biết chỗ nào định cầu chân.

Nếu hay trong tâm tự thấy chân,

Có chân tức là nhân thành Phật,

Chẳng thấy tự tánh ngoài tìm Phật,

Dấy tâm thảy là kẻ quá si.

Pháp môn Đốn giáo này để lại,

Cứu độ người đời hãy tự tu,

Báo cho người học đạo về sau,

Chẳng khởi thấy này, rất xa xôi!

Âm:

Chân như tự tánh thị chân Phật,

Tà kiến tam độc thị Ma vương.

Tà mê chi thời ma tại xá,

Chánh kiến chi thời Phật tại đường.

Tánh trung tà kiến tam độc sanh,

Tức thị Ma vương lai trụ xá.

Chánh kiến tự trừ tam độc tâm,

Ma biến thành Phật chân vô giả.

Pháp thân báo thân cập hóa thân,

Tam thân bổn lai thị nhất thân.

Nhược hướng tánh trung năng tự kiến,

Tức thị thành Phật Bồ-đề nhân.

Bổn tùng hóa thân sanh tịnh tánh,

Tịnh tánh thường tại hóa thân trung.

Tánh sử hóa thân hành chánh đạo,

Đương lai viên mãn chân vô cùng.

Dâm tánh bổn thị tịnh tánh chân,

Trừ dâm tức thị tịnh tánh thân.

Tánh trung các tự ly ngũ dục,

Kiến tánh sát-na tức thị chân.

Kim sanh nhược ngộ Đốn giáo môn,

Hốt ngộ tự tánh kiến Thế Tôn.

Nhược dục tu hành mích tác Phật,

Bất tri hà xứ nghĩ cầu chân?

Nhược năng tâm trung tự kiến chân,

Hữu chân tức thị thành Phật nhân.

Bất kiến tự tánh ngoại mích Phật,

Khởi tâm tổng thị đại si nhân.

Đốn giáo pháp môn kim dĩ lưu,

Cứu độ thế nhân tu tự tu.

Báo nhữ đương lai học đạo giả,

Bất tác thử kiến đại du du.

***

Sư nói kệ xong, bảo:

- Các ông hãy khéo ở lại, sau khi tôi tịch, chớ làm theo tình đời buồn khóc quá đỗi, nhận người phúng điếu, thân mặc đồ tang, chẳng phải đệ tử tôi cũng chẳng phải chánh pháp.

Chỉ nhận biết bổn tâm mình, thấy bổn tánh mình, không động không tịnh, không sanh không diệt, không đi không đến, không phải không quấy, không ở không qua, e các ông tâm mê mờ, chẳng hiểu ý tôi, nay dặn dò kỹ cho các ông khiến các ông thấy tánh. Sau khi tôi tịch, nương theo đây tu hành thì như ngày tôi hiện còn, nếu trái lời dạy của tôi, dẫu tôi ở đời, cũng không có ích gì.

Sư lại nói kệ:

An nhiên chẳng tu thiện,

Thanh thản chẳng tạo ác,

Lặng lặng dứt thấy nghe,

Thênh thang tâm không mắc.

Âm:

Ngột ngột bất tu thiện,

Đằng đằng bất tạo ác,

Tịch tịch đoạn kiến văn,

Đãng đãng tâm vô trước.

Sư nói kệ xong ngồi ngay thẳng, đến canh ba, chợt bảo môn nhân: “Ta đi thôi!”.

Liền yên lặng mà tịch. Khi ấy mùi hương lạ đầy nhà, cầu vồng trắng cong tới đất, rừng cây biến thành màu trắng, chim thú kêu vang buồn bã.

Đến tháng 11, quan liêu cùng đệ tử tại gia, xuất gia trong ba quận Quảng, Thiều, Tân giành đón chân thân Sư, không ai giải quyết được, bèn thắp hương cầu nguyện rằng: “Khói hương bay chỉ về đâu, là chỗ Sư về”. Lúc đó khói hương bay thẳng hướng Tào Khê.

Ngày 13 tháng 11, dời khám chứa nhục thân Sư cùng với y bát được truyền trở về Tào Khê.

Ngày 25 tháng 07 năm kế mở khám ra, đệ tử Phương Biện lấy bột hương tô trét lên nhục thân. Môn nhân nhớ lời Sư dự ký trước là sẽ bị lấy đầu, bèn dùng lá sắc mỏng bao kín giữ chặt cổ Sư rồi đưa vào trong tháp, bỗng từ trong tháp hiện ra luồng ánh sáng trắng vọt lên trên trời, ba ngày mới tan.

Thiều Châu tâu về triều, vâng sắc lập bia ghi lại đạo hạnh của Sư. Sư hưởng thọ 76 tuổi, 24 tuổi được truyền y, năm 39 tuổi cạo tóc, nói pháp lợi sanh 37 năm, người nhận được yếu chỉ nối pháp 43 người, người ngộ đạo siêu phàm tính không hết.

Tín y do Tổ Đạt-ma truyền, tấm ma-nạp, bát báu do vua Trung Tông ban và tượng chân dung của Sư do Phương Biện đắp, cùng với những đồ dùng ở trong đạo v.v... do thị giả chủ tháp giữ gìn để trấn mãi nơi đạo tràng Bảo Lâm, lưu truyền Đàn Kinh để hiển bày tông chỉ, hưng long Tam Bảo, làm lợi ích quần sanh. 

GIẢNG:

Năm Nhâm Tý, đầu niên hiệu Thái Cực (712), Sư sai môn nhân qua chùa Quốc Ân ở Tân Châu xây tháp, đồng thời đốc thúc thợ làm. Cuối mùa hạ năm sau thì hoàn thành. Ngày 1 tháng 7, Sư nhóm đồ chúng, bảo:

- Đến tháng 8, ta muốn lìa thế gian, các ông có ai nghi điều gì cần hỏi sớm, ta sẽ giải nghi cho khiến các ông sạch hết mê. Nếu sau khi ta diệt rồi không người dạy các ông.

Khi ấy Lục Tổ đang ở chùa Bảo Lâm. Một năm trước khi tịch, Ngài sai môn nhân qua chùa Quốc Ân ở Tân Châu xây tháp (tức Ngài muốn về quê cũ). Cuối mùa hạ năm sau thì hoàn thành. Ngày mùng 1 tháng 7, Lục Tổ nhóm đồ chúng báo trước tháng sau sẽ lìa thế gian (tức báo trước một tháng ngày ra đi).

Pháp Hải v.v... nghe Sư nói, thảy đều rơi nước mắt mà khóc. Chỉ có Thần Hội là thần tình chẳng động, cũng không khóc. Sư bảo:

- Tiểu sư Thần Hội lại được thiện-ác bình đẳng, chê-khen chẳng động, buồn vui chẳng sanh, ngoài ra đều chẳng được. Mấy năm ở trong núi trọn tu cái đạo gì? Nay các ông buồn khóc là lo cho ai? Nếu lo cho tôi chẳng biết chỗ đi, thì tôi tự biết chỗ đi, nếu tôi không biết chỗ đi thì trọn chẳng báo trước cho các ông. Các ông buồn khóc, bởi vì chẳng biết chỗ đi của tôi, nếu biết chỗ đi của tôi, tức chẳng nên buồn khóc. Pháp tánh vốn không sanh diệt, đến đi. Các ông hãy ngồi hết xuống đây, tôi sẽ nói cho một bài kệ, gọi là Chân Giả Động Tĩnh kệ. Các ông học thuộc bài kệ này thì đồng với ý tôi, nương theo bài kệ này tu hành ắt chẳng mất tông chỉ.

Khi nghe Lục Tổ báo trước tháng sau sẽ đi, đa số người trong chúng đều khóc, mặc dù xuất gia tu hành nhưng chưa giải thoát, chưa đắc đạo thành ra còn có tình thế gian. Chỉ có Ngài Thần Hội thần tình chẳng động, không khóc. Tổ nhân đó sách tấn chúng. Trước, Tổ khen Ngài Thần Hội được tâm thiện-ác bình đẳng, khen-chê chẳng động. Không khóc ở đây không phải vô tình, không có tình cảm mà có đạo lý nên mới được khen ngợi, tức không giống như thế gian. Lục Tổ nhắc mọi người kiểm lại thời gian qua ở trong núi trọn tu đạo gì mà đến lúc này lại buồn khóc như thế gian? Nghĩa là công phu tu hành còn thiếu sót, tâm còn bị động theo cảnh.

“Nay các ông buồn khóc là lo cho ai?” Nếu khóc cho Tổ thì đúng không? Tổ đâu có gì để khóc cho Ngài. Tổ nói: “Tôi tự biết chỗ đi, nếu tôi không biết chỗ đi thì trọn chẳng báo trước cho các ông”. Tổ đã biết đường đi rồi thì khóc làm gì!

Ngài nhắc thêm: “Pháp tánh vốn không sanh diệt, đến đi”. Pháp tánh chân thật thì không có đến đi, sanh diệt, vậy đâu có mất mà khóc, lo buồn như thế là còn mê pháp tánh, còn phải cố gắng tu cho kỹ hơn nữa. Người hiểu đạo thì có cách để sống hay hành động hợp với đạo hơn, cũng hơi khác với người thường.

Ngài Động Sơn - Lương Giới, Tổ của Tông Tào Động, khi có chút bệnh, Ngài biết trước sắp tịch nên sai Sa-di báo tin cho Ngài Vân Cư (tức đệ tử nối pháp nhưng giáo hóa ở nơi khác), đồng thời dặn kỹ Sa-di:

- Ông đến Vân Cư, khi Vân Cư có hỏi: “Hòa thượng được an vui chăng?”, thì ông chỉ nói: “Con đường Vân Nham sắp dứt rồi!”. Nhưng ngươi nói xong phải đứng xa xa ra, e y đánh ngươi.

Sa-di lãnh sứ mệnh đi đến báo tin, nói chưa dứt lời đã bị Vân Cư đánh một gậy.

Người hiểu đạo khác với người không hiểu đạo chỗ đó, nếu người chưa đạt đạo, chưa sống được với đạo, nghe báo tin thầy sắp mất thì khóc rơi nước mắt, Ngài Vân Cư lại lấy gậy đánh. Nói “con đường Vân Nham sắp dứt” là nói theo phương tiện ngôn ngữ thế gian, lẽ thật thì con đường Vân Nham làm sao dứt, chân lý đâu thể dứt, nên Sư mới đánh một gậy, đó là trò hiểu được thầy.

