Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 35 - Hành Trạng Thiền Sư 6
Thiền Sư Việt Nam Giảng Giải - Phần I
Phụ Bản Trần Thái Tông
← Trở lại Đọc tiếp →

Âm:

PHỔ THUYẾT SẮC THÂN

Chư nhân đẳng, thân vi khổ bản, chất thị nghiệp nhân. Nhược tự dĩ thử vi chân, dã thị nhận tặc tác tử.

Nhĩ khả tử tế khán lai, chỉ giá sắc thân vị nhập bào thai chi nhật, na xứ đắc hữu? Cái do niệm khởi duyên hội, ngũ uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả xuất, vong chân vong bản, hiện ngụy hiện hư. Hoặc nữ hoặc nam, hoặc nghiên hoặc xú, tận thị túng tâm phóng khứ, đô vô thoái bộ hồi quy, khu trì sanh tử lộ đầu, thất khước bản lai diện mục. Do thị cung mâu ngoại nhận, thùy tri cố thủ nội khan. Lai thời sanh thị hóa sanh, đáo xứ mộng trung thuyết mộng. Ba ba lục lục, dịch dịch thông thông; dĩ huyễn vi chân, bội không xu sắc, khô lâu thược tháp hoa trâm ngọc; xú bì đại đới xạ huân lan. Tiễn la ỷ khỏa nùng huyết nang, điều diên hoa ngự thỉ niệu dũng. Như tư ngoại sức, chung thị uế căn. Bất năng giá lý tự tàm, phản hướng cá trung trước ái.

Chư nhân đẳng! Đại tự cơ quan khối lỗi, toàn bằng ty tuyến khiên trừu; lộng lai lộng khứ dữ sanh đồng, phóng hậu thu thời chân tử dạng. Tự khởi vạn ban kế hiệu, đô duyên lục tặc giao công; bất ưu lão bệnh tử lai, quản tham tửu sắc tài khứ. Đồ cạnh dăng đầu oa giác, cam vi lợi tỏa danh cương. Nhật gian phí tận hãnh cầu, dạ lý phiên thành mộng tưởng. Tích đắc nghiệp cấu như tỉnh, bất tri mấn phát tự sương. Nhất triêu hoạn nhiễm trầm kha, bách tuế chung quy đại mộng. Tâm can đông thống, phản nhược oan thù; cơ thể suy vi chân như ngạ quỷ. Thượng dục kỳ thân đảo mệnh, bất tri sát vật thương sanh. Tương kỳ nhất thế đẳng trường tùng, bất giác tứ chi chân lậu ốc. Hồn phách tuy quy quỷ giới, thi hài do ủy nhân gian. Phát mao trảo xỉ vị cập tiêu, thế thóa tân dịch tiên bính xuất. Hủ lạn tắc lưu nùng lưu huyết; ô uế tắc huân địa huân thiên. Bão hắc bất kham quán, ứ thanh chân khả ố. Bất luận bần phú, đồng nhập tử vong. Hoặc tàng ư thất tắc trùng xuất hủ sanh, hoặc khí ư lộ tắc nha xan khuyển thật. Thế nhân giai yểm tỵ nhi quá, hiếu tử phản lũy (ly) dĩ tàng; thập cốt thâu hài, yểm cách mai tủy. Quan liệm phó nhất tinh dã hỏa, thổ đôi táng vạn lý hoang sơn. Tích thời lục mấn chu nhan; kim nhật thanh khôi bạch cốt. Lệ vũ sái thời vân thảm thảm, bi phong động xứ nguyệt vi vi. Dạ lan tắc quỷ khốc thần sầu, tuế cửu tắc ngưu tàn mã tiễn. Huỳnh hỏa chiếu khai thanh thảo lý, cung thanh ngâm đoạn bạch dương sao. Bi minh bán một tỏa thanh đài, tiều mục đạp xuyên thành khê kính. Nhậm thị văn chương cái thế, túng nhiêu tài mạo khuynh thành; đáo đầu khởi hữu dị đồ, triệt để dã đồng nhất trước. Nhãn bị sắc khiên quy kiếm thụ, nhĩ tùy thanh dẫn thượng đao sơn; tỹ đầu khứu trước xú yên tinh, thiệt lý khiết lai thiết hoàn nhiệt; thân khiếp dương đồng câu quán khái, ý toan hỏa hoạch mỗi ngao tiên. Nhân gian lịch tận bách xuân thu, ngục nội phương vi nhất trú dạ.

Nhược thị tác gia cụ nhãn, trực tu tảo cấp hồi quan. Phiên thân khiêu xuất tử sanh khòa; đàn chỉ liệt khai ân ái võng. Túng nhĩ nam túng nhĩ nữ tổng thị kham tu; nhậm cừ trí nhậm cừ ngu tận giai hữu phận. Nhược vị đạt Phật tâm Tổ ý, thả tiên bằng trì giới niệm kinh; cập Phật diệc phi Tổ diệc phi tắc giới hà trì kinh hà niệm. Cư huyễn sắc diệc danh chân sắc, xử phàm thân dã thị pháp thân; phá lục tặc vi lục thần thông, du bát khổ tác bát tự tại. Tuy ngôn nhậm ma nhi nhân nhân ký nhập giá sắc thân lý, khứ dã thị nan nan.

Chư nhân đẳng! Chỉ giá sắc thân, hựu tác thập ma sanh thoát dã? Nhược vị năng thoát, tu lai thính thủ.

Kệ viết:

Vô vị chân nhân xích nhục đoàn

Hồng hồng bạch bạch mạc tương man

Thùy tri vân quyển, trường không tịnh

Thúy lộ thiên biên, nhất dạng san.

