Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 34 - Hành Trạng Thiền Sư 5
Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải - Phần V
Đời Thứ Mười Ba Sau Lục Tổ

I- TÔNG TÀO ĐỘNG ĐỜI THỨ CHÍN

Nối pháp thiền sư Đạo Giai ở Thiên Ninh có hai mươi sáu vị

1- Thiền sư Pháp Thành ở Hương Sơn, Nhữ Châu

2- Thiền sư Tề Liễn ở Đại Trí, Thành Đô

3- Thiền sư Tử Thuần ở Đơn Hà, Đặng Châu

4- Thiền sư Duy Chiếu ở Bảo Phong, Hồng Châu...

II- TÔNG LÂM TẾ ĐỜI THỨ CHÍN

A- Nối pháp thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long có tám mươi ba vị

1- Thiền sư Tổ Tâm ở Hoàng Long

2- Thiền sư Khắc Văn ở Lặc Đàm

3- Thiền sư Hồng Anh ở Lặc Đàm...

B- Nối pháp thiền sư Phương Hội ở Dương Kỳ có mười hai vị

1- Thiền sư Thủ Đoan ở Bạch Vân

2- Thiền sư Nhơn Dũng ở Bảo Ninh...

III- TÔNG VÂN MÔN ĐỜI THỨ BẢY

Nối pháp thiền sư Tông Bổn Viên Chiếu ở Huệ Lâm có hai trăm vị

1- Thiền sư Thiện Bổn ở Pháp Vân

2- Thiền sư Tu Ngung ở Đầu Tử

3- Thiền sư Thiện Ninh ở Kim Sơn

4- Thiền sư Duy Nhạc ở Tịnh Nhơn…

✵✵✵

THIỀN SƯ PHÁP THÀNH

ở HƯƠNG SƠN - NHỮ CHÂU

(1071 - 1128)

Sư trụ Hương Sơn Nhữ Châu, dạy chúng:

- Người biết có Phật tổ hướng thượng mới có phần thuyết thoại. Chư thiền đức! Hãy nói cái gì là việc Phật tổ hướng thượng? Có kẻ con trai nhà người sáu căn chưa đủ, bảy thức chẳng toàn, là đại xiển-đề không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu chẳng được, địa ngục giữ không cửa. Đại chúng lại biết người này chăng?

Sư im lặng giây lâu nói:

- Đối diện chẳng tiên-đà, ngủ mê mặc nói mớ.

Thiền sư Pháp Thành, đệ tử của Đạo Giai Phù Dung. Ngài dạy chúng: Người biết có Phật tổ hướng thượng mới có phần thuyết thoại. Chúng ta biết được lối hướng thượng của Phật tổ, mới có thể nói dạy người khác, nếu chưa biết thì khó nói dạy cho ai.

Chư thiền đức! Hãy nói, cái gì là việc Phật tổ hướng thượng? Phật tổ hướng thượng là gì? Ngài giải thích, có kẻ con trai nhà người sáu căn chưa đủ, bảy thức chẳng toàn, là đại xiển-đề không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu chẳng được, địa ngục giữ không cửa. Nói Phật tổ hướng thượng là hình ảnh người nam sáu căn chưa đủ, bảy thức chẳng toàn; là đại xiển-đề không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu không được, địa ngục giữ không cửa. Đây là hạng xiển-đề nào?

Xiển-đề có ba hạng: Hạng thứ nhất là những người ngu si, làm những điều ác không hối hận, không tin có Tam bảo Phật pháp tăng, đó là hạng thấp. Hạng thứ hai là giết cha giết mẹ, tạo tội ngũ nghịch. Hạng thứ ba là đại xiển-đề, như ở đây nói người này không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu chẳng được, địa ngục giữ không cửa. Đặc biệt hạng đại xiển-đề này, sáu căn chưa đủ, tức là sáu căn không chạy theo cảnh, bảy thức chẳng toàn, tức là bảy thức không dính không kẹt với sáu trần, hay là không chấp thức thứ tám làm tự ngã. Đây là đại xiển-đề không chủng tánh Phật. Tại sao? Bởi vì nhận được cái đó rồi thì không còn chủng tánh nào khác để đến nữa. Nên nói, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, cũng không sanh lên cõi trời, không bị rơi vào địa ngục.

Đại chúng lại biết người này chăng? Người đó là người nào mỗi người tự biết, tôi nói không được. Ngài im lặng giây lâu nói: Đối diện chẳng tiên-đà, ngủ mê mặc nói mớ. Tức là đối diện mà không linh động, không thông cảm được thì mình chỉ là kẻ ngủ mê mặc tình nói mớ mà thôi. Tiên-đà là tiếng Phạn, nói đủ là tiên-đà-bà, chỉ là chung cho mọi danh từ, mọi hành động, chứ không có nghĩa nhất định. Như khi nhà vua ăn cơm mà thiếu nước chấm, liền nói với người hầu “tiên-đà-bà”, người hầu liền bưng nước chấm ra. Nhà vua sửa soạn đi dạo chơi, nói với người hầu “tiên-đà-bà!” người hầu liền dẫn ngựa tới. Khi nói như vậy thì người ta liền biết mình đang cần những nhu cầu cần thiết.

Sư lại nói:

- Chỉ cái này mang nặng chết người, nhận làm chính mình từ không kiếp, rõ ràng trên đầu thêm đầu; lại nói rơi tại hiện nay, nào khác trên tuyết thêm sương. Dù được thuần thanh tuyệt điểm, vẫn là chân thường lưu chú; hoặc giả chuyển vị hồi cơ, giống hệt giữa trưa trốn bóng. Vì thế nói, hai do một có, một cũng chớ giữ, một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi.

Sư hét một tiếng, nói:

- Đây quả là tiếng của cái bát nóng. Đâu chẳng nghe nói: “Văn-thù khởi Phật kiến pháp kiến, đày đến giữa hai núi Thiết-vi. Thiền tăng khởi Phật kiến pháp kiến, sắp ở dưới ba cây đòn tay.”

Sư đưa cây phất tử lên nói:

- Phất tử đêm rồi khởi Phật kiến pháp kiến, hãy nói sáng nay phê phán thế nào?

Sư gõ giường thiền nói:

- Phân phó Đức Sơn Lâm Tế.

Chỉ cái này mang nặng chết người, nhận làm chính mình từ không kiếp. Cái này là chỗ Phật tổ hướng thượng, nhưng nếu nhận làm chính mình từ không kiếp tới giờ thì rõ ràng trên đầu thêm đầu. Tại sao? Vì đã là mình mà còn nhận cái gì, nếu nhận nữa tức nó là cái bị nhận, nên nói trên đầu thêm đầu.

Lại nói rơi tại hiện nay, nào khác trên tuyết thêm sương. Nếu cho rằng cái đó sẵn hiện tại ngay đây thì chẳng khác trên tuyết lại thêm sương, vì không có cái thứ hai ngoài mình.

Dù được thuần thanh tuyệt điểm, vẫn là chân thường lưu chú. Thuần thanh tuyệt điểm là hoàn toàn trong trẻo, không còn một điểm nào, là hình ảnh thứ tám trong mười mục chăn trâu của nhà thiền, trâu và chăn đều hết chỉ còn một vòng tròn trắng. Người không biết tưởng tới đó là xong nên bị mắc kẹt, vì vậy nói vẫn là chân thường lưu chú, nếu theo kinh Lăng-nghiêm là còn ở trong thức ấm, chưa qua khỏi được.

Hoặc giả chuyển vị hồi cơ, giống hệt giữa trưa trốn bóng. Chuyển vị hồi cơ, tức là chuyển ngôi vị, xoay căn cơ. Dù cho muốn chuyển vị xoay cơ, cũng là người trốn bóng.

Vì thế nói, hai do một có, một cũng chớ giữ. Câu nói này giống như trong kinh Lăng-nghiêm, Phật dùng hình ảnh cái khăn có sáu gút để chỉ, sáu gút mất thì một gút cũng không còn. Một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi. Nếu không dấy niệm thì muôn pháp không có lỗi lầm. Giả sử có nhiều vàng bạc châu báu để ở trước mặt, nếu chúng ta vừa thấy liền dấy niệm tham thì có lỗi, còn thấy tất cả mà không khởi niệm thì có lỗi lầm gì! Như vậy, muôn pháp đối với chúng ta không lỗi lầm, lỗi lầm từ chỗ dấy niệm mà ra.

Ngài hét một tiếng, nói: Đây quả là tiếng của cái bát nóng. Cái bát nóng để khô, khi chế nước vào nghe có tiếng xèo xèo, tiếng đó là do nước nóng phát ra, không có ý nghĩa gì cả. Tiếng hét của thiền sư cũng như vậy.

Văn-thù khởi Phật kiến pháp kiến, đày đến giữa hai núi Thiết-vi. Ngài Văn-thù vừa khởi niệm thấy có Phật có pháp là đã bị đày vào giữa hai núi Thiết-vi. Thiền tăng khởi Phật kiến pháp kiến, sắp ở dưới ba cây đòn tay. Khi hạ huyệt, người ta dùng cây xỏ ngang quan tài hạ xuống để chôn. Ý câu này nói, kẻ học thiền vừa khởi kiến giải là đã bị chôn vùi rồi.

Ngài đưa cây phất tử lên nói: Phất tử đêm rồi khởi Phật kiến pháp kiến, hãy nói sáng nay phê phán thế nào? Nếu nói cây phất tử khởi kiến giải, mới có chỗ phê phán; còn không khởi kiến giải thì làm sao phê phán.

Ngài gõ giường thiền nói: Phân phó Đức Sơn Lâm Tế. Cây phất tử có khởi Phật kiến pháp kiến không? Thôi, giao gửi lại cho ngài Đức Sơn, Lâm Tế đi!

Sư lại nói:

- Máy linh riêng chiếu, trí sáng rạng ngời, chớp mắt nhướn mày đã bày dấu vết, cầm chùy dựng phất đâu khỏi cấp bậc. Người ngộ đó, tâm siêu số lượng nói nín đều như, trái buông mặt nắm trọn không nương gá. Người mê đó, vật vật khởi hiểu bỏ lấy có tâm, dù cho trọn được bên kia, chưa khỏi bên này làm ngại. Vì thế nói, trong nhà thiền bảo là gỡ nêm mở trói tháo chốt nhổ đinh, đã là chạm bén đứt tay. Lại nói thể cùng với dụng, chánh cùng với thiên, giống hệt dạy chú học trò trong thôn vắng chưa đọc được một quyển Thái Công gia giáo, liền nói văn chương vượt hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ. Chư thiền đức! Nhà y tự có đồng phong, chẳng cần mở sách vở khác.

Đây là lối nói của tông Tào Động, chúng ta có thể hiểu được chút ít. Máy linh riêng chiếu, tổ Bá Trượng gọi là linh quang độc chiếu. Máy linh ấy, trí sáng rạng ngời, chớp mắt nhướn mày đã bày dấu vết. Khi chớp mắt, lúc nhướn mày đã hiện dấu vết của nó rồi. Cầm chùy dựng phất đâu khỏi cấp bậc, cầm chùy hay dựng phất tử cũng chỉ là tạm dùng phương tiện, nên nói đâu khỏi cấp bậc. Máy linh riêng chiếu thì luôn hiện tiền, không có cấp bậc.

Người ngộ đó, tâm siêu số lượng nói nín đều như, trái buông mặt nắm trọn không nương gá. Người nhận ra được linh quang độc chiếu rồi, tất cả hành động đều tự tại, hoặc buông hoặc nắm đều không nương gá, không còn mắc kẹt trong số lượng, nói nín gì đều Như.

Người mê đó, vật vật khởi hiểu, bỏ lấy có tâm, dù cho trọn được bên kia, chưa khỏi bên này làm ngại. Người mê, tức bỏ quên máy linh của mình, rồi khởi hiểu biết thế này thế kia. Giả sử được bên kia cũng còn bị trệ ngại bên này, chứ chưa thoát khỏi hai bên.

Vì thế nói, trong nhà thiền bảo là gỡ nêm mở trói, tháo chốt nhổ đinh. Tất cả phương tiện của chư tổ trong nhà thiền, đều là vì gỡ nêm, tháo chốt, mở trói cho người mà thôi. Như tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời gỡ nêm tháo chốt. Ngài Huệ Khả chấp cái lăng xăng là tâm, nghe Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, liền xoay lại tìm mà không thấy, chợt giật mình mới biết tâm bất an ấy là không thật. Đó là mở trói hay gỡ nêm. Cũng thế, khi ngài Đạo Tín đến cầu tổ Tăng Xán phương pháp giải thoát, Tổ hỏi: “Ai trói buộc ngươi?” Nhìn lại không thấy ai trói buộc, tức là đã mở trói rồi. Như vậy, tất cả những phương tiện mà chư tổ dùng đó, chỉ cốt nhằm để gỡ nêm tháo chốt cho chúng ta, các ngài không thêm gì cả.

Đã là chạm bén đứt tay. Lại nói thể cùng với dụng, chánh cùng với thiên. Nói ra nào là thể là dụng, là chánh là thiên... là vẫn còn kẹt trong vòng đối đãi. Bởi còn mắc kẹt nên mới dùng đối đãi để dẹp. Giống hệt dạy chú học trò trong thôn vắng chưa đọc được một quyển Thái Công gia giáo, liền nói văn chương vượt hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ. Học trò dốt chưa học qua sách vỡ lòng, mà nói văn chương của mình hơn cả Lý Bạch, Đỗ Phủ.