Bài kệ Chân Giả Động Tĩnh:

 Tất cả không có chân,

 Chẳng dùng thấy nơi chân.

 Nếu người thấy nơi chân,

 Thấy ấy trọn chẳng chân.

Chân tức chân thật. Ngôn ngữ trong đạo không giống ngôn ngữ thế gian, theo thế gian thì “thấy được cái chân” là quá quý, Tổ lại nói “thấy được chân” thì “cái thấy” đó không phải chân thật. Tại sao? Bởi Tổ phá cái thấy ngoài tâm có pháp, tìm cái chân thật bên ngoài tâm thì không bao giờ có. Nếu còn có cái chân thật ở bên ngoài để chúng ta thấy thì cái chân đó không phải thật chân. Ngoài tâm thấy chân là thuộc về chữ nghĩa danh tự, không phải rốt ráo chân thật, thành cái thấy ấy cũng không phải chân thật, tức chưa khế hợp.

Lâm Tế - Nghĩa Huyền ba lần hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?”, ba lần bị Ngài Hoàng Bá đánh. Sư đi đến chỗ Ngài Đại Ngu, Ngài Đại Ngu khơi dậy cho thì đại ngộ, ngay đó Đại Ngu hỏi:

- Ông thấy cái gì?

Sư liền thoi vào hông Ngài Đại Ngu ba thoi!

Thấy là thấy chỗ đó! Ngày nay, nhiều người tu thiền hay trình kiến giải, có quá nhiều kiến giải để trình thì chưa phải thật ngộ. Người thấy được chân thì thấy không có chân là vậy, không còn kiến giải để trình. Ngài Lâm Tế không trình nhiều, thoi một cái là xong, chỗ thấy đó là kinh nghiệm trực tiếp, ngôn ngữ nói không hết. Nếu chỗ ngộ mà diễn tả được là thành ngôn ngữ rồi và chúng ta không cần phải nhọc tu, những người thông minh trí thức cũng hiểu đến được. Nhưng sự thật thì không phải vậy. Đó là lẽ thật cho tất cả hiểu kỹ chỗ cứu cánh của đạo.

 Nếu hay tự có chân,

 Lìa giả tức là chân.

 Tự tâm chẳng lìa giả,

 Không chân chỗ nào chân?

Tâm mà không có chân thật thì còn tìm chân thật ở chỗ nào? “Nếu hay tự có chân”. Tự mình có chân thật rồi thì “lìa giả tức là chân”. Không phải tìm chân thật ở bên ngoài, ngay tâm lìa giả tức chân, không thêm cái chân nào khác cho chúng ta thấy, còn kiếm cái chân thật để được là dư.

“Tự tâm chẳng lìa giả, Không chân chỗ nào chân?”. Tức tâm không chân thật, mà cứ muốn cầu chân, là sao? Cốt là tâm chúng ta hãy chân thật, tâm chân thì tất cả đều chân, thấy cái gì cũng chân. Tâm giả (tức tâm vọng) dù thấy cái chân cũng thành giả (vọng). Tâm chân thật dù thấy vọng cũng thành chân, vì không có mê.

Trong kinh nói khi tâm giác ngộ viên mãn thấy rõ: “Tình với vô tình đồng thành chủng trí”. Tâm giác ngộ viên mãn thì thấy tất cả đều giác, đều thành Phật. Tình là chúng sanh, có hiểu biết, có tâm. Vô tình là cây đá, ngói gạch cũng thành chủng trí tức thành Phật? Mới nghe rất khó tin, khó hiểu. Cái tách này cũng thành Phật thì chấp nhận được không? Nhưng hiểu theo nghĩa này thì thấy rõ đúng là cái tách cũng thành Phật được, bởi khi tâm giác thấy tất cả đều giác, thấy cái tách cũng giác. Cái tách thành Phật theo nghĩa đó chứ không phải cái tách thành Phật.

Cho nên chúng ta phải cẩn thận, tâm mình không chịu chân mà lo đi tìm cầu chân là thiếu sót lớn. Nhiều người học đạo không chịu chân thật cái tâm mình mà lo cầu chân bên ngoài, thế nên cầu hoài vẫn không thấy.

 Hữu tình tức biết động,

 Vô tình tức chẳng động.

 Nếu tu hạnh chẳng động,

 Đồng vô tình chẳng động.

Hữu tình có biết nên động, vô tình không biết nên chẳng động, đó là nghĩa đối đãi nhau. Nếu người tu theo hạnh chẳng động một chiều, cố ngăn dừng không cho nghĩ, không cho biết, vậy là đồng với vô tình chẳng động. Đó là thiếu trí tuệ, trái với đạo chân thật.

 Nếu tìm chân chẳng động,

 Trên động có chẳng động.

 Chẳng động là chẳng động,

 Vô tình không giống Phật.

Không phải dẹp động mà thành chẳng động. Chỗ chân thật chẳng động không phải nghĩa tách rời nhau thành hai cái động và chẳng động đối đãi nhau. Đúng nghĩa chân thật là chính ngay trên động mà có chẳng động, không phải trừ cái động thành cái chẳng động. Nhiều người tu hay lầm, trừ động để được tịnh, tức bỏ đây để được kia thành ra có tâm lấy bỏ, đó là lầm.

Nếu cho một bề chẳng động là chẳng động, không liên quan đến động, tức đối lập với động, giống loại vô tình như cây đá không biết gì, vậy là mất hạt giống Phật, làm sao giác ngộ?

Có thầy Tri viên (chăm lo vườn cây) hỏi Thiền sư Duyên Quán ở Lương Sơn:

- Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?

Thiền sư Duyên Quán đáp:

- Biết được chẳng phải là oan gia!

Hỏi:

- Sau khi biết được thì sao?

Thiền sư Duyên Quán đáp:

- Đày đến nước vô sanh đi!

Hỏi:

- Như vậy đâu không phải là chỗ y an thân lập mạng?

Thiền sư Duyên Quán đáp:

- Nước chết không chứa được rồng.

Hỏi:

- Thế nào là nước sống chứa rồng?

Thiền sư Duyên Quán đáp:

- Dậy mòi mà không thành sóng.

Hỏi:

- Bỗng khi gặp đầm nghiêng núi đổ thì thế nào?

Thiền sư Duyên Quán bước xuống giường thiền, nắm đứng thầy Tri viên bảo:

- Chớ nói ướt cái góc ca-sa của Lão Tăng.

Chỗ vô sanh chưa phải là chỗ dừng, nếu bám vào chỗ vô sanh cũng như nước chết, tức chỉ được “thể” không có “dụng”, nên nói nước chết không chứa được rồng.

Chỗ nước sống chứa rồng là nổi sóng mà không thành sóng chứ không phải trốn bỏ sóng, tức ngay động mà bất động, đó mới là khế hợp với đạo. Đến chỗ đó, dù đầm nghiêng núi đổ cũng không thể ướt cái góc ca-sa của Lão Tăng, đó mới là chỗ chân thật bất động.

 Hay khéo phân biệt tướng,

 Nghĩa đệ nhất chẳng động.

 Chỉ khởi thấy như thế,

 Tức là chân như dụng.

“Hay khéo phân biệt tướng”. Tức không phải phá hoại các tướng sai biệt, không phải không cho biết gì, vẫn cho phân biệt các tướng, các pháp, nhưng không mê trong đó, không lầm theo đó thành sai biệt. Nghĩa là, tuy phân biệt các tướng sai biệt nhưng nơi “nghĩa đệ nhất” chẳng động.

 Chúng ta thì phân biệt cảnh rồi động theo cảnh, đồng hóa với cảnh, đánh mất mình. Đây thì phân biệt tất cả mà không mất mình, đúng như chỗ Thiền sư Huyền Giác trả lời Lục Tổ: “Phân biệt cũng không phải ý”. Tuy có phân biệt các pháp sai biệt rõ ràng nhưng không mê mất thể chân thật, tức phân biệt mà lìa phân biệt. Đây là biết tất cả mà vẫn luôn luôn sáng ngời, không mê.

Như chư Tổ ngộ đạo rồi cũng phân biệt rõ ràng đúng sai, tốt xấu, nhưng phân biệt mà lìa phân biệt, không giống như người mê, vọng chấp theo tướng phân biệt thành kia-đây ngăn cách. “Chỉ khởi thấy như thế, tức là chân như dụng”. Thấy được như thế tức là diệu dụng của chân như, từ chân như khởi, không rời chân như, thể dụng không hai. Được vậy tức dụng mà thường chân, chân mà đầy đủ dụng, không có chỗ cho cái mê xen vào.

 Báo những người học đạo,

 Gắng sức cần dụng ý.

 Chớ đối cửa Đại thừa,

 Lại chấp trí sanh tử.

Cửa Đại thừa thênh thang rộng lớn siêu thoát vượt lên phân biệt đối đãi, không kẹt ở chỗ lấy-bỏ kia-đây. Đem trí phân biệt lấy-bỏ kia-đây là trái với cửa Đại thừa, còn lấy bỏ thì còn trong sanh diệt, đó là trí sanh tử. Tu ở giai đoạn đầu chúng ta cũng phải bỏ giả cầu chân, bỏ động về tịnh, vì mới nên phải dạy như thế. Nhưng đến chỗ rốt ráo phải vượt lên cả chân và giả, động và tịnh, không còn trong sanh diệt lấy bỏ.

Bỏ đây cầu kia ví như bỏ giả cầu chân, nếu được cái chân thì về sau cũng mất vì có được phải có mất. Chính mình sẵn có chân thì còn được gì nữa, lại cầu ở đâu! Nếu cầu chân tức cái chân ở ngoài chúng ta. Ví như chúng ta thấy ngoài sanh tử có Niết-bàn, bỏ sanh tử cầu Niết-bàn, đó cũng thuộc về trí sanh tử. Chúng ta thường mắc kẹt trên ngôn ngữ rất nhiều, nghe nói tu là phải bỏ bờ này đến bờ kia, tức bỏ bờ sanh tử đến bờ Niết-bàn. Nhưng nếu còn có bờ Niết-bàn để đến thì không phải Niết-bàn, bởi Niết-bàn là vô sanh, có chỗ đến là sanh rồi. Người học đạo chân thật chớ lầm trong đó.