Dịch:

NÓI RỘNG SẮC THÂN

Hết thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nhân nơi nghiệp, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con.

Các ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào thai thì nơi nào được có. Bởi do niệm khởi duyên hội, năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả có. Quên thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ hoặc nam, hoặc đẹp hoặc xấu. Trọn là buông tâm chạy đi, toàn không một bước trở về, chạy rong trên đường sanh tử, mất tuốt “bản lai diện mục”. Do đó, giương mắt nhìn bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại bên trong. Khi lại, sanh là hóa sanh. Nơi đến, trong mộng nói mộng, lăng xăng lộn xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái không đến sắc. Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đãy máu tanh, giồi son phấn át thùng phân thúi. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu.

Hết thảy các người! Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo rút, đùa đến đùa đi cùng sanh một thứ, sau khi buông đi thật là dáng chết. Tự khởi muôn việc tính toán, đều do lục tặc công phá. Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ thích sắc tài rượu thịt. Luống đua đầu lằng sừng ốc cam chịu lợi ràng danh buộc. Trọn ngày dồn sức mong cầu, tối lại trở thành mộng tưởng. Chất chứa nghiệp dơ như giếng, chẳng biết tóc bạc như sương. Một hôm bệnh nặng trầm kha, trăm năm trọn về mộng lớn. Tim gan đau đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như quỷ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát sanh hại mạng.

Chỉ mong biết đời sống như tùng bá, đâu ngờ thân thể ví tựa nhà xiêu. Hồn phách tuy về cõi quỷ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc lông răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều chảy trước. Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi hám ắt xông trời xông đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng tởm. Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì giòi đục tửa sanh, hoặc ném ra đường quạ ăn chó xé. Người đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu thì lấy chiếu mền quấn giấu. Nhặt thu hài cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro đen. Khi mưa lệ rơi thì mây sầu thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng sáng hắt hiu. Đêm vắng thì quỷ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu đạp. Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế ngâm nỉ non cạnh hàng dương liễu. Bia ghi nửa chìm, rêu xanh phủ, tiều phu giậm mãi thành lối mòn. Dầu cho văn chương cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung cuộc đâu có đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối đi. Mắt bị sắc dẫn trèo lên cây kiếm, tai theo tiếng lôi tiến lên núi đao, lỗ mũi ngửi toàn mùi hôi hám, trong lưỡi ăn sắt nóng nuốt hoài, thân khiếp sợ nước đồng sôi nóng giội, ý chua cay vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm năm, trong địa ngục mới là sáng tối.

Nếu người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quan, chuyển thân nhảy khỏi vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới ái ân. Dù là nam hay nữ thảy đều tu được; dẫu rằng trí hay ngu trọn đều có phần. Nếu chưa đạt được Phật tâm Tổ ý, hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải thì giới gì trì, kinh nào tụng. Nơi sắc huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân Phật. Phá sáu thức làm sáu thần thông, dạo tám khổ thành tám tự tại Tuy nói thế ấy, mà mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ đó thật khó thay!

Hết thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát? Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây:

Vô vị chân nhân thịt đỏ au,

Hồng hồng bạch bạch chớ lầm nhau.

Ai hay mây cuộn, Không toàn tịnh,

Sương biếc bên trời, một núi xanh.

Giảng:

Hết thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nhân nơi nghiệp, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con. Ngài khuyên tất cả chúng ta nên biết thân là gốc khổ, thể chất nhân nơi nghiệp mà có, nếu cho nó thật tức là nhận giặc làm con. Nhận giặc làm con thì tan nhà nát cửa, nếu biết là giặc thì nó không phá được. Ngài ngự trên ngai vàng, hưởng thụ đủ thứ mà vẫn biết thân là gốc khổ, còn chúng ta nhận thân này là thật thì đúng là nhận giặc làm con.

Các ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào thai thì nơi nào được có. Bởi do niệm khởi duyên hội, năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả có. Xét kỹ sắc thân này khi chưa vào bào thai thì ở đâu? Bởi do chúng ta khởi niệm muốn tìm chỗ để nương gá nên theo duyên mà có thân, tướng mạo và hình dung giả tạm.

Quên thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ hoặc nam, hoặc đẹp hoặc xấu. Trọn là buông tâm chạy đi, toàn không một bước trở về, chạy rong trên đường sanh tử, mất tuốt “bản lai diện mục”. Do một niệm quên gốc mà chúng ta tìm chỗ tựa, nương tứ đại hợp thành hiện ra thân giả dối này, hoặc nam hoặc nữ, hoặc đẹp hoặc xấu rồi tự hào, buông tâm chạy đi mãi trong vòng sanh tử, không phút giây nào muốn trở về. Đó là một điều hết sức đáng buồn.

Cho đến bây giờ tuy biết tu mà cũng nghĩ mình tu cho có phước, đời sau sướng hơn, mang thân đẹp hơn, được nhiều của cải hơn, chứ không trở về với cái thật của mình. Như vậy là chúng ta đang thả trôi một đời, trồi lên hụp xuống mãi không biết dừng. Thật đáng thương.

Do đó, giương mắt nhìn bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại bên trong. Chúng ta lúc nào cũng ngó ra ngoài, ít chịu nhìn lại nơi nội tâm mình. Nhớ người này, trông người nọ, không có chút nào tỉnh thức. Bây giờ biết tu rồi thì phải dành thời gian nhìn lại mình, biết dừng lại, không đuổi theo bên ngoài.