Chư thiền đức! Nhà y tự có đồng phong, mỗi nhà đều sẵn có đồng phong. Như trong nhà thiền thường nói “gia phong của Hòa thượng”, tức là chỉ cho phong thái sống của các ngài. Tất cả chúng ta, mỗi người đều có gia phong như các ngài, gọi là đồng phong. Đồng phong đã sẵn đó sao không trở về, còn tìm kiếm trong sách vở làm chi cho mệt? Vì vậy ngài nói, chẳng cần mở sách vở khác.

Sư hỏi vị tăng: - Người xứ nào?

Tăng thưa: - Tây Xuyên.

Sư hỏi: - Ly hương lúc nào?

Tăng thưa: - Tháng hai năm ngoái.

Sư bảo:

- Chưa lìa bản quốc nói một câu xem?

Tăng thưa:

- Khắp thân đều là miệng, khó vì đối đáp.

Sư bảo:

- Vẫn là câu ly gia thất nghiệp.

Tăng không nói được. Sư đánh một phất tử bảo:

- Uổng đi giày cỏ.

Chưa lìa bản quốc nói một câu xem? Nói một câu khi chưa ra khỏi nước của mình. Khi chưa rời Tây Xuyên là ngay đó rồi, vị tăng biết ý liền đáp: Khắp thân đều là miệng, khó vì đối đáp. Chỗ nào cũng là miệng, bảo con đối đáp làm sao? Tăng trả lời được như vậy là hay rồi, cũng có hơi hám nhà thiền, nhưng ngài bảo: Vẫn là câu ly gia thất nghiệp. Ngang đây Tăng không nói được nữa, ngài đánh một phất tử quở: Uổng đi giày cỏ. Xưa các thiền khách đi tham vấn thường mang giày cỏ, vị tăng này đi đây đi kia, đi rách bao nhiêu đôi giày cỏ rồi mà chưa được đạo, nên bị ngài chê uổng đi giày cỏ.

Sư cùng Duy Chiếu đồng kế thừa Phù Dung, mà không biết nhau, nhân có thượng nhân Bằng thuật lại bài tán tượng Phù Dung của Duy Chiếu cho Sư nghe:

Vũ tẩy đạm hồng đào ngạc nộn,

Phong dao tiên bích liễu ty khinh,

Bạch vân ảnh lý quái thạch lộ,

Lục thủy quang trung khô mộc thanh.

Di! Nhĩ thị hà nhân?

Dịch:

Mưa tắm nhẹ đài non hoa đào,

Gió thoảng đùa tơ liễu xanh bay,

Dưới bóng mây trắng đá lạ hiện,

Trong ánh nước xanh cây khô tươi.

Chao! Ông là người nào?

Sư nói:

- Ngày nay mới biết ông ấy gần thầy tôi.

Bằng liền thưa hỏi ý nghĩa. Sư bảo:

- Há chẳng thấy Pháp Nhãn niêm lời Giáp Sơn rằng: “Ta ba mươi năm chỉ làm cảnh để hiểu.”

Bằng liền có tỉnh. Sau Sư vâng chiếu mời trụ chùa Tịnh Nhơn ở Đông Kinh.

Bài tán tượng tức là bài kệ tán thán khen ngợi đề dưới ảnh tượng của thầy. Trong đây có thấy câu nào khen ngài Phù Dung đâu, chỉ toàn tả cảnh. Phải không?

Mưa tắm nhẹ đài non hoa đào, gió thoảng đùa tơ liễu xanh bay. Trời mưa như tưới tắm cho hoa đào thắm, cho cây tươi xanh mát. Gió thổi hàng liễu biếc bay qua bay lại như tơ.

Dưới bóng mây trắng đá lạ hiện. Thầy giống như ngọc hiện dưới bóng mây trắng vậy. Trong ánh nước xanh cây khô tươi, nguyên văn chữ Hán là Lục thủy quang trung khô mộc thanh. Lục thủy là nước trong xanh, quang trung là trong ánh sáng. Bởi chữ lục dịch là nước trong, chữ trung là trong nữa thì trùng từ, nên tôi đổi thành “trong ánh nước xanh cây khô tươi”. Cây khô đứng tựa bờ suối, nhưng nhìn qua dòng nước trong thì thấy như cây tươi. Cây khô là tượng trưng cho hình ảnh chết, tuy chết rồi mà bóng vẫn còn xanh tốt.

Chao! Ông là người nào? Người nào mà tài đến thế.

Đó là lời tán thán Thầy rất tế nhị của thiền sư Duy Chiếu, mới đọc qua chúng ta thấy toàn là tả cảnh vật, nhưng thật ra khen ngài Phù Dung đáo để. Khen ngài sạch hết tất cả nhơ nhớp, ngài nhẹ nhàng thanh thoát, ngài có những kỳ đặc hiện trong đời. Mặc dù Thầy đã tịch, nhưng đường lối và sự dạy dỗ của Thầy còn đây, con cháu vẫn tiếp nối như Thầy đang sống.

Nghe thượng nhân Bằng thuật lại bài tán, ngài nói: Ngày nay mới biết ông ấy gần thầy tôi. Ngài nghe đọc rồi thì biết liền, nhưng thượng nhân Bằng không hiểu, nên thưa hỏi vì sao mà biết người này gần thầy mình. Ngài bảo: Há chẳng thấy Pháp Nhãn niêm lời Giáp Sơn rằng: Ta ba mươi năm chỉ làm cảnh để hiểu. Chỉ lấy cảnh để hiểu người, mượn cảnh để biết mà thôi. Bằng liền có tỉnh.

Về sau, ngài vâng chiếu mời trụ chùa Tịnh Nhơn ở Đông Kinh.

✵✵✵

THIỀN SƯ TỀ LIỄN

ở ĐẠI TRÍ - THÀNH ĐÔ

(1073 - 1145)

Sư họ Mâu, quê ở Trung Giang, Đồng Xuyên, thuở nhỏ đã có chí thoát trần, năm mười ba tuổi xuất gia, đến Hộ Thánh thọ giới Cụ túc. Năm sau sang Thành Đô theo học Bách Pháp ở chùa Pháp Hoa. Sư lại thông Duy thức, đọc đến câu: “Đây gọi là pháp vô lậu giới bất tư nghì thiện thường, an lạc giải thoát thân đại Mâu-ni”, dường như có tỉnh. Vị thầy kia không thể giải thích cho thỏa mãn, Sư than rằng: “Ta bỏ nhà vì việc lớn, ở đây chỉ đọc lại những lời trên giấy, ví như mặt trời mặt trăng vẽ, há có ánh sáng sao?” Sư liền từ giã sang miền Nam.

Đây gọi là pháp vô lậu giới, bất tư nghì thiện thường, an lạc giải thoát thân đại Mâu-ni. Câu này trong Duy Thức Tam Thập Tụng. Thiền sư Tề Liễn khi học Duy thức, nghe tới đây có tỉnh cầu thầy giải thích cho rõ. Nhưng thầy dạy không thỏa mãn, ngài than: Ta bỏ nhà vì việc lớn. Ở đây chỉ đọc lại những lời trên giấy, ví như mặt trời mặt trăng vẽ há có ánh sáng sao? Lời này chúng ta phải nhớ, mình đi tu là vì việc lớn sanh tử. Sanh tử là việc mà người đời không thoát nổi, chúng ta muốn thoát ra, đó là việc làm phi thường. Đã vì việc lớn mà cứ ngồi đọc chữ nghĩa hoài thì làm sao? Chữ nghĩa trên giấy mực như mặt trời mặt trăng vẽ, không có ánh sáng, vì thế ngài từ giã ra đi.

Trước tiên Sư đến tham vấn đạo giả Đoạn Tý ở Thanh Khê. Đoạn Tý thầm nhận Sư. Sư lại tham vấn thiền sư Diễn ở Ngũ Tổ, thiền sư Triết ở Chân Như, thiền sư Túc ở Bá Trượng, thiền sư Tâm ở Hối Đường, ngày đêm tham vấn mà chưa có tỉnh.

Khi Sư ở Hối Đường, có người từ Đại Dương đến thuật lại lời dạy chúng của Phù Dung, lòng Sư vui thích, bèn đến đó tham vấn. Mới gặp Phù Dung dường như đã biết lâu rồi. Một hôm buổi sáng nghe tiếng bảng, Sư hoát nhiên đại ngộ, chạy đến trình với Phù Dung. Phù Dung ấn khả. Phù Dung sai Sư giữ Tạng kinh và phân tòa thuyết pháp, cây dùi trong đãy trồi đầu, trong tùng lâm kính quý, danh tiếng vang xa. Chưa bao lâu, Sư trở về thăm cha mẹ.

Khi Phù Dung đến trụ chùa Tịnh Nhơn, Sư lại đến đó làm Thủ chúng ở dưới tòa. Chùa Tịnh Nhơn ở chốn kinh đô, mà Phù Dung giáo hóa hàng tăng chúng, người đến hỏi đạo có cả vạn, Sư lo phần ngoại hộ vẫn đầy đủ. Phù Dung nói về Sư, bảo với người rằng:

- Thủ tọa Liễn đi như trâu nhìn như cọp, cơ phong bén nhạy, ngày khác sẽ hoằng hóa đạo của ta.

Ngài Phù Dung khen ngài, bảo với mọi người rằng: Thủ tọa Liễn đi như trâu nhìn như cọp, cơ phong bén nhạy, ngày khác sẽ hoằng hóa đạo của ta. Mã Tổ cũng được khen “đi như voi, nhìn như cọp”. Con trâu hay con voi đi lầm lỳ thẳng tới, không ngó ngang ngó dọc; con cọp, cổ nó không quay qua quay lại được, chỉ nhìn thẳng, muốn nhìn ngang thì phải xoay cả mình lại. Ý nói dáng ngài rất nghiêm trang, tề chỉnh.

Khi ấy dân chúng kiến thiết chùa Sùng Ninh, chọn người truyền pháp, Kinh lược sứ Vĩnh Hưng là Vương Tự, Đô chuyển vận sứ là Tiết Thiệu Bành dùng nghi lễ thỉnh Sư. Sư nhận lời, về ở đây năm năm danh tiếng đồn khắp, xa gần kính mộ. Sau đó, dời đến chùa Phổ Ninh ở Tương Dương. Đến đầu niên hiệu Chánh Hòa (1111), Sư trở về cố hương cất am Diệu Phong để dưỡng già, lại bị Thiên Bành thỉnh trụ chùa Năng Nhân, kế sang chùa Đại Tùy, rồi Vô Vi ở Quảng Hán, Siêu Ngộ ở Thành Đô, rốt sau đến chùa Đại Trí.

Lúc Sư trụ chùa Đại Tùy, có tín đồ dối tố Sư tại châu, Sư vui vẻ đến Hữu ty nhận tội. Khi tra khảo Sư, trời đất tối tăm, có bầy chim bay kêu la, lại có con gieo mình xuống đất. Châu tướng kinh lạ, bèn thả Sư ra.

Siêu Ngộ là dãy nhà bên cạnh của chùa Đại Từ, sắp bày như cái quán hàng, Sư thường đóng cửa ngồi yên. Những người trọng giới luật thấy đều quý kính. Đạo đức của Sư càng cao, kẻ tăng người tục muốn được biết mặt Sư, mà chỉ trông thấy lưng cổ. Khi đó tuổi Sư đã cao, cảm thấy chán muốn bỏ đi, chúng cố mời lại mà không được. Họ bảo nhau, chùa Đại Trí ở phía tây xa xôi, rừng cây sầm uất đáng cho Sư ẩn lúc tuổi già, bèn đưa ý kiến lên quan phủ. Khi ấy Tịch Công làm Chế trí sử đến lễ thỉnh Sư. Sư hoan hỷ hứa khả.

Lúc ở chùa Đại Tùy, có tín đồ dối tố ngài tại châu, ngài vui vẻ đến Hữu ty nhận tội. Ở đây nói đơn giản, chỗ khác kể rằng ngài tới đó trụ trì, có một số tín đồ ghét nói ngài lấy của chùa xài riêng, rồi tố lên quan. Vào thời phong kiến ở Trung Hoa, tất cả chùa chiền đều thuộc về triều đình. Người muốn làm tăng phải qua một kỳ thi, thi đậu mới được chọn làm tăng. Nhà vua cho các quan ở địa phương, thấy chùa nào khuyết trụ trì thì chính vị quan đó đi thỉnh, chư tăng không thể tự ý đến. Như ở đây, Thiên Bành thỉnh ngài trụ chùa Năng Nhân, kế đó sang Đại Tùy. Tại chùa Đại Tùy, các tín đồ dối tố rằng ngài gian lận của chùa để xài riêng. Hữu ty là quan bên xét án, kêu ngài lên hỏi gì ngài cũng nói có và vui vẻ nhận tội. Vì ngài nhận tội nên quan cho người tra khảo. Khi ấy trời đất tối tăm, có bầy chim bay kêu la, lại có con nhào xuống đất, quan tướng thấy thế hoảng sợ thả ngài ra.