 Nếu ngay lời tương ưng,

 Liền cùng bàn nghĩa Phật.

 Nếu thật chẳng tương ưng,

 Chắp tay khiến hoan hỷ.

Lục Tổ dạy, nếu ngay lời nói khéo được tương ưng, khế hợp tức tri âm với nhau, thông cảm nhau, như vậy có thể cùng nhau bàn nghĩa Phật. Nếu không tương ưng, không khế hợp thì chắp tay hoan hỷ, không nên tranh cãi chống trái nhau, không phải không tương ưng rồi đối xử thành trái nghịch.

 Tông này vốn không tranh,

 Tranh liền mất ý đạo.

 Chấp pháp môn tranh cãi,

 Tự tánh vào sanh tử.

Tông của Tổ dạy đây vốn không có tranh cãi hơn thua, nếu đem tâm tranh cãi hơn thua vào trong đây là trái với đạo, không hợp với Tổ. Người chấp theo pháp môn tranh cãi, thích tranh cãi thì tự tánh đi vào sanh tử, trái xa với con đường giác ngộ chân thật. Bởi tranh cãi là còn tâm hơn thua, nuôi lớn thêm cái ngã, thêm lớn vô minh, vào sâu trong sanh tử. Phải vô ngã mới ra khỏi sanh tử.

Thấu suốt được bài kệ này tiến tu thì không sợ lạc, rõ được chân giả không còn lầm. Nương theo đây tu hành không đánh mất Tông chỉ của Tổ.

Đồ chúng nghe nói kệ xong, cả thảy đều làm lễ, đồng thời thể nhận ý Sư, mỗi người nhiếp tâm y theo pháp tu hành trọn chẳng dám tranh cãi. Đã biết Sư chẳng còn ở đời lâu, Thượng tọa Pháp Hải lại lễ bái hỏi:

- Sau khi Hòa thượng tịch, y pháp sẽ trao phó cho ai?

Sư bảo:

- Tôi ở chùa Đại Phạm nói pháp cho đến hiện nay, hãy biên chép lại để truyền rộng ra, đề tên Pháp Bảo Đàn Kinh. Các ông giữ gìn lần lượt truyền trao cho nhau để độ các quần sanh. Chỉ nương theo lời nói đây, đó gọi là chánh pháp. Nay đã vì các ông mà nói pháp, nhưng chẳng trao y. Bởi vì các ông lòng tin đã thuần thục, quyết định không nghi ngờ, kham nhận việc lớn. Song y cứ theo ý kệ của Đại sư Tiên Tổ Đạt-ma đã trao phó thì y chẳng nên truyền. Kệ nói:

 Ta vốn đến cõi này,

 Truyền pháp cứu mê tình.

 Một hoa nở năm cánh,

 Kết trái tự nhiên thành.

Lục Tổ cho biết Ngài không còn ở đời lâu nữa, theo thông lệ thời ấy là Tổ sẽ truyền pháp, truyền y, như Lục Tổ cũng được truyền y từ Ngũ Tổ, thế nên Ngài Pháp Hải đại diện chúng để thưa hỏi thêm về việc trao phó y pháp. Lục Tổ bảo: “Tôi ở chùa Đại Phạm nói pháp cho đến hiện nay, hãy biên chép để truyền rộng ra, đề tên là Pháp Bảo Đàn Kinh”. Đó là truyền pháp, nhưng không truyền y.

Quả thật, “pháp đây” mới trọng yếu để tu hành được độ thoát ra khỏi đường mê, thành tựu được việc lớn xuất thế cũng là ở pháp này, chứ không phải ở cái y. Trước kia phải truyền y do những hoàn cảnh đặc biệt, như Tổ Bồ-đề Đạt-ma là người Ấn qua Trung Hoa truyền pháp cho Tổ Huệ Khả là người Trung Hoa, khi đó nhiều người chưa biết nên phải dùng y bát làm tin là được truyền. Tổ Huệ Khả truyền cho Tổ Tăng Xán cũng trong thời khó khăn, chỉ thầy trò truyền nhau, ít người biết nên cũng phải có y bát làm tin. Tuy nhiên, làm Tổ là ở pháp không phải ở y, đắc pháp mới làm Tổ. Người lầm theo phàm tình nên tranh giành y bát để làm Tổ, nhưng chưa ngộ được pháp thì đâu có làm Tổ được. Còn ngộ được pháp rồi tuy không được y bát cũng làm Tổ được vậy.

Cho nên Lục Tổ bảo tới đây không truyền y bát nữa, cũng là thuận theo ý Tổ Đạt-ma chỉ truyền đến đây là dừng. Bởi truyền y khiến sanh nhiều sự tranh giành, do đó mà quên mất pháp. Lục Tổ dạy: “Bởi vì các ông lòng tin đã thuần thục, quyết định không nghi ngờ, kham nhận việc lớn”. Thế nên không cần truyền y bát. Ngài nhắc bài kệ của Tổ Bồ-đề Đạt-ma:

Ta vốn đến cõi này,

Truyền pháp cứu mê tình,

Một hoa nở năm cánh,

Kết trái tự nhiên thành.

Đến đây hoa trái đã thành tựu, Thiền tông được hưng thịnh, là hợp với lời Tổ Đạt-ma.

Tổ nói thêm:

- Này thiện tri thức! Các ông mỗi người hãy lắng nghe tôi nói pháp. Mọi người các ông tự tâm là Phật chớ nghi ngờ nữa.

Lục Tổ khai thị thêm khiến mọi người xác quyết niềm tin chắc trở lại chính mình, không phải cầu bên ngoài. Ngài nói rõ Tự tâm mỗi người các ông là Phật chớ nghi ngờ nữa. Bỏ mất tự tâm mà lo đi tìm Phật bên ngoài tức bỏ gốc theo ngọn là trái với đạo. Xưa, Phật thành Phật cũng thành ở nơi tự tâm, chính tâm mới là Phật. Chúng ta tu hành cũng từ tâm mới giác ngộ, bỏ tâm cầu giác ngộ thì giác ngộ đó là ở trong kinh điển, giác ngộ bên ngoài. Chính Tâm mới là chỗ giác ngộ chân thật, thành Phật thành Tổ cũng chỗ đó. Ai cũng có cái gốc quý báu như vậy tại sao không chịu nhận trở lại mà dùng? Có phải là chỗ thiếu sót lớn không?

Có người đến hỏi Thiền sư Đại An:

- Phật ở chỗ nào?

Sư liền đáp:

- Chẳng lìa tâm.

Lìa tâm mà thấy thì thuộc về cái khác rồi. Lục Tổ nói thêm:

Ngoài không một vật mà hay dựng lập, đều là bổn tâm sanh muôn pháp. Nên kinh nói: “Tâm sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi pháp diệt”.

“Ngoài tâm không một vật nhưng nó hay dựng lập các pháp”, hiểu kỹ chỗ này là nắm được yếu chỉ tu hành. Hiện tại chúng ta thấy rõ bên ngoài đầy đủ sum la vạn tượng trước mắt, mà kinh nói ngoài tâm không một vật dễ tin không? Mới thấy trí tuệ của người giác ngộ vượt hơn người mê. Mới nghe tưởng nói rỗng, nhưng phải biết đây là cái thấy của bậc trí tuệ, không đồng với cái thấy của phàm phu si mê. Tuy có sum la vạn tượng muôn vàn thứ sai biệt nhưng nó vốn từ cái không một vật mà hay dựng lập, nên Tổ nói: “Ngoài không một vật mà hay dựng lập đều là bổn tâm sanh muôn pháp”. Đều từ bổn tâm hay sanh muôn pháp nghĩa là các pháp đều từ tâm sanh, vốn không riêng có tự tánh thật, tuy có mà không phải thật pháp chứ không phải không có gì cả, tức có mà không có tự ngã thật. Như vậy, nói “Không” mà không phá hoại gì hết mới đúng nghĩa “Không”, nếu phá hoại cái “có” để về cái “không” thì cái “không” đó cũng thuộc về sanh diệt. Ngay cái có thấy là không mới là yếu chỉ, thấy tất cả mà tâm vẫn giải thoát.

Ví như bóng mặt trăng hiện dưới nước, tuy thấy có nhưng tự nó vốn không có bản chất thật, không có tự tánh. Thấy hiện rõ ràng dưới nước thì đâu thể nói không có gì, nhưng nắm bắt không được nên nói không có thật tánh. Thấu rõ nghĩa này liền buông các pháp, tỏ ngộ trở lại tự tâm thì khế hợp với Tổ.

Xét kỹ xem! Nếu ngay đây thấy sắc mà không trụ nơi sắc, nghe tiếng mà không trụ nơi tiếng, ngửi mùi mà không trụ nơi mùi v.v... Tuy sáu trần hiện đầy đủ nhưng không có gì ngăn ngại, chính đó tức là không chứ không phải phá hoại thành không. Tuy rõ ràng thấy nghe đủ hết sáu trần nhưng tâm vẫn sáng ngời, sáu trần có nhưng cũng như không thì đâu có dính dáng gì.

Hiểu vậy mới thấy rõ bởi có tâm sanh nên pháp mới sanh, tâm không sanh thì pháp cũng thành diệt, nên nói: “Tâm sanh mỗi mỗi pháp sanh, tâm diệt mỗi mỗi pháp diệt”. Tâm sanh tức trụ nơi pháp, thấy có pháp này, có pháp kia, thấy thật có pháp nên pháp sanh rồi thành chướng ngại.