Khi lại, sanh là hóa sanh. Nơi đến, trong mộng nói mộng, lăng xăng lộn xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái không đến sắc. Chúng ta đến đây mang thân này chỉ là hóa sanh tạm thời, như trong mộng nói mộng, qua ít năm là hết. Mỗi ngày trôi qua lăng xăng lộn xộn, vội vội vàng vàng, hơn thua phải quấy, không ngày nào đứng yên. Rối rắm đủ thứ, lấy giả cho là thật, trái với tánh Không mà đến nơi hình sắc.

Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương, cắt lụa là che đãy máu tanh, giồi son phấn át thùng phân thúi. Lời nói thật chán ngán làm sao! Trên đầu là xương sọ, bên ngoài bao bọc lớp da và mấy sợi tóc rồi cài trâm giắt ngọc. Túi da hôi thúi nên ướp xạ xông hương, cắt lụa che thân đầy một đãy máu, dùng son phấn phủ lấp thùng phân thúi. Thế mà tự hào, tự đắc lắm.

Chúng ta quen lấy giả làm thật nên kiếm cái này cái kia che đậy rồi tưởng mình thơm tho, ngang nhiên qua lại trong thiên hạ. Bây giờ nói: “Xin bà con tránh xa cái thùng phân thúi này”, chắc người ta tưởng mình điên, còn người giả dối lại cho là thật. Vậy mới thấy cả thế gian cùng điên, chúng ta điên với nhau mà không biết. Văn minh tiến bộ để khỏa lấp, che đậy những nhơ bẩn, xấu xa nhưng cuối cùng thây thúi cũng hoàn thây thúi. Rõ ràng chúng ta chỉ sống với cái tạm bợ giả dối bên ngoài mà không nhìn thẳng vào sự thật. Một ông vua có cách nhìn như vậy thật đáng kính nể.

Trang sức như thế trọn là gốc nhớp. Trang sức để khỏa lấp những cái nhơ nhớp của mình, nhưng càng trang sức thì càng thấy rõ gốc nhơ đó. Có nhơ mới trang điểm, nếu lúc nào cũng sạch sẽ, thơm như hoa sen thì trang sức làm chi?

Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu. Không biết tự thẹn mà còn tìm cách che khuất, dối gạt thiên hạ rồi hướng trong ấy mến yêu. Khổ như vậy. Những lời người xưa nói thật xót xa cho mình. Chúng ta ngu si quá đỗi, cứ chạy theo những thứ bên ngoài mà không thấy được gốc của nó.

Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo rút, đùa đến đùa đi cùng sanh một thứ, sau khi buông đi thật là dáng chết. Chúng ta như con rối, người ta cột sợi dây giật tới giât lui, con rối đi qua đi lại, dây đứt thì con rối đứng yên một chỗ. Cũng vậy, mũi còn thở tim còn đập thì chúng ta còn đi tới đi lui, nói qua nói lại. Đến khi thở ra không hít vào, tim ngừng đập thì chỉ là một thây chết.

Tự khởi muôn việc tính toán, đều do lục tặc công phá. Tính việc này việc kia, hơn thua phải quấy đều do lục tặc mắt tai mũi lưỡi thân ý đập phá, làm cho mình điên đảo.

Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ thích sắc tài rượu thịt. Chẳng nghĩ già, bệnh, chết đến với mình bất cứ lúc nào; chỉ thích tài sắc, rượu thịt rồi đắm chìm trong đó, không biết già chết đang đuổi gấp. Rượu thịt, sắc tài đó có cứu chúng ta được không? Không. Vậy mà cứ đeo đuổi, không thấy được cái gốc bên trong.

Luống đua đầu lằng sừng ốc, cam chịu lợi ràng danh buộc. Luống đua đầu lằng sừng ốc, tức là đuổi theo những cái tạm bợ nhỏ nhoi không đáng, cam chịu danh lợi buộc ràng. Danh lợi chỉ cứu mình tạm thời, sau cũng phải bỏ hết. Thế thì tại sao lại đắm mê?

Trọn ngày dồn sức mong cầu, tối lại trở thành mộng tưởng. Ban ngày mơ ước trông cầu cái gì, tối đến nằm mộng thấy như vậy.

Chất chứa nghiệp dơ như giếng, chẳng biết tóc bạc như sương. Chúng ta chất chứa nghiệp xấu ác nhiều như giếng đầy, quên rằng tóc đã bạc như sương. Ngài quở chúng ta không chịu dừng nghiệp lo tu hành, thật là đáng tiếc.

Một hôm bệnh nặng trầm kha, trăm năm trọn về mộng lớn. Bị bệnh nặng không cứu được thì trăm năm qua chỉ là một giấc mộng, vậy mà cứ tưởng thật rồi mệt mỏi với nó.

Tim gan đau đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như quỷ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát sanh hại mạng. Tới chừng bệnh nặng, tim gan đau nhức khó chịu, thân này giống như kẻ oán thù, hành hạ mình đáo để. Thân gầy ốm nằm trên giường giống như quỷ đói. Thế nhưng có chịu thôi đâu! Lại còn muốn làm heo gà trâu bò để cúng tế, cầu thần thánh gia hộ cho mình sống dai, không biết rằng làm như vậy chỉ tăng thêm sát sanh hại mạng.

Chỉ mong biết đời sống như tùng bá, đâu ngờ thân thể ví tựa nhà xiêu. Ai cũng nghĩ mình sống lâu như cây tùng cây bá, nào ngờ thân này như nhà sắp sập, gió mạnh liền ngã đổ, không gì bền chắc.