Trường hợp ngài tương tợ như thầy của mình là Đạo Giai Phù Dung. Thiền sư Đạo Giai được nhà vua phong hiệu và tặng tử y, nhưng ngài không nhận. Nhà vua bắt tội khi quân, ra lệnh quan tại quận đó đánh đòn. Quan quận thấy ngài ốm yếu nên thương, tìm cách chống đỡ, ông nói: “Phàm người bị tội nếu có bệnh thì khỏi bị tra khảo. Hòa thượng có bệnh chăng?” Nếu chúng ta đang mạnh khỏe mà nghe hỏi vậy, chắc cũng nói bệnh để khỏi bị đánh, còn ngài Đạo Giai thì nói: “Bình thường cũng có bệnh, nhưng hiện nay tôi không bệnh.” Bởi nói không bệnh, nên họ lôi ra đánh. Ngài là đệ tử cũng giống thầy mình, bị người ta nói oan vẫn cứ chịu, chẳng cần minh oan. Quan không biết phải trái, thấy ngài nhận chịu hết nên tưởng ngài có tội thật, bèn lôi ra đánh. Đến khi thấy những hiện tượng lạ, mới biết ngài bị oan liền thả ra.

Chúng ta thấy gương tu hành của người xưa, các ngài nhìn thân này không quan trọng, nên việc tra khảo đối với các ngài không nghĩa lý gì hết. Dù thân có gặp những việc đau khổ, bị tra khảo đánh đập cũng không sợ hãi, không vì bảo vệ thân mà nói dối để tránh né.

Sư ở Đại Trí tám năm, thiền khách các nơi tìm đến, ngôi chùa này trở thành Bảo Xã. Song từ đó Sư ứng tiếp đơn sơ. Chợt Sư khởi bệnh. Có người thăm hỏi, liền nói ta không khổ. Bỗng Sư bảo Chủ sự:

- Vì ta làm một cái kiệu tre, ta sẽ có chỗ cần.

Hôm sau, Sư ngồi kiết già cầm bút viết kệ xong, lặng lẽ mà tịch.

Sư tịch ngày mùng bốn tháng mười một niên hiệu Thiệu Hưng thứ mười lăm (1145) thọ 73 tuổi.

Lúc sắp mất ngài bệnh, có người đến thăm hỏi ngài liền nói ta không khổ. Ngài biết sắp chết nhưng không sợ cũng không khổ, mà bảo Chủ sự: Vì ta làm một cái kiệu tre, ta sẽ có chỗ cần. Kiệu tre tức là cái nhà giàn nhỏ. Ngài đối với sanh tử đã được tự tại, không còn thấy khó khăn, không sợ sệt, biết trước ngày mình đi nên bảo chuẩn bị sẵn.

✵✵✵

THIỀN SƯ TỬ THUẦN

ở ĐƠN HÀ - ĐẶNG CHÂU

(1066 - 1119)

Sư họ Giả, quê ở Kiếm Châu, khoảng hai mươi tuổi đi xuất gia. Nơi hội thiền sư Phù Dung, Sư được triệt ngộ. Sau Sư trụ núi Đơn Hà tại Đặng Châu.

Sư thượng đường:

- “Trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có một hòn ngọc ẩn tại hình sơn.” Triệu pháp sư nói thế ấy, chỉ khéo chỉ dấu nói vết, vẫn không thể chỉ bày cho người. Ngày nay Đơn Hà mở hoác vũ trụ đập nát hình sơn, vì mọi người chỉ ra, người đủ mắt biện lấy.

Sư cầm cây gậy giộng một cái nói:

- Lại thấy chăng? Cò trắng trên tuyết sắc vẫn khác, trăng sáng hoa lau chẳng giống nhau.

Trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có một hòn ngọc ẩn tại hình sơn. Câu này trích trong Triệu Luận của pháp sư Tăng Triệu. Hình sơn tức là núi hình, chỉ cái thân này. Hòn ngọc đó muốn chỉ cho cái gì? Ngài bảo: Triệu pháp sư nói thế ấy, chỉ khéo chỉ dấu nói vết, vẫn không thể chỉ bày cho người. Nói vậy cũng là chỉ dấu vết mà thôi, không chỉ thẳng ra cho người thấy được. Ngày nay Đơn Hà, tức là chỉ cho ngài, mở hoác vũ trụ đập nát hình sơn, vì mọi người chỉ ra, người đủ mắt biện lấy. Ngài yêu cầu mọi người, nếu đủ mắt thì hãy nhìn, ngài sẽ đập nát hình sơn, mở hoác vũ trụ để cho thấy cái thật đó.

Ngài cầm cây gậy giộng xuống một cái nói: Lại thấy chăng? Ngài rất tài tình, mượn câu nói người trước để chỉ ra cái thật hiện tại. Ở trong sách vở nói thế này thế kia, cũng là chỉ dấu vết chứ chưa chỉ ra được cái thật. Giờ đây tôi chỉ thẳng cái thật cho mọi người thấy, ngài giộng tích trượng một cái nói, nếu ai đủ mắt thì biện lấy.

Cò trắng trên tuyết sắc vẫn khác, trăng sáng hoa lau chẳng giống nhau. Cò trắng đậu trên tuyết trắng, tuy cùng trắng nhưng sắc trắng đó vẫn không giống nhau. Trăng sáng, hoa lau trắng, hai cái đó cũng không giống nhau. Hai câu này muốn nói gì? Nếu người học kinh Lăng-nghiêm rồi, nghe qua thì hiểu liền. Chỗ này ngài Văn-thù nói: Khi thấy tất cả người ở trong pháp hội, đó là thấy; chợt khởi đây là Văn-thù, đây là Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên... thì đó là thức. Như vậy thấy và thức cách nhau bao xa? Dường như gần bên, mà người đời khó nhận ra. Hình ảnh cò trắng đậu trên tuyết, hoa lau trong đêm trăng, hai sắc đó gần kề, nếu không nhạy không khéo thì không thấy được. Ngài mượn câu nói của Triệu pháp sư để chỉ cái thật cho chúng ta thấy.

Sư thượng đường, nêu lên:

- Đức Sơn dạy chúng, nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người.” Đức Sơn nói thoại như thế, đáng gọi là chỉ biết vào cỏ tìm người, bất chợt toàn thân bùn nước. Chín chắn xem ra chỉ đủ một con mắt. Nếu là Đơn Hà thì không thế. Tông ta có ngữ cú, đao vàng cắt chẳng mở; sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai.

Ngài nhắc lại lời của Đức Sơn nói: Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người. Nói như vậy lỗi ở đâu mà ngài bảo: Đức Sơn nói thoại như thế, đáng gọi là chỉ biết vào cỏ tìm người, bất chợt toàn thân bùn nước. Chín chắn xem ra chỉ đủ một con mắt? Ngài cho rằng nói như vậy là vào cỏ tìm người, toàn thân dính bùn dính nước, xem ra chỉ có một con mắt. Vậy còn ngài thì thế nào? Nếu là Đơn Hà thì không thế. Tông ta có ngữ cú, đao vàng cắt chẳng mở; sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai. Ngài nói có khác với Đức Sơn không? Nếu người khéo thấy thì liền thấy, cái kia không ngữ cú mà ngài Đức Sơn lập có ngữ cú. Theo tinh thần nhà thiền, nếu còn thấy có không là chưa đủ hai mắt. Nói tông ta không ngữ cú, nói không cũng là đã mù hết một mắt rồi.

Tôi dẫn câu chuyện ngài Đại Mai để làm sáng tỏ thêm. Có người hỏi Đại Mai: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Đại Mai đáp: “Tổ sư không có ý.” Vị ấy đem lời này đến hỏi một thiền sư khác, như vậy là có ý hay không có ý? Vị kia nói: “Có ý.” Thiền sư Diêm Quan nghe được nói: “Một cái quan tài hai tử thi.” Còn thấy một bên, bên này cũng chết, bên kia cũng chết, nên nói hai cái tử thi. Bởi nói có nói không cũng là bệnh, do đó ngài nói: Tông ta có ngữ cú. Lập “có ngữ cú” là để phá cái chấp “không ngữ cú” ở trên. Đao vàng cắt chẳng mở; sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai. Những câu này không dính bên nào.

Sư thượng đường:

Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa,

Lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn,

Sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm,

Lại qua thường ở trước trăng trong.

Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa. Mặt trời đúng ngọ, còn thiếu phân nửa, tức là mới được nửa ngày. Lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn. Canh ba là chưa hết đêm. Hiểu câu trên thì hiểu câu dưới. Hai câu trên, một câu đúng ngọ một câu canh ba, để nói tinh thần hồi hỗ của tông Tào Động. Sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm. Nơi sáu cửa không bị thức chen vô để dính với cảnh thì sáu cửa không có hơi ấm. Nếu sáu cửa không hơi ấm thì sao? Lại qua thường ở trước trăng trong, tới lui tự tại, lúc nào cũng sáng sạch, không có gì nhơ nhiễm.

Sư thượng đường:

- Trăng sáng chiếu soi đầm trong bày bóng, nước không có ý thấm trăng, trăng không có tâm soi nước, trăng nước cả hai đều quên mới đáng gọi là đoạn. Vì thế nói, việc lên trời cần phải thổi bay mất, việc thập thành cần phải dẹp mất, ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn. Nếu hay như thế, mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Quý vị! Đến chỗ này lại thấu hiểu chăng?

Sư im lặng giây lâu nói:

- Thường đi chẳng cất nhân gian bước, mang lông đội sừng lẫn đất bùn.

Trăng chiếu soi hiện bóng dưới đầm, nước có muốn làm ướt trăng không, trăng có tâm muốn soi bóng ở dưới nước không? Nước không có ý thấm trăng, trăng không có tâm soi nước, trăng và nước đều không ý, đều không tâm. Trăng nước cả hai đều quên mới đáng gọi là đoạn. Không còn có ý dính với cảnh, cảnh và ý đều quên, đó gọi là thật đoạn. Chúng ta đợi khi có niệm dấy lên mới đoạn, chưa phải thật đoạn. Khi đối cảnh mà tâm không sanh, không khởi niệm kia là cảnh đây là người, kia là cảnh đây là tâm, như thế là chân thật.

Vì thế nói, việc lên trời cần phải thổi bay mất, việc thập thành cần phải dẹp mất, ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn. Muốn tu để lên thiên đường, đừng tham muốn tức là thổi bay việc ấy đi. Việc thập thành cần phải dẹp mất, muốn tu làm sao cho được toàn vẹn thì cũng dẹp bỏ đi, đừng mong lên trời, đừng mong toàn vẹn. Cốt lõi ở chỗ này: Ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn, cầm thoi vàng quăng đi có tiếng động mà không cần nhìn nó rớt chỗ nào.

Nếu hay như thế, mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Quý vị! Đến chỗ này lại thấu hiểu chăng? Nếu được như vậy mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Vàng là quý, ném đi không chút tiếc. Thường vật gì đáng quý tiếc mà bỏ đi, ắt mong ước ngó lại. Đây thì ném đi mà không thèm ngó lại, tư cách đó mới có thể đi trong dị loại, là ở trong lục đạo luân hồi mà không nhơ không nhiễm. Nếu chưa được như vậy thì đi đâu lún bùn tới đó, mắc lầy leo lên không nổi, lội lên không được.

Ý ngài chỉ cho chúng ta biết, người tu không cầu sanh cõi trời, không cầu cho mình được toàn vẹn; chỉ là đối với những cái thế gian cho là quý, không nên nghĩ tưởng, không cần đoái nhìn. Vì còn mơ ước sanh lên thiên đường là còn tham hưởng dục lạc thế gian, mong mình tu chứng đắc hay hơn thiên hạ cũng là tham. Đây không cần những việc như thế, chỉ cần của quý báu ném đi không một chút tiếc nuối. Người như vậy khả dĩ đi trong lục đạo độ chúng sanh mà không dính mắc.

Ngài im lặng giây lâu nói: Thường đi chẳng cất nhân gian bước, mang lông đội sừng lẫn đất bùn. Đi mà không cất bước, như nói thường ăn mà không nhai nát một hạt cơm. Ý nói người sống trong cảnh thế gian nhưng không dính mắc bụi trần.

Tăng hỏi:

- Ngưu Đầu khi chưa thấy Tứ tổ thì thế nào?

Sư đáp:

- Cúc vàng vừa nở ong đua hút.

Tăng hỏi:

- Sau khi thấy thế nào?

Sư đáp:

- Mầm khô hoa rụng rõ không nương.

Ngài Pháp Dung trước khi gặp Tứ tổ, ngồi tu trên ngọn núi Ngưu Đầu, thường có chim tha hoa trái đến cúng dường, trong thất thì cọp đứng hầu, ai cũng kính nể cho rằng ngài là người đắc đạo.

Tăng hỏi khi chưa gặp Tứ tổ thì sao? Ngài đáp: Cúc vàng vừa nở, ong đua hút. Khi hoa cúc nở thì ong đến hút mật, có hoa có ong là còn trong đối đãi. Vì ngài còn có tâm thiện, còn quán từ bi, nên chúng sanh cảm mà đến; cũng như hoa cúc nở thì ong tới hút nhụy, hai bên còn có cái cảm thông nhau. Sau khi ngài gặp Tứ tổ ngộ được tâm tông, từ đó về sau chim hết hái hoa hái trái cúng. Chỗ này khiến nhiều người hoang mang, như vậy ngài hết phước rồi sao? Tăng hỏi: Sau khi thấy thế nào? Tức là thấy Tứ tổ rồi thì thế nào? Ngài đáp: Mầm khô hoa rụng rõ không nương. Mầm đã khô hoa đã rụng, không còn chỗ nương tựa, lúc đó chim hết cúng dường. Ngài trả lời quá hay. Đến đó rồi thì không còn năng sở không còn đối đãi, giống như mầm đã khô, hoa đã rụng, không còn gì nương tựa.