Nếu tâm không sanh thì pháp có cũng như không, cho nên tâm diệt thì mỗi mỗi pháp diệt, không có pháp nào chướng ngại. Vậy thì, không phải làm cho diệt mà pháp tự diệt, còn cố làm cho diệt thì pháp lại sanh, bởi cố làm là sanh tâm. Như khi ngồi thiền cố đè không cho sanh thì nó càng khởi, vì cố diệt. Còn biết bản chất của nó, không quan tâm đến thì nó tự diệt. Nắm đúng yếu chỉ là tu hành nhẹ nhàng, đúng lý, hợp đạo. Tổ lại bảo:

Nếu muốn thành tựu chủng trí, cần đạt Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội. Nếu đối tất cả chỗ mà chẳng trụ tướng, đối trong tướng kia chẳng sanh yêu-ghét, cũng không lấy-bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ích, thành hoại v.v... an nhàn, điềm tĩnh, rỗng suốt vô ngại, lặng lẽ vô tư, đây gọi là Nhất tướng tam-muội. Nếu đối tất cả chỗ đi đứng, ngồi nằm, thuần một tâm ngay thẳng, chẳng động đạo tràng thật thành tịnh độ, đây gọi là Nhất hạnh tam-muội. Nếu người đầy đủ hai thứ tam-muội, như đất có hạt giống, gồm chứa, nuôi lớn, thành thục hạt chắc. Nhất tướng và Nhất hạnh cũng lại như thế.

Lục Tổ dạy về tu Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội, nghĩa là chánh định về một tướng và một hạnh. Nhất tướng là không có hai tướng, nhất hạnh là không có hai hạnh. Muốn thành tựu tam-muội về Nhất tướng thì phải không trụ nơi tướng. Ngài dạy đối tất cả chỗ mà không trụ trên tướng, không theo tướng kia sanh yêu-ghét, lấy-bỏ mà thành hai tướng. Được vậy thì tâm tự an ổn vào chánh định.

Chúng ta thấy tướng liền trụ vào tướng rồi phân biệt, lấy-bỏ, yêu-ghét v.v... thành nhiều tướng nên động niệm, tâm mất an trụ. Còn tâm không trụ vào tướng nên tâm an trụ vào chánh định thành tam-muội.

Nhất hạnh tam-muội là hạnh thuần nhất không có xen tạp, không cong queo. “Đối tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm (trong bốn oai nghi) thuần một tâm ngay thẳng”. Tuy có đi, đứng, nằm, ngồi tức nhiều hạnh, nhưng chỉ giữ thuần một tâm ngay thẳng thì thành Nhất hạnh, đây gọi là “chẳng động đạo tràng, thật thành tịnh độ”. Như vậy, nơi nào chúng ta ở hay đi đến đều là cõi nước thanh tịnh, đều thành tịnh độ. Tịnh độ ở khắp nơi chứ không riêng một cõi nào.

Nếu đủ hai thứ tam-muội này thì Lục Tổ dạy: “như đất có hạt giống”. Đất có hạt giống tức có nhân, khi đầy đủ nhân duyên sẽ thành tựu quả giác, thành tựu trí Phật, vượt thoát trầm luân sanh tử không nghi ngờ. Không trụ tướng và một hạnh thuần nhất không xen tạp là hai thứ tam-muội cần luôn thực hành ngay trong đời sống của chúng ta, đó là căn bản mà Lục Tổ dạy. Bởi vì trụ tướng thì dính tướng, là mê mờ, ngăn ngại, không thông. Tâm có hạnh xen tạp, tâm cong queo thì phiền não rối loạn, luôn luôn bất an. Rơi vào hai cái đó là chìm sâu trong đường mê, ngược lại là đường giác. Lục Tổ dạy tu hai thứ tam-muội này là con đường giác ngộ thành Phật.

Nay tôi nói pháp, giống như cơn mưa nhuận khắp mọi nơi. Phật tánh của các ông, ví như hạt giống gặp mưa này thấm ướt thảy đều nảy mầm. Người tiếp nhận ý chỉ của tôi quyết sẽ được Bồ-đề, y theo tôi mà tu hành nhất định sẽ chứng Diệu quả.

Lục Tổ nói pháp giống như rải cơn mưa xuống đất tâm của mọi người, trong đất tâm mọi người vốn có Phật tánh tức có hạt giống giác ngộ, gặp mưa này thấm ướt liền nảy mầm tức hai bên cảm ứng nhau nên được lợi ích lớn. Ngầm chỉ chúng ta nghe pháp rồi biết tiếp nhận, y theo đó tu hành nhất định sẽ chứng Diệu quả. Đó là nhắc cho tất cả, cơ hội tốt đến với chúng ta như thế chớ có bỏ qua. Mỗi người cần phải mở lòng ra đón nhận, Phật tánh sáng suốt sẽ hiển bày, đừng để bị mãi chôn vùi sâu trong lòng đất. Đó là con đường chuyển mê thành giác, con đường này vốn đầy đủ ở nơi mỗi người, chỉ cần biết khai thác.

Hãy nghe tôi nói kệ:

 Đất tâm chứa các giống,

 Mưa khắp thảy nảy mầm.

 Tình hoa đã chóng ngộ,

 Quả Bồ-đề tự thành.

Đất tâm chứa các giống”. Mỗi người đều có mảnh đất tâm, trong đó có chứa hạt giống giác ngộ. Bởi có tâm tức có biết, có biết tức có giác, là có chứa hạt giống giác ngộ, tức có khả năng để tiếp nhận được pháp, không luống uổng. Mỗi người phải khéo tin chắc trở lại nơi chính mình, chớ chạy tìm cầu bên ngoài xa xôi mà trái với ý Tổ.

“Mưa khắp thảy nảy mầm”. Đã có đất tâm, có hạt giống, lại gặp mưa rải xuống mà không chịu nảy mầm thì sao? Thời tiết nhân duyên tương ứng là quá tốt rồi, nên thảy nảy mầm, đều thành được lợi ích, đó là một duyên lành hy hữu. Mỗi người cần phải trân trọng duyên lành này để phát triển cho xứng đáng, đừng bỏ qua!

“Tình hoa đã chóng ngộ”. Tình hoa đây không phải nói theo kiểu tình thế gian mà chỉ cho tâm hoa có cảm ứng nên gọi là tình hoa. Tức tâm cảm ứng được mưa pháp, liền chóng ngộ nở hoa giác ngộ. Chóng ngộ là ngộ tức thì, vượt ngoài suy nghĩ phân biệt, thoát khỏi tình thức so đo tính toán. Đó là trực giác, không qua trung gian của tình thức.

Đã có được tâm hoa giác ngộ rồi thì “Quả Bồ-đề tự thành”. Trong đó không còn nghi ngờ gì nữa, không phải cầu ở đâu đến. Tuy nói là thành nhưng là tự thành, tức không cầu mà tự đến, không phải cái tạo tác bên ngoài, không phải do mong cầu mới có. Đây khiến cho người học quên niệm sở đắc, không thấy có cái được, tuy thành mà không thấy có được, đó là chỗ Tổ muốn chỉ. Như vậy, thành là tự thành chứ không phải có cái để thành, bởi có cái để thành là từ bên ngoài đến, tức không phải thật.

Đó là khơi dậy niềm tự tin nơi mỗi người, ai ai cũng đều có tâm thì đều có phần, không phải lo mất phần, chỉ lo có phần mà không dám nhận. Có phần mà không dám nhận là tự thành chướng, tức tự mình chướng mình, không phải người khác làm chướng. Vậy chướng hay thông đều ở ngay chính mình, cả một kho báu sẵn trong nhà đầy đủ không thiếu, chỉ chúng ta có biết khai thác để dùng hay không thôi. Đó là ý nghĩa Lục Tổ muốn nhắc cho tất cả.

Sư nói kệ xong, lại bảo:

- Pháp ấy không hai, Tâm ấy cũng vậy. Đạo ấy thanh tịnh, cũng không các tướng. Các ông hãy dè dặt chớ quán tịnh và để tâm trống trơn. Tâm này vốn tịnh, không thể lấy bỏ. Mỗi người hãy tự gắng sức, tùy duyên khéo đi!

Bấy giờ đồ chúng làm lễ rồi lui.

Đây là những lời gần cuối nên những lời này như là tâm huyết của Tổ, chúng ta nên nghiệm kỹ, nghiệm sâu để thấy được ý Tổ. Ngài nói: “Pháp ấy không hai, tâm ấy cũng vậy”. Tức pháp ấy tâm ấy không có hai, chớ sanh hai tâm, chớ phân biệt kia đây trong đó. Có thể nói rõ hơn, “pháp ấy chính là tâm, tâm ấy chính là pháp”, không hai. Chúng ta thường thấy tâm khác, pháp khác, có tâm có pháp thành hai, gọi là ngoài tâm có pháp, ngoài tâm mà cầu pháp, khiến cho vọng cầu bên ngoài thành trái xa với ý Tổ.

“Đạo ấy thanh tịnh, cũng không các tướng”. Đạo ấy cũng không rời ngoài tâm cho nên vốn lìa các tướng, không thể đem tướng để cầu. Bởi đạo này sẵn nơi tâm, mà tâm này là bản tâm nên vốn thanh tịnh, không phải thêm bớt gì trong đó, có thêm bớt là mất thanh tịnh.

Như vậy, pháp ấy, tâm ấy, đạo ấy tuy có nhiều tên nhưng vốn không hai thể, chớ lầm theo danh tướng rồi phân chia thành hai thành ba. Khéo xoay trở lại nơi tự tâm là sẵn đủ. Theo cái phân biệt hướng ra bên ngoài mà thấy hai thấy ba là đi theo ngọn, thành vọng thấy.

“Các ông hãy dè dặt, chớ quán tịnh và để tâm kia trống trơn”. Tổ dạy đừng nghe nói nó thanh tịnh rồi đem cái tịnh để quán nó. Đem tịnh để quán là biến nó thành đối tượng, vậy là đang ở trong cái sẵn tịnh lại lập thêm một cái tịnh nữa để quán, thành ra cái tịnh thứ hai ở ngoài tâm, đó là lầm mê. Đạo ấy thanh tịnh cũng không các tướng, mà đem tướng tịnh để quán thành ra cái đạo có tướng, là trái với đạo chân thật. Hoặc để tâm trống trơn, không cho nghĩ gì để thành tịnh, đó cũng là mê, bởi thiên lệch một bên, bỏ động về tịnh hay bỏ có lấy không, cũng là trái với đạo.