Hồn phách tuy về cõi quỷ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc lông răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều chảy trước. Khi tắt thở rồi thì hồn phách trở về cõi quỷ, chỉ thân này còn ở nhân gian, tóc lông răng móng chưa kịp tiêu mà đàm dãi máu me đều chảy.

Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi hám ắt xông trời xông đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng tởm. Thây chết để năm mười ngày thì rữa nát từ từ, máu mủ chảy trào, hôi hám xông trời đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng tởm. Bình thường thân quý với nhau, nhưng chết chừng năm bảy ngày, có ai dám lại gần nắm tay nắm chân? Nếu quý thì trước sau cũng quý, bây giờ hiện bày những thứ ghê tởm như vậy thì đâu phải là quý.

Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì giòi đục tửa sanh, hoặc ném ra đường quạ ăn chó xé. Không luận giàu nghèo, ai rồi cũng phải chết. Nếu để xác thân trong nhà thì giòi đục tửa sanh, để ngoài đường thì quạ ăn chó xé.

Người đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu thì lấy chiếu mền quấn giấu. Thây chết để năm bảy ngày không chôn thì người đi ngang phải bịt mũi. Con cháu thấy vậy xót quá, lấy chiếu mền quấn lại cho kín để người ta không gớm. Đây là hình ảnh hết sức buồn.

Nhặt thu hài cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Người biết thương cha mến mẹ thì đem hài cốt chôn cất thành mả mồ. Song lại phó mặc cho những đám lửa ma trơi chỗ đồng hoang, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông, ai muốn làm gì thì làm, rồi theo tục lệ mỗi năm đi giãy mả một lần là đủ.

Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro đen. Hồi trẻ tóc đen má hồng, ngày nay chỉ còn xương trắng tro đen.

Khi mưa lệ rơi thì mây sầu thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng sáng hắt hiu. Trời mưa mây sầu buồn bã, gió thổi trăng càng sáng hắt hiu, nấm mộ càng thêm buồn tẻ, nằm trơ vơ ngoài đồng, không còn ai biết tới.

Đêm vắng thì quỷ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu đạp. Đêm vắng, ở ngoài đồng hoang một mình giống như quỷ khóc thần sầu. Qua một năm dài, ngựa trâu đi qua đi lại giẫm đạp mả mồ.

Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế ngâm nỉ non cạnh hàng dương liễu. Chỉ còn lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ giữa mồ mả, tiếng dế ngâm nỉ non dưới hàng dương liễu. Khi đó sống với cỏ với côn trùng, chứ không còn ai tới lui.

Bia ghi nửa chìm, rêu xanh phủ, tiều phu giậm mãi thành lối mòn. Bia dựng lên để nhớ tên tuổi, nhưng lâu ngày bị lún, rêu xanh phủ. Mấy người tiều phu đi kiếm củi, giẫm đạp mãi thành đường mòn.

Dầu cho văn chương cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung cuộc đâu có đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối đi. Cuối cùng cũng đi con đường đó, chôn thân ngoài đồng vắng, chứ không còn đường nào khác. Tài sắc mấy rồi cũng thế mà thôi.

Mắt bị sắc dẫn trèo lên cây kiếm, tai theo tiếng lôi tiến lên núi đao, lỗ mũi ngửi toàn mùi hôi hám, trong lưỡi ăn sắt nóng nuốt hoài, thân khiếp sợ nước đồng sôi nóng dội, ý chua cay vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm năm, trong địa ngục mới là sáng tối. Nếu chúng ta tạo nghiệp ác thì sau khi chết, những người đắm mê sắc sẽ trèo lên cây kiếm, những người hay nghe tiếng thị phi thì trèo lên núi đao, người ưa mùi thơm thì ngửi toàn mùi hôi hám, người thích ăn này nọ thì nuốt sắt nóng, thân bị dội nước đồng sôi, người hay gắt gỏng với kẻ khác thì bị bỏ vô vạc dầu sôi... Trọn một trăm năm ở nhân gian chỉ bằng một ngày đêm ở địa ngục. Chỗ khổ mà sống dai, hành hoài không hết.

Nếu người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quan, chuyển thân nhảy khỏi vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới ái ân. Dù là nam hay nữ thảy đều tu được, dẫu rằng trí hay ngu trọn đều có phần. Người có khả năng giải thoát, đủ con mắt sáng, không bị lầm thì cần phải sớm hồi quang phản chiếu, soi lại chính mình, chuyển thân ra khỏi vòng sanh tử, trong chốc lát ân ái trói buộc đều bị cắt đứt. Như vậy người nam kẻ nữ, người trí kẻ ngu, ai tu cũng được, không ai vô phần.

Nếu chưa đạt được Phật tâm Tổ ý, hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải thì giới gì trì, kinh nào tụng. Chưa thấu suốt tâm Phật ý Tổ thì phải nương trì giới tụng kinh. Nếu tu nhận ra được bản tâm Phật tánh rồi thì Phật là ở ngoài, Tổ cũng ở ngoài. Lúc đó không nói gì trì giới tụng kinh mà hằng sống trở lại với tánh giác của mình. Bấy nhiêu là đủ.

Nơi sắc huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân Phật. Được như vậy thì nơi thân huyễn hóa vẫn thấy có cái chân thật, nơi thân phàm vẫn thấy thân Phật bên trong, nghĩa là Phật tánh hiện tiền.