Năm Kỷ Hợi niên hiệu Tuyên Hòa (1119) vào mùa xuân Sư tịch, tháp của Sư ở phía nam Hồng Sơn.

✵✵✵

THIỀN SƯ XIỂN ĐỀ DUY CHIẾU

ở BẢO PHONG - HỒNG CHÂU

(? - 1128)

Sư họ Lý, quê ở Giản Châu, thuở nhỏ đã có tinh thần chán tục. Một hôm đọc sách đến “Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã”, Sư nói:

- Phàm thánh vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.

Sư liền đến Thành Đô làm đồ đệ sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Đến năm mười chín tuổi, Sư cạo tóc thọ giới Cụ túc. Sư Thanh Thới dạy đến chùa Đại Từ học Khởi Tín Luận. Sư liền về phòng nằm, Thanh Thới hỏi lý do. Sư thưa:

- Đã nói chánh tín Đại thừa, há ở lời nói mà có thể rõ.

Sư bèn cất bước tham thiền.

Thiền sư Duy Chiếu ở Bảo Phong, đệ tử ngài Đạo Giai Phù Dung thuộc tông Tào Động. Từ lúc nhỏ ngài đã có tinh thần chán thế tục, tức là muốn tu. Khi đọc sách Nho có câu tánh tương cận dã, tập tương viễn dã thì ngài liền hiểu. Ngài nói: Phàm thánh vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi. Phàm thánh vốn một thể, tánh mình không thiện không ác, do gần thiện thì thành thiện, tập ác thì thành ác mà thôi. Do đó ngài đi xuất gia. Thầy dạy học Đại Thừa Khởi Tín Luận, ngài không chấp nhận, nói: Đã nói chánh tín Đại thừa, há ở lời nói mà có thể rõ. Tại sao vậy? Bởi vì đã nói là chánh tín Đại thừa, tức là tin chắc tâm mình, mà không chịu thấy lại căn cứ trên lời nói thì làm sao biết được. Ngài bèn cất bước tham thiền, từ đó đi tham học thiền ở các nơi.

Sư đến yết kiến Phù Dung tại Đại Hồng. Mỗi đêm Sư thường ngồi thiền ngoài hành lang trên gác, gặp gió tuyết lay động tấm rèm, lại nghe tiếng la ăn trộm, liền có sở đắc. Sau đó, Sư từ giã Phù Dung đi. Đến khoảng niên hiệu Đại Quán (1107-1111), Phù Dung mắc nạn. Sư từ Tam Ngô muốn dời đến Nghi Thủy, đứa dẫn đường đi lạc, Sư cầm gậy gõ đó, bỗng nhiên đại ngộ. Sư tán thán:

- Đất này đâu không phải Ngao Sơn ư?

Sư đến Nghi Thủy, Phù Dung trông thấy vui vẻ nói:

- Nối thạnh tông ta hẳn là bọn ngươi vậy.

Nhân đây, Sư ở lại trên bờ hồ nhiều năm.

Trong khi ngồi thiền, gió tuyết thổi tạt vào mặt, bỗng nghe người la ăn trộm, ngài ngộ đạo. Sau đó, ngài từ Phù Dung đi.

Đến khoảng niên hiệu Đại Quán (1107-1111) Phù Dung mắc nạn. Phù Dung mắc nạn là vì vua ban tử y và pháp hiệu nhưng không chịu nhận, nhà vua cố ép cũng nhất định từ chối. Vì thế phải đưa ra quan, quan sở tại thấy ngài Phù Dung già ốm, muốn cho khỏi bị tra khảo nên nói: Nếu là người bệnh thì không bị tra khảo, Hòa thượng có bệnh không? Phù Dung đáp: Trước kia cũng có bệnh nhưng hiện giờ thì không bệnh. Vì vậy bị tra khảo, đày mặc áo phục dịch. Sau được phóng thích, ngài cất am ở nơi hồ Phù Dung.

Ngài muốn đến chỗ Thầy, người dẫn đường đi lạc, ngài gõ nó một cái, chợt đại ngộ. Ngài nói: Đất này đâu không phải Ngao Sơn ư? Ngao Sơn là chỗ Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Nham Đầu Toàn Khoát nói đạo lý, cuối cùng ngài Tuyết Phong ngộ, nói: Hôm nay mới thành đạo tại Ngao Sơn. Ngài đến Nghi Thủy, Phù Dung trông thấy vui vẻ nói: Nối thạnh tông ta hẳn là bọn ngươi vậy. Nhân đây, ngài ở lại với Thầy nhiều năm.

Sau Sư nhận trụ chùa Chiêu Đề, rồi dời đến Cam Lồ Tam Tổ. Đến niên hiệu Tuyên Hòa năm Nhâm Dần (1122) có chiếu bổ Sư trụ Viên Thông. Sau rời Viên Thông trụ ở Lặc Đàm.

Sư thượng đường:

- Phật xưa nói “Khi mới thành Chánh giác, ta thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành Chánh giác”. Sau, ngài lại nói “Sâu thẳm xa xôi không người đến được”. Kẻ không kiến thức, nên đầu rồng đuôi rắn.

Sư liền xuống tòa.

Kinh Hoa Nghiêm có nói, sau khi thành đạo đức Phật bảo: Khi mới thành Chánh giác, ta thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành Chánh giác. Phật nói tất cả chúng sanh đã thành Phật, tại sao chúng ta còn ngồi đây? Đứng về tánh Phật thì tất cả đều có sẵn, vì thế ngài nói tất cả chúng sanh đều thành Phật. Ví dụ gia đình có năm mười người con, cha mẹ trăm tuổi chia gia tài lại cho mỗi đứa con. Người anh cả khôn lớn đã lập gia đình, những đứa nhỏ thì còn đi học, hoặc chưa đủ khôn ngoan. Cha mẹ bảo người anh cả quản lý hết gia tài, giữ lại để sau này em út lớn khôn, hay có gia đình thì chia cho nó. Như vậy, khi người anh cả nhận phần gia tài của cha mẹ chia cho, tất cả các em tuy còn nhỏ nhưng đã có phần, chỉ là chưa được nhận mà thôi.

Lúc mới thành đạo, Phật thấy tất cả chúng sanh đều thành Phật, nhưng sau ngài lại nói Sâu thẳm xa xôi không người hay đến. Nghĩa là chỗ giác ngộ đó sâu thẳm xa xôi không người đến được. Thế là chỉ có mình ngài đến, chúng ta đến không được. Có mâu thuẫn không? Ngài Duy Chiếu nói: Kẻ không kiến thức, nên đầu rồng đuôi rắn. Câu sau và câu trước như có mâu thuẫn, trước thì nói ai cũng thành Phật, sau thì nói chỗ sâu thẳm xa xôi không người hay đến. Như vậy chỉ có ngài thành, chúng ta không thành. Phải không?

Đây phải hiểu ý Phật. Khi thấy chúng sanh mê muội, tự ty mặc cảm cho rằng Phật là Bồ-tát tái sanh, ngài tu thành Phật được còn mình là chúng sanh ngu muội không mong gì thành Phật. Phật tuyên bố rõ rằng tất cả các ngươi cũng đã thành Phật, để chúng sanh khỏi tự ty, nỗ lực tu, tin rằng mình đã có Phật tánh, ráng tu sẽ thành. Đối với những người tự tôn, nghe nói ta đã có Phật tánh tức ta đã là Phật, không cần tu làm chi nữa dư sự! Thế là họ cứ ăn chơi, không cố gắng tu hành, vì vậy Phật nói sâu thẳm xa xôi không người hay đến. Chỗ ta đạt đến sâu thẳm xa xôi, không có người đến được, không phải là chuyện thường. Người muốn đến đó phải cố gắng nỗ lực. Đó là lời cảnh tỉnh những người tự tôn, khi nghe nói mình có Phật tánh, rồi lười biếng muốn sống tự tại mà không sợ trầm luân.

Sư thượng đường:

- Chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên tiếc nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Tham!

Chư Phật quá khứ đã qua không nên tiếc nhớ, Phật vị lai chưa đến vọng tưởng làm gì. Chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Đừng tìm quá khứ vị lai làm chi, ngay bây giờ thấy được chính mình, đó là Phật.

Sư thượng đường:

- Bá Di hẹp hòi, Liễu Hạ Huệ không kính, quân tử chẳng noi theo. Khi hai bên chẳng lập, trung đạo chẳng an bày thì thế nào?

Sư cầm cây gậy nói:

- Uyên ương thêu rõ mặc ông ngắm, chẳng nắm kim vàng trao cho người.

Đoạn trên dẫn tích xưa. Khi nhà Châu kéo quân đánh nhà Thương, Bá Di Thúc Tề khuyên không được còn bị cho là phản nghịch, nên buồn bỏ lên núi Thú Dương ở ẩn. Sau nghe nhà Châu thắng, nắm hết quyền bính, chiếm tất cả đất đai trong nước, hai vị nhịn đói không ăn cơm của nhà Châu rồi chết. Nhiều người kính trọng khí tiết của hai vị, nhưng Liễu Hạ Huệ không kính. Liễu Hạ Huệ cho đó là không thức thời. Vua trước là hôn quân thì phải có người chân chính thay thế, tự bắt mình phải thờ hôn quân như vậy là không linh động, không sáng suốt.

Khi hai bên chẳng lập, trung đạo chẳng an bày thì thế nào? Một bên có lòng trung thành với vua trước, một bên cho rằng phải linh động ai chánh thì mình theo. Thường chúng ta hoặc theo bên này hoặc bên kia, nếu không bên này bên kia thì ở giữa. Nhưng khi hai bên không lập, ở giữa cũng không an bày, lúc đó thế nào? Ngài dẫn hai câu thơ xưa: Uyên ương thêu rõ mặc ông ngắm, chẳng nắm kim vàng trao cho ngươi. Tấm vải thêu chim uyên ương, hai con khắn khít với nhau, mặc tình ngắm xem. Chẳng nắm kim vàng trao cho người. Vải thêu có hình ảnh đẹp là do từ cây kim thêu. Nếu không trao kim thì thêu được không? Như vậy để thấy, nếu không có thêu dệt thì không có hai bên, không có hai bên thì không bị lôi cuốn đi trong luân hồi sanh tử nữa.

Sư thượng đường:

- Dưới cửa thái dương diệu xướng càng cao, trước nhà minh nguyệt tri âm lại ít. Chẳng khỏi thuyền ngang sông lạch, chèo nhịp sóng xanh; xướng khúc đời Nghiêu, hòa nhạc thanh bình. Trình bày như thế, khắp mời thừa đương. Vừa có nghĩ nghị, mây trắng bay muôn dặm.

Những câu nói thế này rốt cuộc nhắm vào đâu? Dưới cửa thái dương diệu xướng càng cao, tức là những bản nhạc hay, cao vút lên. Trước nhà minh nguyệt, tri âm lại ít. Chẳng khỏi thuyền ngang sông lạch, chèo nhịp sóng xanh; xướng khúc đời Nghiêu hòa nhạc thanh bình, trình bày như thế khắp mời thừa đương. Bao nhiêu việc tôi trình bày ở trên, mời các ông thừa đương, nhưng đừng suy nghĩ. Vì sao? Vừa có nghĩ nghị, mây trắng bay muôn dặm. Nghe mà không cho nghĩ, nghĩ thì lầm sai muôn dặm. Như vậy để thấy, mọi hình ảnh trước mắt chúng ta, nếu vừa dấy niệm thì đã sai rồi.

Sư thượng đường:

- Xưa tự chẳng sanh nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu mực. Nơi đây xuất sanh chốn này diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai góc, cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày. Hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam-muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não, tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.

Xưa tự chẳng sanh nay cũng chẳng diệt, chết chẳng được mẫu mực. Xưa chẳng sanh nay không diệt, là chỉ cho chỗ không khuôn mẫu. Nơi đây xuất sanh chốn này diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Vì chúng hàm sanh bị luật vô thường sanh rồi diệt, nên nói có quy củ. Như vậy, một bên không sanh, một bên sanh.

Đại trượng phu là người ở trong dòng sanh tử mà thấu nhập được, nên khác hơn những chúng sanh kia, tuy ở trong sanh tử mà không chịu quy luật vô thường. Tuy ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai góc, trong cảnh khổ mà cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày. Ở chỗ khó khăn khổ sở, trong dòng sanh tử mà luôn tự do.

Hay như thế đó, là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam-muội. Người được như vậy là người đang dùng vô lượng phương tiện để trang nghiêm chánh định của mình. Do đó, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh. Ngài chỉ rất rõ, người tu đừng sợ sanh tử. Muốn tu đến chỗ không sanh diệt, phải ngay trong sanh tử mà không mê muội, không bị vô thường lôi cuốn, tự do tự tại tùy phương tiện cứu độ mọi người. Như thế mới là trang nghiêm tam-muội, là cửa đại giải thoát.