Lục Tổ chỉ rõ: “Tâm này vốn tịnh, không thể lấy bỏ”. Không phải làm cho tịnh, làm cho tịnh là dư. Vậy thì còn có cái gì để lấy bỏ trong đó! Nếu không cho nghĩ để cho trống trơn, tức làm cho tịnh, là không phải cái vốn tịnh. Hoặc đem cái tịnh để quán cũng là làm cho tịnh, không phải cái vốn tịnh. Nó đã vốn tịnh thì không có thêm bớt trong đó nữa, chỉ cần như Tổ dạy “chóng ngộ” là xong. Nó vốn tịnh nhưng chúng ta quên rồi theo những vọng tưởng, đó là vọng khởi. Giờ quên những vọng đó, chóng ngộ trở lại tức nó sẵn vốn tịnh chứ không phải làm cho tịnh, nên không sợ bị mất. Cái làm cho tịnh có thể bị mất, như quán cho nó tịnh khi không quán nữa thì mất. Tuy là vốn tịnh nhưng Tổ khuyên: “Mỗi người hãy tự gắng sức”, không phải nói lý suông, bởi chúng ta còn mê, chưa thấy. Tuy khuyên hãy gắng sức nhưng lại bảo: “Tùy duyên khéo đi!”, tức chớ chấp cứng vào đó mà thành mắc kẹt, không được tự tại.

Ngày mùng 8 tháng 7, Sư chợt bảo môn nhân:

- Tôi muốn về Tân Châu, các ông mau sửa soạn thuyền chèo!

Đại chúng buồn bã cố giữ lại, Sư bảo:

- Chư Phật ra đời vẫn thị hiện Niết-bàn. Có đến ắt có đi, lý cũng thường nhiên. Hình hài của tôi đây, về ắt có chỗ.

Chúng thưa:

- Thầy từ đây đi, bao lâu trở lại?

Sư bảo:

- Lá rụng về cội, lúc đến không báo.

Chúng lại thưa:

- Chánh pháp nhãn tạng truyền trao cho ai?

Sư bảo:

- Người có đạo thì được, người không tâm thì thông.

Lại hỏi:

- Từ đây về sau, có nạn gì chăng?

Tổ bảo:

- Sau khi tôi tịch năm sáu năm sẽ có một người muốn lấy đầu tôi. Hãy nghe tôi dự ký:

 Trên đầu nuôi thân (cha mẹ),

 Trong miệng cần ăn.

 Gặp nạn Mãn đó,

 Dương liễu làm quan.

Lục Tổ biết trước sắp tịch, muốn về quê cũ tịch nên bảo môn nhân sửa soạn thuyền chèo về Tân Châu bằng đường thủy. Thấy chúng buồn bã, Lục Tổ nhắc nhở sanh tử là lẽ thường của thế gian, dù cho chư Phật là những bậc đã giác ngộ viên mãn, đã vượt thoát khỏi vòng sanh tử, nhưng đã hiện ra đời tức có sanh, có sanh thì có diệt nên có nhập Niết-bàn, phải từ giã cõi đời, dù là Phật, Tổ cũng phải vậy. Đây gọi là: “Có đến ắt có đi”, không ai tránh khỏi. Biết được như thế hãy tùy duyên mà đi thì nhẹ nhàng.

Nên nhớ thân này rồi sẽ đi theo đường của nó. Tổ nói: “Hình hài của tôi đây về ắt có chỗ”. Tổ biết chỗ kết thúc của thân này, không đồng với người mê không biết rồi thành ra lo sợ. Chắc chắn thân này sẽ đi về chỗ từ bỏ, đó là lẽ thường nhiên của thế gian, người giác ngộ phải thấy rõ như vậy để không lầm.

Hỏi: “Bao lâu trở lại?” Tổ đáp: “Lá rụng về cội, lúc đến không báo”. Tức không hẹn ngày trở lại. Hỏi về pháp truyền trao cho người, Lục Tổ bảo: “Người có đạo thì được, người không tâm thì thông”. Có đạo tức có chỗ thật tu, thật ngộ thì được truyền, không tâm tức không các tâm động niệm, phân biệt kia đây theo duyên thì thông. Như vậy, Lục Tổ truyền khắp cho tất cả kể cả chúng ta ngày nay, nếu chúng ta có đạo thì được, nếu chúng ta không tâm thì thông, không truyền riêng cho ai.

Hỏi về việc tương lai, Tổ sấm ký: “Sau khi tôi tịch năm, sáu năm sẽ có một người muốn lấy đầu tôi”. Năm sáu năm tức khoảng ba mươi năm sau.

Sau khi Tổ tịch, đại chúng vì nghe nói về sau có người đến lấy đầu Ngài nên dùng những lá xích sắt bao bọc cổ của Tổ. Khoảng nửa đêm ngày mùng ba tháng tám niên hiệu Khai Nguyên thứ 10 (tức năm 722), vị tăng giữ tháp nghe có tiếng kéo dây xích sắt, giật mình thức dậy, ngó thấy một người mặc đồ đại tang từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy có vết thương tại nơi cổ Lục Tổ. Môn đồ đem chuyện ấy trình lên quan. Quan huyện Dương Khản và Thích sử Liễu Vô Thiểm nhận được tin, truy lùng. Sau năm ngày tìm bắt được tên Trương Tịnh Mãn, người huyện Lương thuộc Nhữ Châu, khai rằng: Vừa rồi ở chùa Khai Nguyên tại Hồng Châu có vị tăng ở xứ Tân La (tức Triều Tiên) tên Kim Đại Bi thuê y đến lấy đầu Lục Tổ đem về nước cúng dường.

Quan Thích sử họ Liễu nghe lời khai, chưa gia hình, liền đến chùa Nam Hoa ở Tào Khê hỏi Sư Linh Thao là đệ tử Lục Tổ:

- Vụ án này xử như thế nào?

Thiền sư Linh Thao đáp:

- Nếu lấy luật nước mà bàn thì nên giết. Nhưng lấy nghĩa từ bi của Phật giáo thì oán thù như nhau, huống hồ gì hắn muốn cúng dường, nên tha thứ vậy.

Liễu Vô Thiểm theo lời mà tha cho, nói:

- Đúng là Phật pháp bất tư nghì.

Việc này ứng với câu sấm ký của Lục Tổ, nhục thân Ngài bị kẻ trộm tên Mãn cắt lấy đầu, lúc đó mặc đồ tang giống như hiếu tử, đồng thời Dương Khản làm quan huyện và Liễu Vô Thiểm làm quan Thích sử.

Lại bảo:

- Tôi đi khoảng 70 năm, có hai vị Bồ-tát từ phương đông đến, một xuất gia, một tại gia đồng thời giáo hóa hưng thạnh dựng lập tông của tôi, tu tạo chùa chiền, dòng pháp được tiếp nối vững mạnh.

Lục Tổ lại huyền ký thêm việc nữa là sau khi Ngài tịch khoảng bảy mươi năm sau, có hai vị Bồ-tát, một người xuất gia, một người tại gia, sẽ xuất hiện ra đời để xiển dương Thiền Tông hưng thạnh. Hai vị này, có thuyết cho là Mã Tổ Đạo Nhất và ông Bàng Uẩn là cư sĩ tại gia nhưng cả nhà đều ngộ đạo, sanh tử tự tại. Thuyết khác cho là Ngài Hoàng Bá - Hy Vận và ông Bùi Hưu là Tướng quốc tu tại gia được ngộ đạo.

Lại hỏi:

- Chưa biết Phật, Tổ từ trước ứng hiện đến nay, truyền trao bao nhiêu đời, mong thầy từ bi mở bày chỉ dạy.

Sư bảo:

- Phật xưa ứng hiện ra đời đã vô số chẳng thể tính hết. Nay lấy bảy Đức Phật làm trước hết.

Đây hỏi về Phật và Tổ ứng hiện ra đời truyền trao từ trước đến nay. Lục Tổ bảo từ xưa chư Phật ra đời nhiều không tính kể, không phải chỉ có một Đức Phật Thích Ca, nhưng đây không phải chỗ trí tuệ của phàm phu có thể biết được, nay chỉ lược nêu bảy Đức Phật làm trước rồi đến chư Tổ. Bảy Đức Phật là sáu Đức Phật quá khứ cùng với Đức Phật Thích Ca thành bảy vị.

Kiếp Trang Nghiêm của quá khứ có:

 - Phật Tỳ Bà Thi

 - Phật Thi Khí

 - Phật Tỳ Xá Phù

Kiếp Hiền hiện nay có:

 - Phật Câu Lưu Tôn

 - Phật Câu Na Hàm Mâu Ni

 - Phật Ca Diếp

 - Phật Thích Ca Văn

Gồm bảy Đức Phật.        

Kiếp Trang Nghiêm tức kiếp của quá khứ. Kiếp của chúng ta hiện tại là kiếp Hiền. Trong kinh Đại Bổn Duyên thuộc kinh Trường A Hàm, Đức Phật Thích Ca dùng trí túc mạng có kể lại cho các vị Tỳ-kheo nghe về sáu Đức Phật quá khứ.

Thứ nhất là Đức Phật Tỳ Bà Thi:

Đức Phật Tỳ Bà Thi ứng hiện ở thế gian này cách đây 91 kiếp về quá khứ, gọi là kiếp Trang Nghiêm. Khi đó, loài người sống tám mươi ngàn tuổi. Đức Phật Tỳ Bà Thi sanh ra trong dòng Sát-đế-lợi, họ Câu-ly-nhã (có chỗ gọi là Câu-lợi-nhã). Khi thành đạo, Ngài ngồi dưới cây Ba-ba-la, thuyết pháp có ba hội:

- Hội thứ nhất có một trăm sáu mươi tám ngàn đệ tử tham dự.

- Hội thứ hai có một trăm ngàn đệ tử tham dự.

- Hội thứ ba có tám mươi ngàn đệ tử tham dự.

Có hai vị đệ tử đứng đầu là Ngài Kiển-trà và Đề-xá, đệ tử thị giả tên là Vô Ưu.

Khi chưa xuất gia có con tên là Phương Ủng, cha tên là Bàn-đầu, mẹ tên là Bàn-đầu-bà-đề. Kinh thành cũng tên là Bàn-đầu-bà-đề.

Thứ hai là Đức Phật Thi Khí:

Đức Phật Thi Khí ứng hiện ở thế gian cách đây ba mươi mốt kiếp về quá khứ, cũng thuộc kiếp Trang Nghiêm. Khi đó, loài người sống bảy mươi ngàn tuổi, thuộc dòng Sát-đế-lợi, họ Câu-ly-nhã. Cha tên Minh Tướng, mẹ tên Quang Diệu, kinh thành lúc đó tên là Quang Tướng, con tên Vô Lượng. Ngài ngồi dưới cây Phân-đà-lợi thành đạo. Thuyết pháp cũng có ba hội:

- Hội thứ nhất có một trăm ngàn người.