Phá sáu thức làm sáu thần thông, dạo tám khổ thành tám tự tại. Đối với sáu thức chuyển thành lục thông, tám khổ thành tám tự tại. Tám khổ là sanh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc, thương yêu chia lìa, oán thù chung hội, thân năm ấm hưng thịnh. Tám tự tại là một thân hiện nhiều thân như số vi trần, thân nhiều như vi trần ở khắp các cõi Phật, thân lớn của Phật đến các thế giới, Phật hiện vô số thân, sáu căn hỗ dụng, Phật đạt tất cả pháp vẫn như không được, Phật thuyết pháp tự tại, thân trùm khắp các nơi giống như hư không. Tức là chuyển được từ thân tạm bợ vô giá trị này thành thân chân thật tự tại.

Tuy nói thế ấy, mà mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ đó thật khó thay! Tuy nói như vậy nhưng một khi đã mắc kẹt trong sắc thân rồi thì muốn bỏ rất khó. Đây là lời nhắc nhở của ngài.

Hết thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát? Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây:

Vô vị chân nhân thịt đỏ au,

Hồng hồng bạch bạch chớ lầm nhau.

Ai hay mây cuộn, Không toàn tịnh,

Sương biếc bên trời, một núi xanh.

Ngài kết thúc bằng một bài kệ:

Vô vị chân nhân thịt đỏ au. Vô vị là không có ngôi vị, chân nhân là người chân thật. Người chân thật không có ngôi vị chính là bản lai diện mục. Trong cái thân thịt đỏ au này có vô vị chân nhân, bản lai diện mục sẵn trong đó chứ không ở đâu xa.

Hồng hồng bạch bạch chớ lầm nhau. Dầu cho da hồng da trắng, cũng đừng lầm hay mắc kẹt bên ngoài, mà phải thấu cho tường tận vô vị chân nhân của mình.

Ai hay mây cuộn, Không toàn tịnh. Ai rõ được khi mây sạch rồi thì hư không hoàn toàn trong trẻo. Mây sạch là chỉ cho tâm vọng tưởng đã lặng yên, chỉ còn một bầu trời xanh hiện tiền.

Sương biếc bên trời, một núi xanh. Sáng sớm nhìn thấy ngọn núi có sương che mờ. Vì sương phủ nên không thấy rõ núi xanh. Nắng lên sương tan thì hiện ra núi xanh trời trong. Hình ảnh đó chỉ cho tánh Phật luôn sẵn có, luôn đầy đủ. Bầu trời xanh và mây, cái nào thật, cái nào giả? Sương mờ và núi xanh, cái nào lâu bền, cái nào tạm bợ? Vậy mà chúng ta theo mây, không chịu nhìn lên bầu trời xanh, vui thích với sương mà không thấy tận ngọn núi xanh. Người tu phải làm tan mây để thấy bầu trời, chiếu rọi cho sương tan để hiện ra ngọn núi xanh. Cái chân thật sẵn ở đó, không suy nghĩ mà thường biết. Che phủ chỉ là tạm bợ, suy nghĩ hơn thua phải quấy đều là giả dối.

Chúng ta tu là để không lầm nhận cái giả, không chạy theo nó, sống được với cái chân thật của mình. Đó là chúng ta giải thoát được sanh tử, tự tại đi trong thế gian. Bằng không thì lẩn quẩn trong tạm bợ giả dối, khổ đau từ kiếp này sang kiếp khác, muôn kiếp không dừng. Tất cả chúng ta phải can đảm, tự mình cứu mình, đừng trông chờ ai hết.

***

Âm:

PHỔ KHUYẾN PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM

Phù thế chi chí quý giả, duy kim ngọc nhĩ. Nhiên sát kỳ sở trọng, thẩm kỳ sở tích, phản bất cập ư thân mệnh giả dã. Giả như hữu phú quý gia nhân bái vi đại tướng, dụng hoàng kim vi giáp dĩ bị kỳ thân. Chí lâm chiến chi nhật, binh nhận ký nhiếp chi thời, hoặc khí giáp duệ binh nhi tẩu, ký đắc toàn ư nhất thân nhi dĩ, nhi hoàng kim chi giáp khởi hạ cố tai! Nãi tri hoàng kim chi trọng bất túc dĩ tỷ thân mệnh giả, thử chi vị dã.

Kim giả bất nhiên, phản quý kỳ vật nhi tiện kỳ thân, bất tri kỳ thân, hữu nan phùng giả tam. Hà giả vi tam?

Nhất giả, lục đạo chi trung duy nhân vi quý. Chí nhãn quang lạc địa chi thời, hôn hôn mộng mộng, bất tri sở xu. Hoặc nhập địa ngục, a-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh chi đạo, bất đắc vi nhân. Thị nhất nan phùng dã.

Nhị giả, ký đắc vi nhân, hoặc sanh man di chi xứ, dục tắc đồng xuyên, ngọa tắc đồng sàng, tôn ty hỗn xử, nam nữ tạp cư; bất bị nhân phong, bất điều thánh hóa. Thử nhị nan phùng dã.

Tam giả, tuy đắc sanh ư trung quốc, lục căn bất cụ, tứ thể bất toàn, manh lung ấm á, sẩm xước luy loan, khẩu tỹ tinh chiên, thân hình xú lạn; sư bất dữ cận, chúng mạc năng thân. Tuy cư hoa hạ chi trung, nhược xử cùng hoang chi ngoại. Thử tam nan phùng dã.