Nếu không được như vậy, vô lượng phiền não, tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa. Nếu ở trong sanh tử mà không tự tại, không được trang nghiêm tam-muội, không được cửa đại giải thoát, thì sẽ bị tất cả phiền não trần lao che lấp con đường trở về Niết-bàn của mình.

Sư thượng đường:

- Người xưa nói “Rời bỏ thân thể, dẹp thông minh, lìa hình bỏ trí, đồng với đại đạo”. Bấy giờ hãy nói là người nào san thi thư, định lễ nhạc. Lại thấu hiểu chăng? Lễ rằng lễ rằng, lụa ngọc là thế ư? Nhạc rằng nhạc rằng, chuông trống là thế ư?

Người xưa nói, muốn đạt đạo lớn thì phải rời bỏ thân thể, tức là quên thân; dẹp thông minh là dẹp mọi kiến thức. Ngoài lìa cảnh quên thân, trong rời bỏ kiến thức, như vậy mới hợp với đại đạo. Bấy giờ hãy nói là người nào san thi thư, định lễ nhạc? Ngài nhắc người xưa nói, rồi hỏi ngay lúc ấy là người nào san thi thư, định lễ nhạc? Đâu không biết Khổng Tử là người san thi thư, định lễ nhạc. Sự thông minh trí tuệ của Khổng Tử làm lợi ích cho hậu lai, nhưng tại sao ở đây ngài lại hỏi? Lại thấu hiểu chăng? Lễ rằng lễ rằng, lụa ngọc là thế ư? Nhạc rằng nhạc rằng, chuông trống là thế ư? Có ai thấu hiểu chỗ đó không?

Tăng hỏi:

- Nghe Thầy nói, chỗ mây mù mịt ngọn Độc Tú hiện bày, trong trăng mờ mờ nước Lặc Đàm lấp lánh. Đâu chẳng phải cảnh Bảo Phong ư?

Sư đáp:

- Nếu là cảnh Bảo Phong, nhờ ngươi chín chắn xem.

Tăng hỏi:

- Thế nào là người trong cảnh?

Sư đáp:

- Xem lấy khi lệnh hành.

Tăng hỏi:

- Chỉ như nương lời cần hiểu tông chớ tự lập quy củ, thế nào là tông của Hòa thượng?

Sư đáp:

- Nên biết ngoài mây trên ngàn chót, riêng có tùng linh sương lạnh mang.

Tuyết rơi, Tăng hỏi:

- Tổ sư Tây sang thì không hỏi, thời tiết nhân duyên việc thế nào?

Sư đáp:

- Một mảnh hai mảnh ba bốn mảnh, rơi trong con mắt vẫn không tiến.

Chỗ mây mù mịt ngọn Độc Tú hiện bày, trong trăng mờ mờ nước Lặc Đàm lấp lánh. Độc Tú là ngọn núi đẹp cao vót, Lặc Đàm là cái đầm lớn. Có vị tăng nghe ngài thường nói như thế nên nêu ra hỏi, phải đó là cảnh Bảo Phong không? Ngài đáp: Nếu là cảnh Bảo Phong, nhờ ngươi chín chắn xem. Nếu cho đó là tả cảnh Bảo Phong thì ngươi hãy chín chắn xem.

Tăng hỏi: Thế nào là người trong cảnh? Ngài đáp: Xem lấy khi lệnh hành. Lệnh hành là đang thực hành điều lệnh, ví dụ khi đánh hét, hoặc lúc hỏi đáp. Ông muốn biết người trong cảnh, hãy xem khi thấy ta hành lệnh.

Tăng hỏi: Thế nào là tông phong của Hòa thượng? Ngài đáp: Nên biết ngoài mây trên ngàn chót, riêng có tùng linh sương lạnh mang. Ngoài ngàn chót núi cao khỏi mây, trên đó có một cây tùng linh đang đẫm sương lạnh, đó là tông của ta.

Tuyết rơi, Tăng hỏi: Tổ sư Tây sang thì không hỏi, thời tiết nhân duyên việc thế nào? Tăng hỏi về thời tiết nhân duyên, ngài đáp: Một mảnh hai mảnh ba bốn mảnh, rơi trong con mắt vẫn không tiến. Một mảnh, hai mảnh, ba bốn mảnh, là chỉ cho tuyết rơi trong câu nói ở trên. Thấy tuyết rơi tức biết đang mùa đông.

Những câu hỏi đáp này mới nghe quá lạ lùng, nhưng hiểu rồi thấy rất lý thú. Thời tiết nhân duyên ngay hiện tại, lại tìm hỏi mai mốt, năm này năm kia. Một mảnh tuyết rơi mát, hai mảnh tuyết rơi mát, ba bốn mảnh tuyết rơi mát mà không thấy, không chịu nhận ra, cứ hỏi chuyện năm trước làm gì? Hiện tại đây thôi.

Đến niên hiệu Kiến Viêm năm thứ hai (1128) ngày mùng bảy tháng giêng, Sư tịch.

✵✵✵

THIỀN SƯ BẢO GIÁC TỔ TÂM

hiệu HỐI ĐƯỜNG ở HOÀNG LONG

(1025 - 1100)

Sư họ Ổ, quê ở Thủy Hưng, Nam Hùng, lúc trẻ là thư sinh nổi tiếng. Năm mười chín tuổi Sư bị mù mắt, cha mẹ hứa cho xuất gia, con mắt Sư sáng lại. Sư đến nương với Sa-môn Huệ Toàn ở chùa Long Sơn. Năm sau thi Kinh nghiệp, Sư chỉ dâng thi liền được xuất gia. Sư tiếp trụ viện của Thầy chẳng thọ giới luật.

Thiền sư Tổ Tâm hiệu Hối Đường, ở tại chùa Hoàng Long. Ngài là đệ tử của thiền sư Huệ Nam tông Lâm Tế.

Ngày xưa tu không đơn giản, chúng ta hiện nay có phước hơn nhiều. Đời Tống muốn làm tăng thì phải đi thi, thi đậu mới được làm tăng. Chùa thì phải quan triều đình mới được mời trụ trì, chứ không phải ai muốn trụ trì cũng được.

Một hôm, Sư bỏ chùa vào tùng lâm yết kiến thiền sư Văn Duyệt ở Vân Phong, dừng lại đây ba năm. Sư khổ vì cơ phong cứng cỏi, bèn cáo từ thiền sư Duyệt ra đi. Duyệt bảo:

- Hãy đến nương với Huệ Nam ở Hoàng Bá.

Sư đến Hoàng Bá ở bốn năm, tuy tri hữu mà cơ chẳng phát. Sư từ giã trở lại Vân Phong, đến nơi thiền sư Duyệt đã tịch. Nhân đó, Sư đến tựa ở Thạch Sương mà không tham vấn. Sư thử xem Truyền Đăng đến đoạn “Tăng hỏi thiền sư Đa Phước: Thế nào là một vườn tre của Đa Phước? Đa Phước đáp: Một cây hai cây nghiêng. Tăng thưa: Chẳng hiểu. Đa Phước nói: Ba cây bốn cây cong.” Khi ấy, Sư liền giác ngộ hiểu rõ được hai thầy.

Sư khổ vì cơ phong cứng cỏi, bèn cáo từ thiền sư Duyệt ra đi. Ở chỗ thiền sư Văn Duyệt cơ phong khó vào, nên ngài từ giã ra đi. Duyệt bảo: Hãy đến nương với Huệ Nam ở Hoàng Bá.

Ngài đến Hoàng Bá ở bốn năm, tuy tri hữu mà cơ chẳng phát. Tri hữu là biết mình có cái đó nhưng cơ duyên chưa phát, chưa có một tiếng “À!” Có hai thứ tiếng, một tiếng thì nghi, một tiếng thì ngộ. Tiếng “ủa” là nghi. Ủa vậy sao? Tiếng à tức là ngộ. À! Thế à! Đây là những chữ đặc biệt trong nhà thiền dùng.

Trở lại Vân Phong thì thầy đã tịch, ngài đến nương Thạch Sương. Ngài xem Truyền Đăng Lục, đến đoạn Tăng hỏi thiền sư Đa Phước: Thế nào là một vườn tre của Đa Phước? Ở chùa Đa Phước có trồng tre nhiều, nên vị tăng này mới nêu ra hỏi. Tăng hỏi vườn tre là hỏi vườn tre thật hay muốn nói gì? Đa Phước đáp: Một cây hai cây nghiêng. Vị tăng nói: Không hiểu. Đa Phước nói: Ba cây bốn cây cong. Đọc đến đây ngài ngộ, trở về trình bày với thầy mình. Ngài ngộ chỗ nào? Phần này để bí mật ở đó, không nói hết.

Sư liền đi thẳng đến Hoàng Bá. Vừa mới trải tọa cụ, Huệ Nam cười nói:

- Ngươi vào thất của ta.

Sư cũng thích thú vui mừng thưa:

- Việc lớn xưa nay như thế, Hòa thượng cần gì dạy người khán thoại, hạ ngữ, trăm cách sưu tầm?

Huệ Nam đáp:

- Nếu chẳng dạy ông tầm cứu như thế, đến chỗ không dụng tâm tự thấy tự nhận, là ta đã chôn vùi ngươi vậy.

Sư thong thả chìm lặng ở trong chúng, thường đến thưa hỏi về cú ngữ của Vân Môn. Huệ Nam bảo:

- Biết là việc bên liền thôi, ông dùng nhiều công phu làm gì?

Sư thưa:

- Chẳng đúng. Nếu còn có chút nghi, chẳng đến vô học đâu thể tung hoành ngang dọc xoay trời chuyển đất được!

Huệ Nam hứa nhận.

Việc lớn xưa nay như thế, Hòa thượng cần gì dạy người khán thoại, hạ ngữ, trăm cách sưu tầm? Việc lớn xưa nay đơn giản như vậy. Hỏi tre thì đáp một cây hai cây nghiêng, Tăng chưa hiểu thì ngài trả lời ba cây bốn cây cong. Đơn giản như vậy. Hòa thượng bảo người khán thoại đầu làm chi cho nhức đầu khổ sở. Hoặc là hạ ngữ đáp câu này câu kia rồi ăn đòn hoài khổ vậy!

Huệ Nam đáp: Nếu chẳng dạy ông tầm cứu như thế, đến chỗ không dụng tâm tự thấy tự nhận, là ta đã chôn vùi ngươi vậy. Nếu ta không dùng phương tiện thì ông cứ thong thả biết chừng nào ngộ. Nhờ có những phương tiện đó mới nghiên tầm, tra cứu, tâm lần lần lặng xuống, mới có phút giây ngộ.

Ngài thong thả chìm lặng ở trong chúng, thường đến thưa hỏi về cú ngữ của Vân Môn. Lúc đó ngài sống thầm lặng, ngộ rồi mà không ai biết, cứ thầm lặng ở trong chúng bình thường. Ngài thưa hỏi các câu của Vân Môn chưa hiểu.

Huệ Nam bảo: Biết là việc bên liền thôi, ông dùng nhiều công phu làm gì? Biết là việc bên liền thôi, biết là việc bên đó như vậy, thôi hỏi thêm chi cho phiền. Ngài thưa: Chẳng đúng. Nếu còn có chút nghi, chẳng đến vô học, đâu thể tung hoành ngang dọc xoay trời chuyển đất được! Nếu còn có chút nghi ngờ chưa rõ thì làm sao tự tại ngang dọc, xoay trời chuyển đất được. Huệ Nam hứa nhận.

Sau đó, Sư đến yết kiến thiền sư Khả Chân ở Thúy Nham. Khả Chân tiếp Sư lời nói rất lạ. Sư dừng ở đây hai năm, Khả Chân quy tịch. Sư trở lại Hoàng Bá, Huệ Nam dạy phân tòa tiếp độ tăng chúng.

Đến Huệ Nam dời trụ Hoàng Long, Sư sang yết kiến thiền sư Hiểu Nguyệt ở Lặc Đàm. Hiểu Nguyệt dùng kinh luận tinh nghĩa được nhập thần, những vị đồng hàng ở các nơi nghe thế đều cười, bảo là chủ yếu không tự hết đi, lại thả một cây cầu vào hang sâu. Sư nói:

- Kia dùng cái đắc của hữu đắc, giữ trước ngừa sau. Ta dùng cái học của vô học, trăm sông về biển.

Phân tòa tức là chia tòa giáo hóa đồ chúng.

Ngài Hiểu Nguyệt khác hơn các thiền sư khác. Các vị khác chỉ nói thoại rồi thôi, còn ngài thì lấy kinh luận, những chỗ nghĩa thâm sâu, giảng dạy thấu đáo. Các vị kia cười, bảo là cái chủ yếu không tự hết đi, nghĩa là phải buông hết đi, còn thả một cây cầu vào hang sâu làm gì. Xem việc học kinh điển như cây cầu vào hang.