- Hội thứ hai có tám mươi ngàn người.

- Hội thứ ba có bảy mươi ngàn người.

Hai đệ tử đứng đầu là Ngài A-tỳ-phù và Bà-bà, đệ tử thị giả tên Nhẫn Hạnh.

Thứ ba là Đức Phật Tỳ Xá Phù:

Đức Phật Tỳ Xá Phù cũng gọi là Tỳ Xá Bà. Ngài hiện ra đời cách đây khoảng 31 kiếp về quá khứ, cũng thuộc kiếp Trang Nghiêm, khi đó loài người sống sáu mươi ngàn tuổi, thuộc dòng Sát-đế-lợi họ Câu-ly-nhã, cha tên Thiện Đăng, mẹ tên Xứng Giới, con tên là Diệu Giác, kinh thành lúc đó tên Vô Dụ. Đức Phật này ngồi dưới cây Sa-la thành đạo. Thuyết pháp có hai hội:

- Hội thứ nhất có bảy mươi ngàn người.

- Hội thứ hai có sáu mươi ngàn người.

Hai vị đệ tử đứng đầu là Ngài Phù Du và Uất-đa-ma, đệ tử thị giả tên Tịch Diệt.

Đó là ba Đức Phật thuộc kiếp Trang Nghiêm của quá khứ.

Thứ tư là Đức Phật Câu Lưu Tôn:

Đức Phật Câu Lưu Tôn ứng hiện ở thế gian trong kiếp Hiền hiện tại. Loài người khi đó sống bốn mươi ngàn tuổi, sanh trong dòng Bà-la-môn họ Ca-diếp, cha tên Tự Đắc, mẹ tên Thiện Chí, con tên Thượng Thắng. Vua nước đó tên là An Hòa, kinh thành cũng tên là An Hòa. Đức Phật này ngồi dưới cây Thi-lợi-xa mà thành đạo, thuyết pháp có một hội gồm bốn mươi ngàn đệ tử tham dự.

Hai vị đệ tử đứng đầu tên Tất-ni và Tỳ-lâu, đệ tử thị giả tên Thiện Giác.

Tuy Đức Phật này ở cách xa chúng ta nhiều triệu năm, nhưng vì xuất hiện trong kiếp Hiền tức kiếp hiện tại nên di tích đến nay vẫn còn ở Nepal, thời vua A-dục đến thăm nơi đây và cho dựng trụ đá, ngày nay trụ đá vua A-dục đã gãy, còn một đoạn nằm sâu dưới lòng đất, khai quật thì thấy một đoạn nhô lên khoảng hơn một thước. Nơi đó thuộc Gotihawa cách Tilaura Kot 7 km về hướng tây nam, xưa là thành cổ Khemavati.

Thứ năm là Phật Câu Na Hàm Mâu Ni:

Phật Câu Na Hàm Mâu Ni xuất hiện ở thế gian này trong kiếp Hiền, khi đó loài người sống ba mươi ngàn tuổi, Ngài thuộc dòng Bà-la-môn, họ Ca-diếp, cha tên Đại Đức, mẹ tên Thiện Thắng, con tên Đạo Sư, vua khi đó tên Thanh Tịnh, kinh thành cũng tên Thanh Tịnh. Đức Phật này ngồi dưới cây Ô-tạm-bà-la-môn mà thành đạo. Thuyết pháp có một hội, ba mươi ngàn đệ tử tham dự.

Hai vị đệ tử đứng đầu là Thư-bàn-na và Uất-đa-lâu, đệ tử thị giả tên là An Hòa.

Di tích của Đức Phật này đến nay vẫn còn, cũng có trụ đá vua A-dục tuy nhiên đã gãy, ngày nay trụ đá gãy vẫn để nằm ngang ngay nơi di tích, địa danh Niglihawa, cách Tilaura Kot 3 km về hướng đông bắc, xưa là thị trấn cổ Sobhavati.

Thứ sáu là Đức Phật Ca Diếp:

Đức Phật Ca Diếp hiện ra đời trong kiếp Hiền này, khi đó loài người sống hai mươi ngàn tuổi, thuộc dòng Bà-la-môn, họ Ca Diếp, cha tên Phạm Đức, mẹ tên Tài Chủ, con tên Tập Quân. Vua trong nước khi đó tên Hắc Tỳ, kinh thành là Ba-la-nại. Đức Phật Ca Diếp ngồi dưới cây Ni-câu-luật thành đạo, thuyết pháp có một hội gồm hai mươi ngàn đệ tử tham dự.

Hai vị đệ tử đứng đầu là Đề-xá và Ba-la-bà, đệ tử thị giả tên Thiện Hữu.

Ngài Huyền Trang khi qua Ấn Độ thỉnh kinh về Trung Hoa, trên đường đi, Ngài đến một hang núi thấy có một tượng giống người, tóc dài quấn quanh. Nhìn kỹ, Ngài biết đây là vị Tỳ-kheo nhập Diệt tận định, tuy không còn hơi thở, tim không đập nhưng chưa chết, tức còn thức. Ngài rung linh bên tai, vị Tỳ-kheo động đậy, xuất định. Ngài Huyền Trang hỏi mới biết vị ấy là đệ tử từ thời Đức Phật Ca Diếp, nhập định chờ Đức Phật Thích Ca ra đời để trợ duyên Đức Phật Thích Ca giáo hóa. Ngài Huyền Trang nói Đức Phật Thích Ca tịch đã lâu. Vị ấy muốn nhập định lại chờ Đức Phật Di Lặc ra đời cũng trợ duyên cho Đức Phật Di Lặc giáo hóa. Ngài Huyền Trang nói như thế thì chờ lâu lắm, bây giờ Ngài có thể giúp trợ duyên cho tôi giáo hóa truyền bá chánh pháp của Đức Phật Thích Ca. Nhưng thân thể này đã không thể đầy đủ phương tiện được, nên tái sanh trở lại. Ngài Huyền Trang chỉ chỗ tái sanh ở Trung Hoa, nơi có mái ngói vàng, tức cung vua.

Theo tư liệu ghi lại, vị Tỳ-kheo tịch, dùng thần thông tái sanh ở Trung Hoa, vào gia đình ông tướng tên Uất Trì Cung. Ngài Huyền Trang khi thỉnh kinh trở về liền vào cung vua tìm nhưng không gặp, lấy làm lạ. Ngài nhập định mới biết vị ấy đã vào nhà ông tướng Uất Trì Cung, Ngài trình lên vua nhờ giúp đỡ cho vị ấy xuất gia để sau truyền bá Phật pháp, tức là Ngài Khuy Cơ.

Từ thời Đức Phật Ca Diếp nhập Diệt tận định kéo dài đến thời Phật Thích Ca, không chỉ một vị này, trong Tây Vức Ký Ngài Huyền Trang có kể thêm mấy vị nữa. Di tích của Phật Ca Diếp ngày nay không còn thấy, nhưng trong Tây Vức Ký của Ngài Huyền Trang có ghi lại trụ đá của A-dục nằm cách vườn Cấp Cô Độc mấy mươi dặm.

Sau Đức Phật Ca Diếp là Đức Phật Thích Ca.

Đức Phật Thích Ca Văn là Phật thứ bảy, giáo pháp hiện đang còn và chúng ta đang tu theo.

Sau đó truyền xuống chư Tổ, gồm 28 vị Tổ ở Ấn Độ và 5 vị Tổ ở Trung Hoa. 

Tổ thứ 01: Tôn giả Ma-ha Ca-diếp

Ngài Ma-ha Ca-diếp thuộc dòng Bà-la-môn ở nước Ma-kiệt-đà, cha tên là Ẩm Trạch, mẹ tên là Hương Chí. Ngài gặp Phật ở Tinh xá Trúc Lâm, là vị tu hạnh đầu-đà bậc nhất.

Có lần Ngài từ xa đi đến, được Phật nhường cho nửa tòa ngồi, nhưng Ngài không dám ngồi.

Ở hội Linh Sơn, khi Đức Phật đưa cành hoa sen lên, chúng hội đều không hiểu, riêng Ngài mỉm cười thầm cảm với Phật nên Phật liền ấn tâm.

Khi Phật nhập Niết-bàn, Ngài đến trễ thành tâm hướng về Đức Phật, khi ấy hai bàn chân Đức Phật từ trong kim quan duỗi ra an ủi Ngài.

Khi Phật truyền pháp cho Tổ Ma-ha Ca-diếp có truyền kệ:

Pháp gốc của pháp là Không pháp,

Pháp Không pháp cũng là Pháp.

Nay khi trao cái Không pháp,

Thì mỗi pháp đâu từng pháp.

Âm:

Pháp bổn pháp vô pháp,

Vô pháp pháp diệc pháp.

Kim phó vô pháp thời,

Pháp pháp hà tằng pháp.

Bài kệ cô đọng nhưng ý nghĩa rất sâu xa, cũng là yếu chỉ của Thiền Tông. Pháp gốc của pháp chính là Không pháp. Còn chúng ta thường học là pháp ngọn, chưa phải pháp gốc. Cái pháp Không pháp cũng là Pháp, nay khi trao phó cái pháp Không pháp thì mỗi pháp mỗi pháp rõ ra đâu từng là pháp, bởi rõ pháp gốc đó thì các pháp kia đâu phải thật.

Như vậy, pháp gốc của pháp không phải là một pháp như mọi người hiểu. Truyền pháp hay phó pháp, theo cách hiểu thường tình thế gian là Đức Phật đem pháp truyền cho Ngài Ma-ha Ca-diếp, mà Đức Phật có pháp để truyền thì Ngài Ma-ha Ca-diếp có pháp để được, có truyền có được là thuộc về pháp sanh diệt có được thì có mất. Thế nên, đó là hiểu lầm theo ngôn ngữ chữ nghĩa.