Kim ký vi nhân, đắc sanh ư trung quốc, hựu lục căn toàn cụ, khởi bất vi quý hồ? Phàm thế chi nhân, mỗi khu khu ư danh lợi chi đồ, thương kỳ thần lao kỳ hình; khí kỳ thân mệnh chi chí trọng, dịch ư tài hóa chi chí khinh; dữ thực bỉnh vong thê, hàm phạn vong giáp, hữu hà dị tai! Tuy ngôn thân mệnh chi chí trọng, do vị túc trọng ư chí đạo giả dã. Cố Khổng Tử viết: Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ. Lão Tử viết: Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân. Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu hổ, khởi phi tam thánh nhân khinh thân nhi trọng đạo giả tai! Ô hô! Thân mệnh chi chí trọng nhi thượng ưng xả cầu Vô thượng Bồ-đề, huống kim ngọc tài bảo chi chí khinh hựu hà tích tai! Hu, thập thất chi ấp thượng hữu trung tín, quyền thế chi nhân khởi vô thông minh hiệt tuệ giả hồ? Thảng văn tư ngôn, cố đương mẫn học, vật tự trì nghi. Kinh vân: Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục, thâm khả thống tai! Cố Khổng Tử hữu ngôn: Nhân nhi vô vi, ngô mạt như chi, hà dã dĩ hỹ!

Tường phù bách niên quang ảnh, toàn tại sát-na; tứ đại huyễn thân, khởi năng trường cửu. Mỗi nhật trần lao mịch mịch, chung triêu nghiệp thức mang mang. Bất tri nhất tánh chi viên minh; đồ sính lục căn chi tham dục. Công danh cái thế vô phi đại mộng nhất trường, phú quý kinh nhân nan miễn vô thường nhị tự. Tranh nhân tranh ngã đáo để thành không; khoa hội khoa năng tất cánh phi thật.

Phong hỏa tán thời vô lão thiếu,

Khê sơn ma tận kỷ anh hùng.

Lục mấn vị kỷ nhi bạch phát tảo xâm; hạ giả tài lâm nhi điếu giả tùy chí. Nhất bao nùng huyết trường niên khổ luyến ân tình; thất xích độc lâu tứ ý xan tham tài bảo. Xuất tức nan kỳ nhập tức, kim triêu bất bảo lai triêu.

Ái hà xuất một kỷ thời hưu,

Hỏa trạch ưu tiên hà nhật liễu.

Bất nguyện xuất ly nghiệp võng, chỉ nhân vị hữu công phu. Diêm-la vương hốt địa lai truy, Thôi tướng công khởi dung triển hạn. Hồi thủ gia thân đô bất kiến, đáo đầu nghiệp báo tự thừa đương. Quỷ vương ngục tốt nhất nhậm khi lăng; kiếm thụ đao sơn cánh vô thôi để. Hoặc nhiếp Ốc tiêu sơn hạ, hoặc tại Thiết vi sơn gian. Thụ hoạch thang tắc vạn tử thiên sanh; tao tỏa khái tắc nhất đao lưỡng đoạn. Cơ thôn nhiệt thiết, khát ẩm dung đồng. Thập nhị thời cam thụ khổ tân; ngũ bách kiếp bất kiến đầu ảnh. Thụ túc tội nghiệp, phục nhập luân hồi. Đốn thất cựu thời nhân thân, hoán khước giá hồi bì đại. Phi mao đới giác, hàm thiết phụ yên; dĩ nhục cung nhân, dụng mệnh hoàn trái. Sanh bị đao châm chi khổ, hoạt tao thang hỏa chi tai; hỗ tích oan khiên, đệ tương thực hám. Na thời truy hối, học đạo vô nhân. Hà như trực hạ thừa đương, mạc đãi kim sanh sa quá. Thích-ca Văn Phật, xả hoàng cung nhi trực vãng Tuyết Sơn, cư sĩ Bàng Công tương gia tài nhi tất trầm thương hải. Chân Vũ bất thống vương vị duy vụ tu hành; Lã Công ký tác thần tiên thượng cần tham vấn. Tô học sĩ thường thân Phật Ấn, Hàn Văn Công chung lễ Đại Điên. Bùi công đoạt hốt ư Thạch Sương, Phòng Tướng vấn pháp ư Quốc Nhất. Diệu Thiện bất chiêu phò mã thành Phật vô nghi; Lục Tổ tương ngộ khách nhân thính kinh đốn ngộ. Thiền đạo nhược vô huống vị, thánh hiền hà khẳng quy y? Hoa Lâm cảm nhị hổ tùy thân, Đầu Tử hữu tam nha báo hiểu. Lý trưởng giả giải kinh nhi thiên trù tống thực, Tu-bồ-đề đả tọa nhi Đế-thích tán hoa. Đạt-ma chích lý tây quy, Phổ Hóa dao linh đằng khứ. La-hán lai tham ư Ngưỡng Sơn hòa thượng. Nhạc đế thụ giới ư Tư Đại thiền sư. Kính Sơn chí kim do thị Long vương đả cúng, Tuyết Phong vãng tích năng sử mộc nhân khai sơn. Thử giai dĩ nghiệm chi nhân do, thiết mạc tự khinh nhi thoái khuất. Dã hồ thượng thính Bách Trượng pháp, loa sư do hộ Kim Cang kinh. Thập thiên du ngư văn Phật hiệu nhi hóa vi thiên tử, ngũ bách biển bức thính pháp âm nhi tổng tác thánh hiền. Mãng văn sám dĩ sanh thiên, long thính kinh nhi ngộ đạo. Bỉ vật thượng năng lĩnh ngộ, huống nhân hà bất hồi tâm. Hoặc hữu mai đầu khiết phạn nhi không quá nhất sanh; hoặc hữu thác lộ tu hành nhi bất tỉnh giá ý. Khởi thức Bồ-đề giác tánh cá cá viên thành; tranh tri Bát-nhã thiện căn nhân nhân cụ túc. Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt tại gia xuất gia. Bất câu tăng tục nhi chỉ yếu biện tâm, bản vô nam nữ hà tu trước tướng. Vị minh nhân vọng phân tam giáo, liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm: Nhược năng phản chiếu hồi quang, giai đắc kiến tánh thành Phật. Hựu huống nhân thân dị thất, Phật pháp nan phùng. Dục siêu lục đạo chi châu lưu, duy hữu nhất thừa chi tiệp kính. Tu cầu chánh kiến, mạc tín tà sư. Ngộ liễu phương thị nhập đầu, hành đắc thủy năng thoát tục. Bộ bộ đạp trước thật địa, đầu đầu đỉnh đới hư không. Dụng thời tắc vạn cảnh toàn chương, phóng hạ tắc nhất trần bất lập. Siêu sanh tử bất tương quan chi địa, liễu quỷ thần thứ bất phá chi cơ.