Ngài nói: Kia dùng cái đắc của hữu đắc, giữ trước ngừa sau. Ta dùng cái học của vô học, trăm sông về biển. Ngài nói ngài Hiểu Nguyệt dùng cái đắc của hữu đắc, là giữ trước ngừa sau. Còn ngài thì dùng cái học của vô học, vì trăm sông về biển, trăm ngàn kinh điển đều trở về chỗ chân thật, giống như trăm sông đều chảy về biển. Ngài là thiền sư ngộ đạo rồi mà còn không chê việc học. Ngài thấy rằng Phật tổ dạy không gì khác, chủ yếu là chỉ về chỗ chân thật của chính mình. Người học rộng thì có phương tiện nhiều, sự giáo hóa dễ. Nếu cố chấp chỗ sở đắc bao nhiêu đó, rốt cuộc không có phương tiện.

Sư do có chút bệnh dừng trụ ở Chương Giang. Chuyển vận phán quan là Hạ Ỷ Công Lập có nhã ý học thiền, gặp Dương Kiệt Thứ Công than rằng:

- Tôi đến Giang Tây hận không gặp được thiền sư Huệ Nam.

Thứ Công nói:

- Có thượng tọa Tổ Tâm ở Chương Giang, Công hãy đến thưa hỏi chẳng thiết gặp Huệ Nam.

Công Lập liền đến ra mắt Sư, cùng đàm luận tâm đầu ý hợp. Bàn Triệu Luận đến câu “Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể”, khi ấy có con chó nằm dưới bàn hương, Sư lấy cây thước đè giấy gõ con chó, lại gõ cái bàn, nói:

- Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình ở lại, tình cùng vô tình đâu thành một thể được?

Công Lập không thể đáp được. Sư tiếp:

- Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng “Hội muôn vật làm chính mình” ư?

Hai vị bàn về câu của Triệu Luận. Triệu Luận nói: Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể. Đã chung một thể sao gõ con chó nó đứng dậy đi, còn gõ cái bàn nó vẫn y nguyên không đi? Cái có biết, cái không biết rõ ràng, không một thể. Công Lập không đáp được. Ngài gỡ rối giùm: Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng hội muôn vật làm chính mình? Không phải cái bàn, con chó là một thể, muốn thấu đạt một thể thì không suy nghĩ. Khi không nghĩ thì muôn vật đồng một thể, vừa khởi nghĩ thì thành pháp dư, không phải một thể.

Thiền sư Huệ Nam quy tịch, Sư tiếp trụ trì Hoàng Long ngót mười hai năm. Song tánh Sư thật thà không thích theo việc, năm phen xin nghỉ mới được rảnh việc nhàn cư. Tạ Cảnh Ôn, sứ trấn thủ Đàm Châu thấy Quy Sơn thiếu người, đến thỉnh ba phen Sư vẫn từ chối. Sau Tạ Cảnh Ôn thỉnh Sư đến Trường Sa gặp một lần. Sư liền đến. Cảnh Ôn cầu xin nghe pháp yếu. Sư vì ông nói đại cương:

- Ba thừa mười hai phần giáo, giống như nói ăn, chỉ thức ăn cho người. Đã nhờ đó nói thức ăn, cốt nơi mình nếm lấy. Chính mình nếm được, liền rõ biết mùi vị kia là mặn lạt cay đắng. Tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật cũng lại như thế. Chân tánh đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sanh là tử. Đã rõ biết chân vọng sanh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận cái thấy nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Đâu chẳng biết, cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương.

Tạ Cảnh Ôn nghe được điều chưa nghe.

Đoạn này đạo lý quá hay! Kinh điển chỉ là phương tiện chỉ bày danh tự, nếm được hay không là do công phu tu của mình. Cho nên nói giống như nói ăn, chỉ thức ăn cho người. Nếu muốn biết thức ăn là mặn lạt, cay đắng ngọt bùi thì phải nếm. Nếu chỉ nói thức ăn cả ngày, nào bánh bao, hủ tiếu, bánh xèo... nói từ sáng tới chiều mà không ăn thì bụng vẫn đói.

Kinh điển dạy chúng ta phương pháp hay là danh tự để tìm ra cái thật, chúng ta không chịu tìm cái thật, cứ đọc danh tự hoài thì chẳng khác nói chân tâm, Phật tánh, Như Lai tàng... đủ hết mà không nhận ra, dù nói tới đâu cũng không thành. Cốt phải nếm được vị của nó mới là thật, muốn nếm được phải tu đến nơi đến chốn.

Tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật cũng lại như thế. Ngài chỉ thẳng chỗ đó cho chúng ta nhận ra sống được, không còn dùng văn tự quanh co nữa. Chân tánh đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Kinh nói chân tâm, Phật tánh đó là văn tự, cốt yếu chúng ta nhận ra nơi mình có chân tâm, Phật tánh. Nhận ra được mới đúng ý của Phật tổ nói.

Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sanh là tử. Nếu thấy được chân tâm, Phật tánh, lúc đó biết cái nào là chân, cái nào là vọng, cái nào là sanh, cái nào là tử. Đã rõ biết chân vọng sanh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Nhận ra được chân tâm Phật tánh rồi, biết rõ chân vọng rồi, lúc đó mới biết ngôn ngữ chỉ là phương tiện hiển bày, không có gì thật.

Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận cái thấy nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Bởi vì không biết rõ chỗ như thật, chỗ chân giải thoát nên cứ chấp vào cái thấy nghe hiểu biết của mình, cho đó là kiến giải thật.

Đâu chẳng biết, cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương. Kinh Lăng-nghiêm Phật nói cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có, đó là Phật quở ngài A-nan. Nếu không có cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng như lông rùa sừng thỏ trọn không chỗ nương.

Sư đáp câu hỏi của hàn thị lang Tông Cổ rằng:

- Nhân nghe “Khi xưa khai ngộ rỗng thênh không nghi, mà tập khí từ vô thủy đến nay không thể chóng dứt”. Song ngoài tâm không dư một pháp, chẳng biết phiền não tập khí là vật gì mà muốn dứt. Nếu khởi tâm này trở thành nhận giặc làm con. Từ trước đến giờ chỉ có ngôn thuyết, cho đến theo bệnh cho thuốc. Dù có phiền não tập khí, chỉ dùng tri kiến Như Lai trị nó, đều là lời quyền biến phương tiện dẫn dạy. Nếu là quyết định có tập khí để trị, lại là ngoài tâm có pháp mà có thể hết ấy. Ví như con linh quy lấy đuôi khỏa dấu, dấu lại hiện rõ. Nên nói, đem tâm dụng tâm lại thấy bệnh sâu. Nếu hay sáng tâm, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, tâm pháp đã không, lại muốn dạy hết cái gì.

Hàn thị lang là chức danh, Tông Cổ là tên. Dẫn người xưa nói, khi khai ngộ rồi thì thấy nó rỗng không thênh thang không còn nghi nữa, nhưng tập khí từ vô thủy đến nay không thể chóng dứt. Tại sao tập khí tới giờ chưa chịu hết? Ngài lặp lại câu hỏi của ông và giải thích: Song ngoài tâm không dư một pháp, chẳng biết phiền não tập khí là vật gì mà muốn dứt. Nếu ngoài tâm không có một pháp thì tập khí phiền não cũng ở trong tâm, đã ở trong tâm rồi thì ngộ tâm là được còn muốn dứt làm chi? Nếu khởi tâm này trở thành nhận giặc làm con, còn nghĩ dứt tức thấy nó thật, là nhận giặc làm con.

Từ trước đến giờ chỉ có ngôn thuyết, cho đến theo bệnh cho thuốc. Dù có phiền não tập khí, chỉ dùng tri kiến Như Lai trị nó, đều là lời quyền biến phương tiện dẫn dạy. Nếu nói rằng có tập khí, dùng tri kiến Như Lai để trị, cũng là phương tiện quyền biến. Nếu là quyết định có tập khí để trị, lại là ngoài tâm có pháp, mà có thể hết ấy. Ví như con linh quy lấy đuôi khỏa dấu, dấu lại hiện rõ. Nên nói, đem tâm dụng tâm lại thấy bệnh sâu. Nếu cho rằng có tập khí thật để trị, tức là ngoài tâm có pháp. Tâm thể thênh thang trùm khắp, bao nhiêu tập khí vọng tưởng đều là hư dối không thật, cần gì phải trị, chỉ biết là đủ rồi. Muốn trị thì thành bệnh.

Nếu hay sáng tâm, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, tâm pháp đã không, lại muốn dạy hết cái gì. Nếu sáng được tâm thì thấy ngoài tâm không có pháp nào khác, ngoài pháp không tâm. Bởi vì muôn pháp không ngoài, không rời tâm. Tâm pháp hai thể là không, đã là không thì muốn trừ cái gì, muốn cái gì hết?

Sư dạo kinh đô, phò mã đô úy là Vương Công Săn thành tâm lễ đón và cất am ở ngoài Quốc môn. Sư ở đây thời gian, lại sang phương Nam dạo Lô Sơn. Bành Khí Tư trấn thủ Cửu Giang gặp Sư, Khí Tư thong dong hỏi:

- Khi người lâm chung có chỉ quyết chăng?

Sư đáp: - Có.

Khí Tư thưa: - Xin được nghe lời này.

Sư bảo: - Đợi Khí Tư chết liền nói.

Khí Tư đứng dậy kính trọng nói:

- Việc này phải là Hòa thượng mới được.

Chỉ quyết tức là yếu chỉ quyết định. Bành Khí Tư hỏi, khi chết có yếu chỉ quyết định gì không? Ngài nói có. Khí Tư yêu cầu nói cho nghe. Ngài nói: Đợi Khí Tư chết liền nói, chừng nào ông chết tôi sẽ nói. Vị quan này khen ngợi: Việc này phải là Hòa thượng mới được. Hòa thượng mới nói câu đó, chứ người thường không thể nói được như thế. Nếu có người hỏi chỉ quyết khi chết thì chúng ta sẽ nói, khi chết phải giữ tâm thanh tịnh, nhớ niệm Phật... Ngài nói, đợi khi ông chết tôi sẽ nói. Chỉ quyết của nhà thiền là cái hiện tiền, nói trước nói sau đều sai, ngay hiện tiền thấy được thì đúng, còn khi khác thì trật.

Sư từng làm bài kệ:

Bất trụ Đường triều tự

Nhàn vi Tống địa tăng

Sanh nhai tam sự nạp

Cố cựu nhất chi đằng.

Khất thực tùy duyên khứ

Phùng sơn nhậm ý đăng

Tương phùng mạc tương tiếu

Bất thị Lãnh Nam Năng.

Dịch:

Chùa triều Đường chẳng trụ

Làm tăng đất Tống nhàn

Sanh nhai ba vật chánh

Cố cựu một cây hèo.

Tùy duyên đi khất thực

Gặp núi mặc tình leo

Thấy nhau chớ cười mỉm

Chẳng phải Năng Lãnh Nam.

Đọc bài thơ này khả dĩ thấy được phẩm cách của Sư.

Đời của ngài có chùa chiền, sự nghiệp gì không? Chùa triều Đường chẳng trụ, làm tăng đất Tống nhàn. Ngài sanh vào thời nhà Tống, nên không còn ở chùa triều Đường nữa, mà sang làm tăng đất Tống. Sanh nhai ba vật chánh, cố cựu một cây hèo. Ba vật chánh là y bát tọa cụ, thêm một vật thân thiết nữa là cây gậy. Tùy duyên đi khất thực, gặp núi mặc tình leo, đời ngài chỉ có bốn vật đó mang theo mình, tùy duyên đói thì đi khất thực, gặp núi thì leo qua. Thấy nhau chớ cười mỉm, chẳng phải Năng Lãnh Nam, ngài nói tôi không phải là Lục tổ. Đọc bài thơ này chúng ta có thể thấy được phẩm cách của ngài.

Sư tuổi đã già lại dời am vào chốn rừng sâu, bặt người lui tới hơn hai mươi năm. Mỗi khi đến ngày kỵ của thiền sư Huệ Nam, Sư làm bài kệ:

Tích nhân khứ thời thị kim nhật

Kim nhật y nhiên nhân bất lai

Kim ký bất lai tích bất vãng

Bạch vân lưu thủy không bồi hồi.

Thùy vân xứng xích bình,

trực trung hoàn hữu khúc;

Thùy vân vật lý tề,

chủng ma hoàn đắc túc.

Khả lân trì trục thiên hạ nhân

Lục lục nguyên lai tam thập lục.

Dịch:

Người xưa ra đi ngày này thật

Ngày nay như cũ người chẳng về

Nay đã chẳng về, xưa chẳng đến

Mây trắng nước trôi luống bồi hồi.

Ai bảo cân thước bằng, trong ngay lại có cong;

Ai bảo vật lý đồng, gieo gai lại được lúa.

Đáng thương lận đận thảy mọi người

Sáu sáu xưa nay là băm sáu.

Người xưa ra đi ngày này thật, ngày nay như cũ người chẳng về. Hai câu đầu nhắc lại ngài Huệ Nam ngày xưa ra đi ngày này, ngày kỵ là ngày Thầy mình đi, ngày nay như cũ nhưng Thầy đi rồi không trở lại nữa. Khi đi mà không về thì thấy gì? Nay đã chẳng về, xưa chẳng đến, mây trắng nước trôi luống bồi hồi. Chỗ không về không đến không đi đó là gì? Chỉ thấy mây trắng, nước trôi quanh quẩn. Đó là hiện tại.