Đây chỉ rõ, nói pháp bổn pháp nhưng là Không pháp, tuy nhiên Không pháp cũng chính là Pháp. Nghĩa là không phải nói như vậy là không có gì để truyền, người tâm khế hợp là thầm chứng biết được, nhà Thiền thường gọi như người uống nước lạnh nóng tự biết, tức là có chứng biết chứ không phải nói rỗng không có gì. Thêm một ý nữa, nói Không pháp cũng là có Pháp, bởi nghe nói Không pháp rồi chấp vào đó, cho là có cái Không pháp để truyền, đó cũng là lầm!

Nay trao pháp Không pháp này, nếu ai thầm khế hợp được liền thấu rõ mỗi pháp hiện tiền đây đều không thật có pháp nào. Bởi thấy được pháp Không pháp rồi thì mỗi pháp hiện tiền đều hư dối, tất cả chỉ từ tâm hiện, đều không có thật tánh. Như vậy, không còn một pháp nào bên ngoài chướng ngại, không bị một pháp nào lầm mê, tức suốt qua tất cả pháp. Chúng ta vì thấy có pháp thật bên ngoài nên còn dính, thành có ngại. Rốt lại, xoay trở về nơi chính mình mới là trọng yếu, ngoài tâm mà thấy có pháp đều là mê. Người tu theo Thiền Tông cần phải tỏ ngộ pháp gốc (bổn pháp), đừng chỉ lo ngộ theo những pháp ngọn. Chúng ta học hiểu pháp này pháp kia đủ hết, đó đều là pháp ngọn.

Muốn ngộ pháp gốc phải đạt ý quên lời. Nghe nói “pháp”, ngộ “pháp”, liền chấp có pháp cho chúng ta hiểu, cho chúng ta ngộ, cho chúng ta được cũng là lầm, nếu có pháp cho chúng ta ngộ thì không phải bổn pháp. Khó hiểu là chỗ đó, chính vì vậy nên không ai bắt chước được.

Bởi tuy nói là pháp nhưng vốn không ngoài tâm riêng có, pháp cũng chính là tâm nên ngộ trở lại nơi tự tâm chính mình mới là yếu chỉ. Thế nên tuy nói là truyền, trao phó nhưng sự thật không có cái để truyền trao, người nhận được pháp này cũng không thật có cái để được, nhưng chính khi thấu được chỗ không có cái để trao, không có cái để nhận, là được trao, đặc biệt là chỗ đó! Tức thầy trò tâm tâm thầm hợp nhau, cảm thông nhau, gọi đó là thầm trao, truyền tâm ấn là như vậy chứ không phải có cái để truyền.

Người về sau không hiểu, nghĩ rằng truyền tâm ấn là đặc biệt phải truyền riêng trong phòng kín, đó là mắc kẹt trên ngôn ngữ rồi bị gạt. Sự thật, là tâm thầy tâm trò in nhau,  tâm ấn tâm, vốn vượt ngoài ngôn ngữ phân biệt. Đó chính là yếu chỉ truyền tâm hay ấn tâm trong Thiền tông, cũng chính là mạch sống của Thiền tông, nếu Thiền tông không có cái này thì chỉ là thiền chết! Người đứng bên ngoài bàn luận không thể đến, nên nói Thiền tông bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền. 

Tổ thứ 02: Tôn giả A-nan

Tôn giả A-nan là thị giả Đức Phật, Ngài là con của vua Hộc Phạn, em ruột của Đề-bà-đạt-đa, em con chú của Đức Thế Tôn. Khi Đức Phật còn tại thế Ngài còn ở vị Hữu học, chưa chứng quả Vô học. Sau khi Đức Phật nhập Đại Bát Niết-bàn, đến kỳ kiết tập kinh điển, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp phương tiện vấn nạn không cho Ngài vào dự để thúc đẩy Ngài tu chứng quả Vô học Ngài mới dự đại hội kiết tập kinh điển. Về sau, Tổ Ma-ha Ca-diếp truyền pháp cho Ngài, bài kệ truyền pháp:

Mỗi pháp, pháp xưa nay,

Không pháp không phi pháp.

Tại sao trong một pháp,

Có pháp có phi pháp.

Âm:

Pháp pháp bổn lai pháp,

Vô pháp, vô phi pháp.

Hà ư nhất pháp trung,

Hữu pháp hữu phi pháp.

Ý nghĩa bài kệ này là, pháp xưa nay vốn không thật có pháp, cũng không có chẳng phải pháp. Trong lẽ thật một pháp không có hai đó, vì sao giờ lại có phân biệt là pháp và phi pháp thành có hai? Bởi do thức tình phân biệt của chúng sanh nên trong lẽ thật không hai đó, lại phân có pháp và phi pháp, người thấy được đến chỗ không hai là thấy pháp. Như vậy mỗi pháp mỗi pháp hiện tiền mà chúng ta thấy, đó là cái bóng. Kinh Pháp Hoa nói: “Chỉ một việc này thật, có hai chẳng phải chân”. Có hai đã là không thật, huống nữa hiện giờ chúng ta lại thấy có quá nhiều, có vô số thứ nữa thì sao? Quả là đi xa mất gốc!

Nên nhớ! Pháp thật xưa nay không thể có nhiều thứ sai biệt, đã là pháp xưa nay thì xưa nay vẫn vậy, mà có nhiều thứ đó là quá lầm. Trong thể chân thật xưa nay không hai, rồi phân biệt thành có pháp, phi pháp, có tốt xấu thế này thế kia là đã đi lệch ra ngoài. Mỗi khi thấy vậy phải quay trở lại, còn theo nữa là càng đi xa thêm, càng mê, càng phiền não. Thấy có pháp có phi pháp rồi tranh cãi nhau, tôi nói cái này là pháp, anh nói cái này không phải pháp, theo đó chỉ thấy có phiền não, không còn thấy đâu là pháp!

Như vậy, phải khéo ngay trong mỗi pháp sai biệt, chúng ta thấy trở lại pháp thể không hai, đó là pháp xưa nay mà Tổ ấn tâm, truyền pháp là truyền chỗ đó. Còn khởi tâm phân biệt kia-đây là bị đuổi ra ngoài cửa Tổ! 

Tổ thứ 03: Tôn giả Thương-na-hòa-tu

Tôn giả Thương-na-hòa-tu thuộc dòng Tỳ-xá-đa nước Ma-đột-la, cha tên Lâm Thắng, mẹ là Kiều-xa-da. Ngài ở trong thai mẹ sáu năm mới sanh ra. Có chỗ ghi, khi mới sanh trên thân Ngài có những cái vằn giống như những miếng điều y, khi Ngài xuất gia nó trở thành y cửu điều. Lúc đầu Ngài tu tiên đã được thần thông, sau khi gặp Tổ A-nan, Ngài quay về chánh pháp, về sau được Tổ A-nan truyền pháp. Bài kệ truyền pháp:

Xưa nay truyền có pháp,

Truyền rồi nói không pháp.

Mỗi mỗi cần tự ngộ,

Ngộ rồi không không pháp.

Âm:

Bổn lai truyền hữu pháp,

Truyền liễu ngôn vô pháp.

Các các tu tự ngộ,

Ngộ liễu vô vô pháp.

“Xưa nay truyền có pháp”, nhưng “truyền rồi nói không pháp”. Hiểu theo thế gian thì không thể chấp nhận, theo lý luận của thế gian thì không thể nói như thế. Đây không nằm trong lý luận, bởi chỗ này là chỗ tự chứng tự ngộ. Ngầm chỉ rằng không phải nói rỗng, không phải nói suông, người đến nơi có thể chứng nhận rõ ràng không nghi nên nói truyền pháp. Tuy nhiên, pháp đó là tâm pháp, tâm pháp vốn không phải một vật để truyền, không phải là cái đem trao cho, không phải cái từ bên ngoài mà được. Cho nên, truyền rồi thì nói không pháp để người không lầm có cái để cho, để được. Đó là khiến cho người quên ý niệm “có cái để được”. Nhưng chính cái “không gì để được” là cái được truyền, thấy được vậy mới được truyền pháp, tức thầm hợp với Tổ. Đây là phá lầm chấp vào ngôn ngữ, nghe nói truyền pháp rồi cho rằng có pháp để truyền cho.

Chỗ đó là tự ngộ, tự ngộ làm sao để truyền? Do đó, ngộ rồi thì cũng không không pháp, tức là không thấy có pháp để được, cũng không phải hoàn toàn không có gì, vượt qua có và không. Đừng nghe nói không có gì để truyền rồi cho rằng rỗng trơn không có gì, là mắc kẹt bên không.

Vậy là không chấp vào có pháp, không chấp vào không pháp, nên chỗ này là tự ngộ tự chứng, không nằm trên ngôn ngữ luận bàn. Người đến nơi thì tự hiểu, còn đứng bên ngoài luận bàn mãi cũng không dính dáng gì!

Thiền sư Đức Sơn - Tuyên Giám khi ở chỗ Thiền sư Sùng Tín. Một hôm, Sư đứng hầu đến khuya, Thiền sư Sùng Tín bảo:

- Đêm khuya rồi ông xuống đi.

Sư kính chào bước ra, lại trở vào, thưa:

- Bên ngoài tối đen!

Ngài Sùng Tín thắp đèn cầy đưa Sư, Sư vừa định tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó, Sư liền đại ngộ, lễ bái.

Ngài Đức Sơn ngộ cái gì? Ngài Sùng Tín đưa đèn, Sư vừa tiếp lấy liền bị thổi tắt, vậy là tiếp cái gì? Được gì đây? Nhưng bảo không được gì cũng không phải, vì Ngài đã ngộ. Để thấy rằng thầy chỉ gợi ý, còn tỏ ngộ là nơi mình, không phải từ thầy mà được, nên nói: “Ngộ rồi không không pháp” là vậy. 

Tổ thứ 04: Tôn giả Ưu-ba-cúc-đa

Ngài Ưu-ba-cúc-đa thuộc dòng Thủ-đà-la ở nước Sất-lợi, cha tên Thiện Ý. Thời này còn gần Phật, thuộc về thời chánh pháp, nhân duyên giáo hóa của Tổ Ưu-ba-cúc-đa rất rộng lớn, độ rất nhiều người chứng đạo. Sử ghi, Ngài có một thất đá, mỗi khi giáo hóa một người chứng đạo, Ngài lấy thẻ tre bỏ vào thất. Một thời gian sau, thẻ tre đầy cả thất. Khi Ngài tịch, hàng môn đệ mở thất đá, lấy thẻ tre làm vật liệu để hỏa táng. Mới thấy sự giáo hóa của Ngài rộng lớn thế nào! Bài kệ Tổ Thương-na-hòa-tu truyền pháp cho Ngài:

Phi pháp cũng phi tâm,

Không tâm cũng không pháp.