Thị phàm thị thánh nhi đồng nhập lộ đầu, hoặc oán hoặc thân nhi cộng nhất tỹ khổng. Như tư thật ngộ, thượng trệ bán đồ, hưu thuyết hướng thượng tam huyền, yếu liễu mạt hậu nhất trước. Thả đạo tức kim hoán nả cá tố mạt hậu nhất trước?

Thanh sơn đê xứ kiến thiên khoát,

Hồng ngẫu khai thời văn thủy hương.

Dịch:

RỘNG KHUYẾN PHÁT TÂM BỒ-ĐỀ

Ở đời cái quý tột chỉ là vàng ngọc mà thôi. Nhưng xét kỹ chỗ quý tiếc ấy, chẳng bằng thân mạng. Ví như có người giàu sang được phong làm đại tướng, dùng vàng ròng làm giáp để che đỡ cho thân. Đến khi lâm chiến binh đao bị thua, hoặc cởi giáp ném gươm mà chạy, mong được thân mạng an toàn mà thôi, giáp vàng ròng đâu rảnh nghĩ tiếc. Mới biết, cái quý vàng ròng chẳng bằng cái quý thân mạng, đây là thật vậy.

Ngày nay thì không thế, trái lại quý vật kia mà khinh thân này. Chẳng biết thân này khó được có ba. Thế nào là ba?

1- Trong lục đạo chỉ người là quý, đến khi nhắm mắt đi rồi, mờ mờ mịt mịt chẳng biết chỗ đến. Hoặc vào đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la chẳng được làm người. Đây là cái khó được thứ nhất.

2- Đã được làm người, lại sanh nơi mọi rợ, tắm thì đồng sông, ngủ thì chung giường, trật tự tôn ty không có, nam nữ lẫn lộn, chẳng được phong tục nhân thuần, chẳng nghe chư thánh giáo hóa. Đây là cái khó được thứ hai.

3- Dẫu được sanh nơi phồn thịnh mà sáu căn không đủ, thân thể tật nguyền, mù điếc câm ngọng, què thọt còng gù; miệng mũi hôi tanh, thân hình nhơ nhớp. Thầy chẳng được gần, chúng chẳng được thân. Tuy ở nơi phồn thịnh dường thể ở ngoài quê vắng. Đây là cái khó được thứ ba.

Nay đã làm người, được sanh nơi phồn thịnh lại đầy đủ sáu căn, đâu chẳng là quý sao? Người đời luôn luôn đuổi theo con đường danh lợi, luống nhọc xác tổn thần, đem thân mạng rất quý báu này làm tôi tớ cho tiền của đáng khinh. Sánh với người ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên môi nào có khác gì. Tuy thân mạng thật là quý trọng, vẫn chưa quý trọng bằng đạo tối cao. Cho nên Khổng Tử nói: “Sớm nghe đạo chiều chết cũng vui.” Lão Tử nói: “Tôi sở dĩ có hoạn lớn, vì tôi có thân.” Thế Tôn thuở xưa cầu đạo xả thân cứu cọp đói. Đâu chẳng phải ba bậc thánh nhân đều khinh thân mà trọng Đạo đó sao? Than ôi! Thân mạng thật là quý trọng còn phải xả để cầu Vô thượng Bồ-đề, huống là vàng ngọc, tiền của đáng khinh mà lại tiếc sao? Ôi trong ấp mười nhà vẫn có người trung tín, huống là cả thế gian há không có người thông minh sáng suốt hay sao? Đã nghe lời này, cần phải gắng học, chớ nên nghi ngờ chậm trễ. Kinh nói: “Một phen mất thân người, muôn kiếp chẳng được lại”, thật là thống thiết. Cho nên Khổng Tử nói: “Người không chịu làm, tôi chẳng làm gì, cam đành thôi vậy.”

Rõ ràng thời gian trăm năm, toàn ở trong sát-na, thân huyễn tứ đại đâu thể lâu dài. Mỗi ngày chìm đắm trong trần lao, mỗi lúc nghiệp thức càng mênh mông vô tận. Chẳng biết một tánh viên minh, luống theo sáu căn tham dục. Công danh cái thế cũng chỉ là một trường đại mộng, phú quý kinh nhân khó khỏi vô thường hai chữ. Tranh nhân tranh ngã rốt cuộc thành không, khoe giỏi khoe hay cứu cánh chẳng thật.

Gió lửa khi tan không già trẻ,

Núi sông bại hoại mấy anh hùng.

Đầu xanh chưa mấy lúc tóc bạc đã sớm điểm sương; ngày vui vừa đến thì ngày điếu cũng đi theo. Một bao máu mủ nhiều năm khổ luyến ân tình, bảy thước hình hài buông lòng tham mê tài bảo. Thở ra khó mong được hít vào, ngày nay không bảo đảm ngày mai.

Sông yêu chìm nổi lúc nào thôi,

Nhà lửa đốt thiêu bao giờ tắt?

Chẳng nguyện vượt ra lưới nghiệp, chỉ vì chưa có công phu. Vua Diêm-la chợt truy tìm, Thôi tướng công há cho triển hạn. Ngoái đầu nhìn người thân chẳng thấy, đến đây rồi nghiệp báo tự mang. Quỷ vương ngục tốt mặc sức khảo tra, cây kiếm núi đao khôn chống đỡ. Hoặc nhốt dưới ngọn núi lửa, hoặc giam trong núi Thiết Vi. Vào vạc dầu sôi muôn kiếp ngàn đời, bị chặt chém một đao thành hai khúc. Đói nuốt hòn sắt nóng, khát uống nước đồng sôi. Suốt ngày luôn chịu khổ đau, năm trăm kiếp chẳng thấy hình bóng. Trả xong tội nghiệp, trở vào luân hồi. Bỗng mất thân người khi trước, trở lại mang lấy đãy da. Đội lông mang sừng, hàm sắt dây yên, lấy thịt nuôi người, dùng mạng trả nợ. Sanh bị khổ dao bằm chày nện, sống bị nạn nước sôi lửa bỏng. Hằng chứa oán thù, thay nhau ăn nuốt. Khi đó mới hối hận học đạo không nhân.

Chi bằng ngay đây tu tập, chớ để đời này trôi qua. Đức Phật Thích-ca trước bỏ hoàng cung đi thẳng vào núi Tuyết. Cư sĩ Bàng Uẩn đem gia tài đổ xuống biển sâu. Chân Vũ chẳng thiết ngôi vua chỉ cầu tu hành. Lữ Công đã làm thần tiên vẫn còn tham vấn. Tô Đông Pha thường gần Phật Ấn, Hàn Văn Công lại lễ Đại Điên, Bùi Công bị đoạt hốt nơi Thạch Sương; Phòng Tướng hỏi pháp ở Quốc Nhất. Diệu Thiện không nhận phò mã, thành Phật chẳng ngờ; Lục Tổ mới gặp khách, nghe kinh liền tỉnh ngộ. Đạo thiền nếu không thú vị, hiền thánh sao chịu quy y. Hoa Lâm cảm hóa hai cọp theo luôn, Đầu Tử có ba con chim báo sáng. Lý trưởng giả giải kinh mà Thiên trù dâng cơm, Tu-bồ-đề ngồi yên mà Đế-thích tán hoa. Đạt-ma một chiếc dép về Tây, Phổ Hóa rung chuông bay đi. La-hán đến tham vấn với hòa thượng Ngưỡng Sơn, Nhạc đế quy y với thiền sư Tư Đại. Kính Sơn đến nay vẫn được Long vương thỉnh cúng. Tuyết Phong ngày xưa hay sai người gỗ phá non. Đây là những nguyên do để nghiệm biết, chớ tự khinh mà lui sụt.

Chồn hoang còn nghe Bá Trượng nói pháp, loài ốc sò vẫn biết hộ kinh Kim Cang. Mười ngàn con cá nghe danh hiệu Phật được hóa làm con trời, năm trăm chim quạ nghe tiếng pháp thảy được làm hiền thánh. Mãng xà nghe sám hối được sanh thiên, rồng nghe kinh mà ngộ đạo. Chúng là loài vật còn hay lãnh ngộ, huống là người sao chẳng hồi tâm.

Hoặc có người vùi đầu trong ăn uống, qua mất một đời. Hoặc có người trên đường tu hành lầm lẫn, mà không thức tỉnh. Đâu biết, tánh giác Bồ-đề mỗi mỗi viên thành, nào hay căn lành Bát-nhã người người đầy đủ. Chớ luận đại ẩn tiểu ẩn, thôi phân tại gia xuất gia. Chẳng cuộc người tăng kẻ tục, chỉ cốt nhận được bản tâm. Vốn không có nam nữ, đâu cần chấp tướng. Người chưa rõ dối chia tam giáo, liễu được rồi đồng ngộ nhất tâm. Nếu hay phản chiếu hồi quang, đều được kiến tánh thành Phật.

Huống là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Nếu muốn vượt khỏi dòng quanh lục đạo, chỉ có con đường tắt nhất thừa. Cần tìm chánh kiến, chớ tin tà sư. Ngộ rồi mới là vào cửa, hành được mới hay thoát tục. Bước bước đạp đến đất thật, đầu đầu đều đội hư không. Khi dùng thì muôn cảnh toàn bày, buông đi thì mảy bụi chẳng lập. Vượt đến chỗ không còn tương quan sanh tử, cơ liễu ngộ quỷ thần nhìn chẳng ra. Là phàm là thánh đồng vào đường này, hoặc oán hoặc thân cùng chung một lỗ mũi. Thật ngộ như thế, còn kẹt giữa đường. Thôi nói tam huyền hướng thượng, cốt rõ một câu rốt sau. Hãy nói hiện nay cái gì là “một câu rốt sau”?

Non xanh chốn ấy thấy trời rộng,

Sen đỏ nở rồi nghe mùi thơm.

← Trở lại Đọc tiếp →
Mục Lục