Ai bảo cân thước bằng, trong ngay lại có cong. Nơi thế gian muốn biết nặng bao nhiêu thì dùng cân, muốn biết mực thước tới đâu thì phải đo. Cân và thước là để đặt ra giá trị công bằng. Nhưng tại sao đây nói, trong ngay lại có cong? Vì chúng ta luôn đòi hỏi mọi người phải công bằng, trong nhà thì đòi cha mẹ phải công bằng, trong chúng thì đòi thầy phải công bằng. Nhưng có công bằng được không?

Trong nhà những đứa hiếu thảo dễ dạy thì thương nhiều, hay đứa ngỗ nghịch thương nhiều? Cha mẹ đối với con cái lẽ ra công bằng, nó là máu thịt của mình, nhưng cũng khó mà công bằng. Trong chùa, thầy tổ công bằng với học trò đệ tử được không? Đệ tử dạy đâu nghe đó, phân công việc gì đều chu toàn, làm xong mọi công tác không có sơ thất hư hao; lại có đệ tử dạy thì cự cãi, làm đâu thất bại đó, Thầy sẽ thương sao cho công bằng đây?

Nếu chúng ta đòi công bằng trong mọi trường hợp thì sẽ luôn luôn bất mãn, thấy ở đâu cũng không có công bằng, từ trên trời tới dưới đất. Người sanh trên cõi trời tùy phước, có người tới bữa ăn được bát vàng cơm ngon, có người thì bát bạc cơm dở hơn. Do nhân duyên xử sự của mỗi người nên báo ứng không công bằng. Đây nói câu chí lý cân thước bằng, trong ngay lại có cong. Đó là bài học sống để cho chúng ta biết, không nên đòi hỏi bên ngoài mà không thấy được mình.

Ai bảo vật lý đồng, gieo gai lại được lúa. Vật lý lẽ là đồng, nhưng tại sao gieo gai lại được lúa, gieo cái này mà được cái kia? Cũng như nói làm lành thì gặp lành, làm dữ thì gặp dữ, mà hiện tại có người làm dữ lại không gặp dữ, còn người làm lành sao cũng gặp tai nạn liên miên? Mới biết rằng, còn có cộng thêm cái gì trong đó nữa, chứ không phải chỉ bấy nhiêu thôi.

Ngài nói, đáng thương lận đận thảy mọi người. Mọi người lận đận vì cứ cố chấp, đòi chỗ này đồng chỗ kia công bằng, mà chính mình không thấu suốt lẽ thật. Sáu sáu xưa nay là băm sáu, sự thật của cuộc đời là như vậy, đừng đòi hỏi gì khác rồi khổ đau. Ý nghĩa thật rõ ràng.

Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ ba (1100) giữa đêm ngày mười sáu tháng mười một, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi, 55 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Bảo Giác.

✵✵✵

THIỀN SƯ KHẮC VĂN CHƠN TỊNH

ở LẶC ĐÀM - HỒNG CHÂU

(1025 - 1102)

Sư họ Trịnh, quê ở Văn Hương, Thiểm Phủ. Họ Trịnh ở thế tục phần lớn làm công khanh. Sư sanh ra có những điều quái lạ, mồ côi mẹ sớm, thờ kế mẫu rất chí hiếu mà không được thương. Kế mẫu hà khắc thường hành hạ Sư, cha thương xót bảo đi du học bốn phương. Sư đến Bắc Tháp ở Phục Châu, nghe kỳ túc Quảng Công thuyết pháp cảm động đến rơi lệ. Sư ở lại đây thờ Quảng Công làm thầy, Quảng Công cho Sư hiệu là Khắc Văn. Đến năm hai mươi lăm tuổi thi sở học, được xuất gia thọ giới Cụ túc.

Sư học kinh luận đều được thấu đáo. Sư đi học các lớp giáo lý ở Kinh Lạc, nhân kinh hành tại hành lang điện Long Môn, thấy đắp tượng một vị Tỳ-kheo con mắt như ở trong định. Bỗng nhiên Sư tự mất, bảo người bạn rằng:

- Chỗ ta chất chứa như Ngô Đạo Tử vẽ người vật, tuy thật là khéo mà chẳng phải sống.

Khi ấy Sư bỏ đi, nói:

- Ta sẽ sang phương Nam học đạo.

Đây là thiền sư Khắc Văn hiệu Chơn Tịnh ở Lặc Đàm, cũng là đệ tử của ngài Huệ Nam Hoàng Long. Ngài rất hiếu thảo, gặp kế mẫu hà khắc nên cha nóng ruột bảo đi du học.

Sư đến Bắc Tháp ở Phục Châu nghe kỳ túc Quảng Công thuyết pháp cảm động đến rơi lệ. Sư ở lại đây thờ Quảng Công làm thầy. Quảng Công cho Sư hiệu là Khắc Văn. Đến năm hai mươi lăm tuổi thi sở học, được xuất gia thọ giới Cụ túc. Ngài hiểu kinh, thấu suốt giáo lý, đó là điều hay tốt rồi, nhưng khi thấy tượng Tỳ-kheo ngồi thiền cặp mắt như ở trong định, liền ngộ dù cho hình tướng tô đắp vẽ vời rất đẹp rất giống người thật, nhưng cũng chỉ là vẽ đắp, không phải người sống thật. Như vậy, bao nhiêu sự học của ngài, hiểu được kinh điển giáo lý cũng chỉ là hình vẽ. Ngang đó ngài tự trách, nói rằng chỗ chất chứa của mình giống như Ngô Đạo Tử, người thợ vẽ tài tình của đời trước. Dù vẽ thật khéo giống như người sống, nhưng không phải là người sống. Từ đó, ngài sang phương Nam học đạo.

Qua đoạn này chúng ta thấy, chấp vào hiểu biết của mình là bệnh, cái hiểu chưa đến được cái thật, cần phải thấu được cái thật. Đa số người hay hỏi nhau, hỏi trên danh từ, thế nào là chân tâm... Dùng danh từ giải thích chân là chân thật, tâm là tâm hiểu biết, tâm hiểu biết chân thật đó là chân tâm... Đem ngôn ngữ biện luận cả trăm năm, người hỏi và người nói không ai hiểu gì, cũng không ai thấy được chân tâm. Chân tâm là cái linh động của mỗi người đang sống, nhận được cái đó là thấy, không nhận được thì dù giải thích bao nhiêu nghĩa cũng không thấy được.

Niên hiệu Trị Bình năm thứ hai (1065), Sư an cư tại Đại Quy. Ban đêm nghe vị tăng tụng lời Vân Môn, “Tăng hỏi: Phật pháp như trăng trong nước phải chăng? Vân Môn đáp: Sóng xanh không đường thoát”, Sư hoát nhiên có tỉnh.

Câu đáp không phải là lời thật, nhằm vào ý nghĩa câu hỏi. Phật pháp như trăng trong nước phải chăng? Lẽ ra nói phải hay không phải, nhưng ngài Vân Môn chỉ nói: Sóng xanh không đường thoát. Nhân đó ngài Chơn Tịnh ngộ.

Khi ấy thiền sư Huệ Nam đang ở núi Hoàng Bá, Sư tìm đến đó, gặp Chơn Giác Duy Thắng làm Thủ tọa. Một hôm Huệ Nam nhắc lời cổ đức “Niệm tán trên lầu chuông, trồng rau dưới chân giường”, bảo chúng hạ ngữ. Duy Thắng nói: “Cọp mạnh ngồi ngay lộ.” Huệ Nam vui vẻ bèn thối viện để Duy Thắng trụ. Thiền sư Huệ Nam về am Tích Thúy an trụ. Sư đến am ba phen mà lời nói chẳng hợp, tự nói: “Lão này chỉ là Tăng tu hành, không hiểu lời nói của ta.”

Sư ra đi, đến Thúy Nham yết kiến thiền sư Thuận. Thuận tri kiến rất cao mà thích nói sắn bìm, nên các nơi gọi là Thuận bà già.

Ba phen trình bày mà ngài Huệ Nam không nhận, Ngài tự cho mình hiểu kinh luật nhiều rồi, trình bày mà Huệ Nam không hiểu, chắc là biết tu chứ không hiểu lời nói của mình, thôi từ giã đi chỗ khác.

Sư ra đi, đến Thúy Nham yết kiến thiền sư Thuận. Thuận tri kiến rất cao mà thích nói sắn bìm, nên các nơi gọi là Thuận bà già, tức là thiền sư Thuận từ bi như bà già, giải thích chỉ dạy hết cho người. Tôi bây giờ chắc họ cũng nói “Từ bà già”. Giải thích kinh điển bị cho là sắn bìm; phải nói thẳng, nói không cho nghĩ nghị mới gọi là cao.

Thuận hỏi Sư: - Vừa rời chỗ nào?

Sư thưa: - Hoàng Bá.

Thuận hỏi: - Am chủ được an vui chăng?

Sư thưa: - An vui.

Thuận hỏi: - Ông người xứ nào?

Sư thưa: - Quan Tây.

Thuận bảo:

- Sao lời nói chẳng giống người Quan Tây?

Sư thưa: - Đi du học hồi nhỏ.

Thuận hỏi: - Làm Tăng tại đâu?

Sư thưa:

- Xuất gia với hòa thượng Quảng tại Bắc Tháp. Hòa thượng Quảng cùng hòa thượng Tú đồng tham Song Tuyền Úc.

Thuận cười nói:

- Thiền sư Khoảnh cùng Nột Tổ Ấn tham vấn hai vị đại lão này, mà không hiểu ngữ thoại kia. Đến tôi hiện nay tham được chút ít thiền, cần thấy hai vị mà đã thiên hóa.

Thuận lại hỏi:

- Tân trụ trì Hoàng Long thế nào?

Sư thưa:

- Khỏe mạnh.

Thuận nói:

- Y chỉ hạ được một chuyển ngữ hay liền trụ Hoàng Long, về thiền còn chưa mộng thấy.

Sư nhân đây đại ngộ tông chỉ Lâm Tế, liền thấy chỗ dùng của Huệ Nam, Sư bèn làm mấy bài tụng gửi về. Huệ Nam đọc qua rất tán thưởng. Sư trở về tham lễ.

Huệ Nam hỏi: - Từ chỗ nào lại?

Sư thưa: - Thúy Nham.

Huệ Nam bảo: - Đúng lúc lão tăng không ở nhà.

Sư hỏi: - Chưa biết đi đâu?

Huệ Nam nói:

- Phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc.

Sư thưa:

- Nếu vậy học nhân cũng được đi tự tại.

Huệ Nam hỏi:

- Giày mang dưới chân được ở đâu?

Sư thưa: - Lô Sơn, bảy trăm tiền mua được.

Huệ Nam bảo: - Đâu từng tự tại?

Sư chỉ thưa: - Đâu từng chẳng tự tại.

Huệ Nam kinh ngạc. Ở đây thời gian lâu, Sư từ giã đến dưới hội Thúy Nham Thuận.

Thầy trò đối đáp như nói đùa chơi. Sau khi ngộ được tông chỉ Lâm Tế, ngài trở về tham lễ, Huệ Nam đích thân nói: Vừa gặp lão tăng không ở nhà. Trả lời như vậy có phải nói gạt không? Ngài hỏi: Chưa biết đi đâu? Không ở nhà vậy chứ đi đâu? Huệ Nam nói: Phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc. Phổ thỉnh tức là được mời thọ trai ở Thiên Thai, miền bắc Trung Quốc; mà dạo chơi ở Nam Nhạc, thuộc về miền nam. Ý nói khả năng tự do tự tại. Người xưa đối đáp như trên trời trên mây, không có cái gì hiện thực cho mình hiểu. Đối diện mà nói không có ở nhà, hỏi ở đâu thì nói được phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc.

Ngài thưa: Nếu vậy học nhân cũng được đi tự tại, Ngài được mời đằng kia mà đi ở đây, thật là tự do tự tại, con cũng tự tại như Ngài. Huệ Nam hỏi: Giày mang dưới chân được ở đâu? Nếu nói tự tại thì giày ông đang mang dưới chân là được ở đâu? Ngài thưa: Lô Sơn bảy trăm tiền mua được. Tốn tiền tức là hết tự tại rồi, nên Huệ Nam bảo: Đâu từng tự tại? Ông mua mắc như vậy là không tự tại. Ngài đáp: Đâu từng chẳng tự tại, dù mua bao nhiêu tôi cũng vẫn tự tại. Nghe xác nhận câu đó, ngài Huệ Nam kinh ngạc, biết rõ đây là người đã thấy thật.

Thiền sư Huệ Nam trụ Hoàng Long, Sư cùng đến đó. Huệ Nam bảo:

- Vừa rồi sai thị giả cuốn rèm, hỏi y: Khi cuốn rèm lên thì thế nào? Y đáp, xem thấy thiên hạ. Hỏi, khi buông rèm xuống thì thế nào? Y đáp, nước rỉ chẳng thông. Hỏi, khi chẳng cuốn chẳng buông thì thế nào? Y đáp không được. Ngươi thử đáp thay xem!

Sư thưa:

- Hòa thượng thế thị giả xuống nhà Niết-bàn mới được.

Huệ Nam gằn giọng nói:

- Người Quan Tây quả không đầu não.

Bèn nhìn tăng bên cạnh. Sư chỉ vị tăng ấy nói:

- Chỉ vị tăng này cũng chưa mộng thấy.

Huệ Nam cười to.