Khi nói tâm pháp ấy,

Pháp ấy phi tâm pháp.

Âm:

Phi pháp diệc phi tâm,

Vô tâm diệc vô pháp.

Thuyết thị tâm pháp thời,

Thị pháp phi tâm pháp.

Phi pháp là chẳng phải pháp, phi tâm là chẳng phải tâm. Truyền pháp nhưng lại nói chẳng phải pháp, cũng chẳng phải tâm, vậy truyền cái gì? Không có tâm cũng không có pháp thì cái gì được? Được cái gì? Thấy có pháp để truyền, thấy có tâm để nhận hay thấy có pháp thật, tâm thật, đó là lầm. Ngay đó là phá cái chấp tâm, phá chấp pháp.

Dù nói tâm pháp nhưng pháp ấy không phải là tâm pháp, nó không ở trên cái tên đó, đừng bám vào cái tên rồi tưởng ra đủ thứ, hoặc hiểu thế này thế kia cũng là hiểu trên cái tên. Chỗ truyền vốn vượt ngoài cái tên, không có ở trên cái tên mà ở ngay nơi mỗi người. Đã ở ngay nơi mỗi người thì làm sao có truyền! Làm sao có được! Cho nên, chỗ này không thể đứng bên ngoài học lóm, chỉ có người đến nơi thì thầy trò cảm thông nhau, nên gọi là tâm ấn tâm, truyền pháp là như vậy. 

Tổ thứ 05: Tôn giả Đề-đa-ca

Ngài Đề-đa-ca vốn tên Hương Chúng, nhân thân phụ của Ngài mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà nên đổi tên Ngài thành Đề-đa-ca, tiếng Hoa dịch là Thông Chân Lượng. Bài kệ Tổ Ưu-ba-cúc-đa truyền pháp cho Ngài:

Tâm tự xưa nay tâm,

Bổn tâm chẳng có pháp.

Có pháp có bổn tâm,

Chẳng tâm chẳng bổn pháp.

Âm:

Tâm tự bổn lai tâm,

Bổn tâm phi hữu pháp.

Hữu pháp hữu bổn tâm,

Phi tâm phi bổn pháp.

Mới nghe qua giống như đọc thần chú, vì quá cô đọng. “Tâm tự xưa nay tâm”: Tâm tự xưa nay là tâm, không có thêm bớt trong đó. “Bổn tâm chẳng có pháp”: Tâm gọi là bổn tâm thì chẳng có pháp. Khi thấy “có pháp có bổn tâm” là không phải, cho nên rốt ráo “chẳng tâm chẳng bổn pháp”.

Tâm chân thật xưa nay chỉ là tâm, không thuộc một cái gì khác, không do tạo tác mà thành, không thêm bớt trong đó, thấy tâm thế này thế nọ là xa rồi. Bởi bổn tâm là tâm gốc sẵn có thì nó chẳng có pháp, chẳng có đối tượng. Khi thấy tâm-pháp đối đãi nhau, có tâm có pháp thì không phải bổn tâm. Tức nó lìa các duyên, không có bạn bè, nhà Thiền gọi là người chẳng cùng muôn pháp làm bạn.

Khi lập thành có pháp, rồi đối với các pháp nói là bổn tâm, đó cũng là pháp đối đãi, vì người mê nên phải tạm lập để gợi ý, không phải là bổn tâm chân thật. Vì thấy có pháp, có bổn tâm thành có hai, thế nên có lập thì có phá, rốt ráo chẳng phải tâm cũng chẳng phải bổn pháp, vượt lên ý niệm phân biệt đối đãi. Người đắc pháp là vượt qua tên đó mới đạt được ý ngoài lời. 

Tổ thứ 06: Tôn giả Di-dá-ca 

Ngài Di-dá-ca không rõ dòng họ, ban đầu Ngài tu tiên, là vị đại tiên tu hành nổi tiếng, lãnh đạo tám ngàn vị tiên. Khi gặp Tổ Đề-đa-ca, Ngài nhắc lại duyên xưa với Tổ, sáu kiếp trước hai người đã từng đồng sanh ở cõi trời Phạm Thiên.

Tổ Đề-đa-ca cũng nhớ biết được và khuyên Ngài Di-dá-ca xuất gia theo giáo pháp Đức Phật mới khỏi được sanh tử, tu tiên cũng còn ở trong sanh tử. Ngài xuất gia theo Phật pháp, sau được Tổ Đề-đa-ca truyền pháp, bài kệ truyền pháp:

Thông đạt pháp bổn tâm,

Không pháp không phi pháp.

Ngộ rồi đồng chưa ngộ,

Không tâm cũng không pháp.

Âm:

Thông đạt bổn tâm pháp,

Vô pháp vô phi pháp.

Ngộ liễu đồng vị ngộ,

Vô tâm diệc vô pháp.

Người thông đạt pháp bổn tâm thì không pháp cũng không phi pháp, tức vượt qua đối đãi. Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp, vậy là khỏi ngộ hay sao? Đây có ý sâu!

Gọi là pháp bổn tâm cũng là phương tiện ngôn ngữ, chứ bổn tâm không phải là một pháp để người duyên theo đó mà hiểu. Bởi khi chúng ta hiểu bổn tâm thì bổn tâm trở thành đối tượng để hiểu, tức không phải bổn tâm. Do đó, thông đạt được pháp bổn tâm thì vượt qua phân biệt về pháp và phi pháp, không thấy có đối đãi thành hai pháp.

Trong đó, ngộ rồi cũng thấy đồng như chưa ngộ, tức là không có cái mới, cái khác để được, chỉ là ngộ cái sẵn có vậy thôi. Tuy thấy đồng như chưa ngộ nhưng không phải giống như khi chưa ngộ, bởi chưa ngộ là mê mờ tối tăm, đây ngộ rồi liền sáng tỏ rõ ràng lẽ thật xưa nay nơi chính mình nên mới gọi là ngộ.

Trong nhà Thiền có câu: “Ngộ rồi cũng thấy là mày ngang, mũi dọc như ai”. Nhưng khác ở chỗ đã ngộ là sáng tỏ không còn mê, khi xưa thì mê. Ngay đây cũng vượt qua cái thấy phân biệt, có tâm có pháp đối đãi với nhau, bởi cái tâm đối với pháp là tâm đối đãi, tâm nhiều thứ, không phải bổn tâm. Nên nói “không tâm cũng không pháp”. Không tất cả cái tâm nhiều thứ, không tất cả cái pháp nhiều thứ, trở về cái không hai mới là chỗ truyền tâm ấn, mới là tâm ấn của Tổ. Tức là không có các thứ tâm phàm-thánh, mê-ngộ, hơn-thua, tốt-xấu, phải-quấy, không có những cái pháp hay-dở, đúng-sai, không tâm không pháp như vậy chứ không phải hoàn toàn không có tâm pháp. Nên nhớ kỹ: “Bổn tâm không có nhiều thứ, có nhiều thứ thì không phải bổn tâm”. 

Tổ thứ 07: Tôn giả Bà-tu-mật

Ngài Bà-tu-mật thuộc dòng học Phả-la-đọa ở miền Bắc Ấn, khi gặp Tổ Di-dá-ca, Tổ nhắc lại duyên xưa:

- Thầy ta là Đề-đa-ca thường nói: “Xưa kia Như Lai du hóa Bắc Ấn có nói với Tổ A-nan: “Sau khi Ta diệt độ khoảng ba trăm năm, ở nước này sẽ có vị Thánh nhân ra đời, họ Phả-la-đọa tên Bà-tu-mật, làm vị Tổ thứ bảy của Thiền Tông”. Đây là Như Lai thọ ký cho ông, ông nên xuất gia.

Ngài Bà-tu-mật cũng là người có trí nhớ biết được những kiếp xưa, nên sau khi nghe Tổ nhắc duyên xưa, Ngài thưa:

- Con cũng nhớ lại kiếp xưa thường làm vị thí chủ cúng dường Phật một bảo tòa. Như Lai thọ ký cho con rằng: “Ngươi ở kiếp Hiền sẽ được Phật pháp, làm Tổ thứ bảy”.

Nhân đó Ngài xin được xuất gia, sau được Tổ truyền pháp, bài kệ truyền pháp:

Không tâm không thể được,

Nói được chẳng gọi pháp.

Nếu rõ tâm phi tâm,

Mới hiểu tâm tâm pháp.

Âm:

Vô tâm vô khả đắc,

Thuyết đắc bất danh pháp.

Nhược liễu tâm phi tâm,

Thủy giải tâm tâm pháp.

Lời của những bậc tu chứng nói ra không đồng với những lời nói theo ngôn ngữ chữ nghĩa, nên mới nghe thì thấy khó hiểu, bởi không giống cái hiểu của chúng ta.

“Không tâm không thể được”: Không tâm không phải là không có tâm, mà không cái tâm hướng ra ngoài, không tâm chạy theo duyên, không tâm đi tìm hiểu biết đây kia. Không thể được tức là buông cái tìm cầu bên ngoài, cái có thể được, bởi có được thì có mất, buông hết cái có thể được mới là chỗ truyền pháp.

“Nói được chẳng gọi pháp”: Nói “được” thì thành ngôn ngữ, không phải chân pháp.

“Nếu rõ tâm phi tâm”: Tâm phi tâm là tâm chẳng phải tâm, tức tâm vượt lên trên tâm, vượt lên tâm phân biệt tầm thường, tâm không thuộc về đối tượng hiểu biết.

“Mới hiểu tâm tâm pháp”: Tâm tâm pháp là pháp của cái tâm vượt lên trên tâm, tức không còn có tâm và pháp đối đãi, đó là chỗ vượt ngoài ngôn ngữ phân biệt, nằm ở bên kia những trò chơi chữ. Muốn rõ được tâm này phải tự chứng nhập ở trong đó, không thể đứng bên ngoài mà biết được, đó mới là chỗ truyền pháp, chỗ ấn tâm. Nếu chưa thấu được vậy là còn đứng ngoài cửa Tổ.

Mục Lục