Ngài đối đáp với thầy dường như thất lễ. Khi ngài Huệ Nam bảo thị giả kéo rèm lên, hỏi: Cuốn rèm lên thì thế nào? Thị giả đáp: Xem thấy thiên hạ. Hỏi: Khi buông rèm xuống thì thấy thế nào? Đáp: Nước rỉ chẳng thông. Hỏi: Khi chẳng cuốn chẳng buông thì thế nào? Thị giả đáp không được, Huệ Nam bảo ngài đáp thử. Ngài thưa: Hòa thượng thế thị giả xuống nhà Niết-bàn mới được. Nhà Niết-bàn là nhà dưỡng bệnh. Tại sao bảo Hòa thượng thế thị giả xuống nhà dưỡng bệnh mới được? Vì còn bảo kéo lên hạ xuống, lại hỏi không kéo không buông thì sao... ba bốn lần, như vậy là bị bệnh.

Huệ Nam gằn giọng nói: Người Quan Tây quả không đầu não, tức là không biết phải quấy, rồi nhìn tăng bên cạnh. Ngài chỉ vị tăng ấy, nói: Chỉ vị tăng này cũng chưa mộng thấy. Huệ Nam cười. Đó là đối đáp thấu suốt. Cái chân thật ấy ai không có, nếu bảo tìm bảo nói ra, chỉ là chuyện nói suông.

Sau khi thiền sư Huệ Nam quy tịch, Sư dạo Hoành Nhạc, trở lại thủ chúng ở Ngưỡng Sơn. Đến niên hiệu Hy Ninh thứ năm (1072), Sư đến Cao An, thái thú Tiền Công Dặc Tiên Hầu ra mắt Sư. Sư lại đến ra mắt Tiền Công, trong bình phong có con chó chạy ùa ra sủa, Sư đứng tránh một bên. Tiền Công giễu nói:

- Thiền giả vẫn hay giáo hóa rắn cọp mà lại sợ chó sao?

Sư đáp:

- Cọp trong núi dễ dẹp, rồng giữ nhà khó trừ.

Tiền Công khen rằng:

- Thật danh chẳng dối.

Tiền Công mời Sư trụ Động Sơn, sau trụ Thọ Thánh.

Câu đáp hay ở chỗ nào? Cọp trong núi không tham không chấp, còn rồng hay chó giữ nhà bám chặt nên khó trừ, cái chấp chặt rất khó bỏ. Câu nói quá hay! Đây là những giai thoại đặc biệt của nhà thiền.

Tại Động Sơn, Sư thượng đường dạy chúng:

- Dưới cửa Động Sơn có khi hòa bùn hợp nước, có khi vách đứng ngàn nhẫn. Cả thảy các ông, nghĩ nhằm chỗ hòa bùn hợp nước thấy Động Sơn, Động Sơn chẳng ở chỗ hòa bùn hợp nước. Nghĩ nhằm chỗ vách đứng ngàn nhẫn thấy Động Sơn, Động Sơn chẳng ở chỗ vách đứng ngàn nhẫn. Nghĩ nhằm tất cả chỗ thấy Động Sơn, Động Sơn chẳng ở tất cả chỗ. Ông chẳng cần thấy dây mũi của Động Sơn, ở trong tay Động Sơn toan ngủ mê, nắm dây mũi kéo một cái, chỉ thấy con mắt định động lại chẳng biết nhau. Lại chẳng cần biết Động Sơn, hãy biết chính mình là được.

Câu này chủ yếu là gì? Động Sơn có khi hòa bùn hợp nước, có khi vách đứng ngàn nhẫn, vậy thấy Động Sơn ở đâu? Không phải ở chỗ hòa bùn hợp nước, cũng không ở chỗ vách đứng ngàn nhẫn, tất cả chỗ đều không có. Ngài nói nghe như tầm thường nhưng rất hay: Ông chẳng cần thấy dây mũi của Động Sơn, ở trong tay Động Sơn. Dây mũi con trâu nằm trong tay của Động Sơn. Toan ngủ mê, lúc sắp ngủ mê, nắm dây mũi kéo một cái, chỉ thấy con mắt định động lại chẳng biết nhau. Ý nói Động Sơn có những phương tiện đánh thức, khi mê tự giật dây thì tỉnh lại, không có gì quan trọng. Tóm lại, tất cả các ông không cần biết tôi mà các ông phải biết các ông. Đó là việc tối quan trọng.

Sư trụ trì được mười hai năm, chán sự ồn náo xin nghỉ việc đi dạo Tam Ngô. Khi Sư đến Kim Lăng, Vương Kinh Công mới về hưu ở tại Định Lâm, nghe Sư đến ra nghênh đón, ông rất vui mừng đàm đạo trọn ngày. Công hỏi:

- Các kinh ở đầu đều có nêu thời xứ, riêng kinh Viên Giác không thấy là sao?

Sư đáp:

- Giáo lý đốn ngộ diễn bày, là chỉ thẳng cho chúng sanh chỗ nhật dụng hiện tiền chẳng thuộc xưa nay. Hiện giờ lão tăng cùng Tướng công đều nhập Đại quang minh tạng, Du hý tam-muội lẫn làm chủ khách không can dự thời xứ.

Kinh Công rất vui, cùng em lập một ngôi chùa, thỉnh Sư làm Tổ khai sơn thứ nhất.

Vương Kinh Công nghi hỏi ngài, thường mở đầu các kinh có câu “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại...”, nhưng tại sao kinh Viên Giác lại không có, như thế phải do Phật nói không? Ngài đáp, sở dĩ kinh Viên Giác không chỉ thời xứ là vì giáo lý đốn ngộ, chỉ thẳng cho chúng sanh chỗ nhật dụng hiện tiền mà thôi. Chỗ nhật dụng hiện tiền này hiện giờ tôi và ông đang nói chuyện, đâu không ở trong Đại quang minh tạng, ở trong Du hý tam-muội, làm chủ làm khách với nhau. Vương Kinh Công nghe rất vui mừng.

Sư đăng tòa nói:

- Đại chúng! Một hội ngày nay cần biết chăng? Là tịnh duyên thời tiết thành Phật của đại chúng. Hội hôm nay là do Thừa tướng Kinh quốc công cùng Phán phủ tả thừa cúng nhà hiến vườn rừng làm chùa, thỉnh sơn tăng xiển dương Tổ ý. Quý vị lại hiểu chăng? Chỉ thẳng cho đại chúng tức tâm kiến tánh thành Phật. Đại chúng tin được chăng? Nếu tự tin được liền biết tánh mình xưa nay thành Phật. Dù có chưa tin, cũng sẽ thành Phật. Chỉ vì mê đã lâu, chợt mới nghe nói thật khó mà tin được.

Tất cả thiện tri thức trong thiên hạ xưa nay, tất cả thiền đạo, tất cả ngữ ngôn, đều là từ trong Phật tánh của thiện tri thức lưu xuất dựng lập. Song lưu xuất đó là ngọn, Phật tánh là gốc. Gần đây Phật pháp đáng thương, phần nhiều bỏ gốc theo ngọn, bối chánh hợp tà, chỉ nhận ngôn cú của cổ nhân làm thiền làm đạo, có gì giao thiệp! Dù cho tổ Đạt-ma Tây sang cũng không thiền có thể nói. Chỉ cốt đại chúng tự chứng tự ngộ, tự thành Phật, tự dựng lập tất cả thiền đạo. Huống là thần thông biến hóa, chúng sanh vốn tự đầy đủ chẳng nhờ tìm bên ngoài. Hiện nay phần nhiều người tìm cầu bên ngoài, bởi căn bản tự không có chỗ ngộ, một bề làm khách đếm trân bảo cho người, trọn là hư vọng chẳng khỏi trôi lăn trong sanh tử.

Dù tin hay chưa tin cũng thành Phật. Dù tin hay không tin, Phật cũng không rời mình. Luôn có Phật hiện tại, cho nên đều thành Phật. Nếu tự tin được, liền biết tánh mình xưa nay thành Phật. Bao nhiêu kinh điển đều từ Phật tánh lưu xuất. Giáo lý kinh điển là ngọn, Phật tánh là gốc. Lẽ ra người tu phải tìm tận cái gốc đó, nhưng khổ nỗi cứ chạy theo ngọn, ôm chấp những câu kinh hay lời luận giỏi, mà không chịu thấy Phật tánh của chính mình. Như vậy là bỏ gốc theo ngọn, bối chánh hợp tà. Tổ Đạt-ma từ Tây sang cũng không cho chúng ta cái gì. Ngài không cho mình thành Phật, chẳng qua là chỉ cái sẵn có, mỗi người tự nhận tự ngộ, tự thành Phật.

Huống là thần thông biến hóa, chúng sanh vốn tự đầy đủ chẳng nhờ tìm bên ngoài. Mọi thần thông biến hóa cũng tự sẵn nơi mình, nếu ngộ được gốc thì thần thông biến hóa là cái ngọn sẽ có liền. Chúng sanh có bệnh ham thần thông mà không chịu ngộ Phật tánh, đa số người cứ tìm bên ngoài, nghe nói Phật hiện ở đâu thì chạy tới đó. Nghe ai biết quá khứ vị lai, biết biến hóa hoặc có cái gì lạ thì cho là tuyệt vời, rủ nhau chạy tới tìm cầu. Như vậy là bỏ gốc theo ngọn, giống người làm việc ngân hàng, đếm tiền từ sáng tới chiều mà trong túi trống không. Chúng ta cũng vậy, cứ chạy đầu này cầu, đầu kia kiếm, mà không chịu ngộ, không chịu tu, cũng như người đếm tiền cho ngân hàng vậy thôi.

Đại chúng! Ngày nay hai tướng công kiến lập đại đạo tràng này, làm đại Phật sự, đưa chúng sanh ra khỏi khổ trôi lăn sanh tử, bày hiện diệu tâm tịch diệt rộng lớn xưa nay, khai phát thần thông đại quang minh tạng xưa nay. Chỉ vì mê nên ở trong hàng phàm phu, ngộ thì chính nay là hiền thánh.

Tất cả chúng ta đều sẵn có thể chân thật, thể giác ngộ, vì mê nên làm phàm phu, nếu ngộ thì là hiền thánh rồi.

Đại chúng! Nói nhiều ắt cách đạo càng xa, làm trò cười cho hàng đạo nhân mắt sáng, trong chúng có người mắt sáng chăng? Thời nay Phật pháp lẫn lộn, cốt phân tà chánh khiến mọi người chẳng rơi vào tà kiến, làm con mắt chánh cho trời người. Có chăng? Có chăng?

Sư im lặng giây lâu nói:

- Tôi trọn chẳng dám khinh các người, các người đều sẽ làm Phật.

Sư xuống tòa.

Phân biệt tà chánh, tà tức là chỉ chạy theo bên ngoài, chánh là biết trở về mình.

Tôi trọn chẳng dám khinh các người, các người đều sẽ làm Phật, một câu gọn gàng, câu này xuất xứ từ đâu?

Kinh Công rất vui. Ông kể đạo hạnh của Sư tâu về triều, vua ra chiếu ban hiệu cho Sư là Chơn Tịnh thiền sư. Không bao lâu, Sư chán sự ồn náo trở về Cao An cất am dưới núi Cửu Phong để tên là Đầu Lão. Học giả bốn phương kéo đến. Được sáu năm, Sư lại ra trụ trì Quy Tông. Hai năm sau, Trương Thiên Giác gặp Sư ở Lô Sơn, cố thỉnh Sư trụ trì Lặc Đàm. Không bao lâu, Sư lui về ở Vân Am.

Đầu Lão, đầu là gieo, lão là già, gieo cái thân già này gửi ở đây, gọi là Đầu Lão.

Niên hiệu Sùng Ninh năm đầu (1102) ngày mùng một tháng mười, Sư mắc bệnh. Đến ngày rằm, bệnh Sư nhẹ. Hôm nay Sư đem mọi dụng cụ cần thiết của Sư phân phối cho đệ tử hết. Giữa đêm mười sáu, Sư tắm gội rồi ngồi kiết già, chúng thỉnh thuyết pháp, Sư cười nói:

Kim niên thất thập bát

Tứ đại tương ly biệt

Phong hỏa ký ly tán

Lâm hành hưu cánh thuyết.

Dịch:

Năm nay bảy mươi tám

Bốn đại sắp rời rã

Gió lửa đã ly tán

Sắp đi còn gì nói.

Nói xong, Sư viên tịch, thọ 78 tuổi.

Đến ngày ra đi từ giã gọn gàng. Khỏe quá! Tu được như vậy không còn lo gì. Cho nên việc tu quan trọng là phải trở về mình, sống được cái chân thật của mình mới tự do tự tại. Nếu chạy ra ngoài lấy sự hiểu biết thông thuộc làm sự nghiệp thì không thể nào tự tại.

✵✵✵

THIỀN SƯ HỒNG ANH

ở LẶC ĐÀM - HỒNG CHÂU

(1012 - 1070)

Sư họ Trần, quê ở Thiệu Võ, lúc bé thông minh mẫn tiệp đọc sách chóng thuộc. Cha mẹ mến thương cho học làm thư sinh, chuẩn bị thi tiến sĩ, Sư xin xuất gia tự thệ bỏ ăn, buộc lòng cha mẹ phải cho.

???

Mục Lục
Danh sách chương: