Thiền Tông Việt Nam
Thanh Từ Toàn Tập 31 - Hành Trạng Thiền Sư 2
Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải - Phần II
Đời Thứ Tư Sau Lục Tổ - Phái Hành Tư

I- NỐI PHÁP DƯỢC SƠN DUY NGHIỄM

Có mười vị

1- Thiền sư Đàm Thạnh (Vân Nham)

2- Thiền sư Viên Trí

3- Thiền sư Đức Thành

4- Thiền sư Huệ Tỉnh

5- Sa-di Cao

6- Thiền sư Minh Triết

7- Thiền sư Quang Phục

8- Thiền sư Quỳ

9- Thiền sư Lạc Hà

10- Thứ sử Lý Cao.

II- NỐI PHÁP ĐƠN HÀ THIÊN NHIÊN

Có bảy vị

1- Thiền sư Vô Học

2- Thiền sư Nghĩa An

3- Thiền sư Tánh Không

4- Hòa thượng Bổn Đồng

5- Hòa thượng Mễ Thương

6- Thiền sư Đại Ẩn

7- Thiền sư Huệ Cần.

II- NỐI PHÁP ĐẠI ĐIÊN BẢO THÔNG

Có hai vị

1- Thiền sư Nghĩa Trung

2- Hòa thượng Thự Sơn.

✵✵✵

THIỀN SƯ VÂN NHAM ĐÀM THẠNH

(782 - 841)

Thiền sư Đàm Thạnh là khai tổ tông Tào Động. Nối pháp ngài là Động Sơn Lương Giới, nối pháp Động Sơn là ngài Tào Sơn, lập ra tông Tào Động. Cho nên thiền sư Đàm Thạnh được xem là vị tổ quan trọng trong nhà thiền.

Sư họ Vương, quê ở Kiến Xương, Chung Lăng. Lúc nhỏ, Sư xuất gia tại Thạch Môn. Ban đầu Sư đến tham học với Bá Trượng Hoài Hải ngót hai mươi năm mà chưa ngộ huyền chỉ. Bá Trượng quy tịch, Sư đến tham học với Dược Sơn Duy Nghiễm.

Dược Sơn hỏi:

- Ở đâu đến?

Sư thưa:

- Ở Bá Trượng đến.

- Bá Trượng có ngôn cú gì để chỉ dạy đồ chúng?

- Thường ngày hay nói “Ta có một câu đầy đủ trăm vị”.

- Mặn là vị mặn, lạt là vị lạt, không mặn không lạt là vị thường, thế nào một câu đầy đủ trăm vị?

Sư không đáp được.

Dược Sơn hỏi một câu làm ngài không thấu nổi. Các thiền sư thường hỏi ở chỗ kia nghe cái gì, thấy cái gì thì lặp lại. Nhưng thật ra là để kiểm nghiệm hành giả.

Hôm khác Dược Sơn hỏi:

- Bá Trượng nói pháp gì?

Sư thưa:

- Có khi Thầy thượng đường đại chúng ngồi yên, cầm gậy đồng thời đuổi tan hết, lại gọi: “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, Thầy bảo: “Ấy là gì?”

Dược Sơn bảo:

- Sao không sớm nói thế đó? Hôm nay nhân ngươi thuật lại, ta được thấy Hải huynh.

Ngay câu nói ấy Sư tỉnh ngộ, lễ bái.

Ngài tỉnh cái gì? Ai thấy được chỗ ngài tỉnh? Thấy được chỗ này thì bí mật càng thêm bí mật, không dám mở miệng.

Dược Sơn hỏi:

- Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?

Sư thưa:

- Con từng đến Quảng Nam.

- Ta nghe nói ngoài cửa thành Đông ở Quảng Châu có một tảng đá bị Châu chủ dời đi chăng?

- Chẳng những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.

- Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?

- Phải.

- Múa được mấy suất?

- Múa được sáu suất.

- Ta cũng múa được.

- Hòa thượng múa được mấy suất?

- Ta múa được một suất.

- Một tức sáu, sáu tức một.

Dược Sơn hỏi:

- Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?

Sư thưa:

- Con từng đến Quảng Nam.

- Ta nghe nói ngoài cửa thành Đông ở Quảng Châu có một tảng đá bị Châu chủ dời đi chăng?

- Chẳng những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.

Tảng đá của thành Đông ở Quảng Châu, hay tảng đá của ngài Vân Nham. Nghe nói tảng đá đó thì ngài biết liền. Người xưa không nói thẳng mà nói bóng nói gió. Chuyện như trên trời dưới đất nhưng để chỉ dạy người tu hành.

- Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?

- Phải.

- Múa được mấy suất?

- Múa được sáu suất.

- Ta cũng múa được.

- Hòa thượng múa được mấy suất?

- Ta múa được một suất.

- Một tức sáu, sáu tức một.

Chúng ta làm sư tử múa được chăng? Suất một, suất hai là suất gì? Được mấy suất chân thật? Ở đây dùng hình ảnh sư tử để nói lên chỗ hoạt dụng tự tại ngay nơi sáu căn của người đã làm chủ được rồi. Sống tự tại thì ngay nơi sáu căn mà vào, nên nói một tức sáu, sáu tức một.

Chúng ta đọc kinh Lăng-nghiêm sẽ thấy lục hòa hợp. Người xưa không nói đạo lý, nhưng không rời kinh điển. Chúng ta bây giờ đạo lý tràn trề mà không hợp kinh điển.

Sư đến Quy Sơn Linh Hựu. Quy Sơn hỏi:

- Nghe Trưởng lão ở Dược Sơn làm sư tử múa phải chăng?

- Phải.

- Thường múa hay có khi nghỉ?

- Cần múa thì múa, cần nghỉ thì nghỉ.

- Khi nghỉ sư tử ở chỗ nào?

- Nghỉ, nghỉ.

Cần múa thì múa, cần nghỉ thì nghỉ. Như vậy là tự tại.

Hỏi khi nghỉ sư tử ở chỗ nào? Sư tử đâu có chỗ nơi, nếu nói ở trong hang hay là nói ở chỗ nào đều là bệnh, cho nên đáp: Nghỉ, nghỉ. Người xưa đã thông được chỗ đó, nên những câu nói đùa thật đạo vị.

Sư nấu trà. Đạo Ngô hỏi:

- Nấu trà cho ai?

Sư đáp:

- Có một người cần.

- Sao không dạy y tự nấu?

- Nay có tôi ở đây.

Như vậy để thấy rõ rằng, ông chủ lúc nào cũng có mặt, cần thì nấu. Lối nói chơi tràn đầy đạo lý.

Thạch Sương Khánh Chư đến. Sư hỏi:

- Ở đâu đến?

Thạch Sương thưa:

- Quy Sơn đến.

- Ở trong ấy bao lâu?

- Vừa trải một Đông một Hạ.

- Như thế tức là ở ẩn?

- Tuy ở trong đó mà chẳng biết.

- Người khác cũng chẳng hiểu chẳng biết.

Thạch Sương không đáp được.

Vừa trải một đông một hạ là còn mắc kẹt thời gian. Ngài đẩy tới: Như thế tức là ở ẩn? Thạch Sương liền đảo lại: Tuy ở trong đó mà chẳng biết.

- Người khác cũng chẳng hiểu chẳng biết.

Thạch Sương không đáp được.

Lời nói bậc tác gia nhắm vào bệnh của người để nhổ đinh tháo chốt cho hết điên đảo trần cấu.

Sau, Sư trụ trì núi Vân Nham huyện Du, Đàm Châu. Một hôm Sư bảo chúng:

- Có đứa trẻ nhà kia, hỏi đến không có gì nói chẳng được.

Động Sơn Lương Giới hỏi:

- Trong nhà ấy có bao nhiêu kinh sách?

- Một chữ cũng không.

- Sao biết được nhiều thế?

- Ngày đêm chưa từng ngủ.

- Hỏi một việc lại được chăng?

- Nói được lại chẳng nói.

Hỏi đến không có gì nói chẳng được. Đứa trẻ thông minh quá!

Động Sơn Lương Giới hỏi:

- Trong nhà ấy có bao nhiêu kinh sách?

- Một chữ cũng không.

- Sao biết được nhiều thế?

Một chữ cũng không, sao biết nhiều vậy?

- Ngày đêm chưa từng ngủ.

Bởi vì ngày đêm chưa từng ngủ nên hỏi gì, nói gì cũng được hết.

- Hỏi một việc lại được chăng?

- Nói được lại chẳng nói.

Tới đó nói được mà không nói, đứa trẻ đó là con nhà ai mà khôn quá vậy? Chúng ta có được đứa trẻ đó không? Nếu có, hãy ráng nuôi nó.

Sư hỏi vị tăng:

- Ở đâu đến?

Tăng thưa:

- Thêm hương rồi đến.

- Thấy Phật chăng?

- Thấy.

- Thấy ở đâu?

- Thấy ở hạ giới.

- Phật xưa! Phật xưa!

Sư hỏi vị tăng: Ở đâu đến?

Tăng thưa: Thêm hương rồi đến.

Thêm hương tức là cúng dường. Cúng dường ở đây giống như ngài Hoài Hải gặp Mã Tổ hỏi “Ngay bây giờ nên làm gì?” Ngài nói “Nên cúng dường”.

- Thấy Phật chăng?

- Thấy.

- Thấy ở đâu?

- Thấy ở hạ giới.

- Phật xưa! Phật xưa!

Nếu thấy Phật ở hạ giới là Phật xưa, không phải Phật bây giờ. Cho nên nói như vậy liền bị ngài quở. Chúng ta công phu gần tới đó, có hơi hé mắt một chút thì câu nói của các ngài, chúng ta cũng hiểu được. Nếu không hé mắt thì mấy câu này coi như đùa chơi.

Đạo Ngô hỏi:

- Đại Bi ngàn tay mắt, mắt nào là mắt chánh?

Sư bảo:

- Như người ban đêm với tay lại sau mò chiếc gối.

- Tôi hội rồi.

- Hội thế nào?

- Khắp thân là tay mắt.

- Nói tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần.

- Sư huynh thế nào?

- Toàn thân là tay mắt.

Đạo Ngô hỏi:

- Đại Bi ngàn tay mắt, mắt nào là mắt chánh?

Sư bảo:

- Như người ban đêm với tay lại sau mò chiếc gối.

Đại Bi là đức Quán Thế Âm Đại Bi Thiên Thủ Thiên Nhãn ngàn tay ngàn mắt. Lại hỏi mắt nào là mắt chánh? Ngài đáp: Như người ban đêm với tay lại sau mò cái gối. Lúc đó, biết cái gối chỗ nào, thấy hay không thấy? Tay không có mắt, sao vẫn lấy được?

- Tôi hội rồi.

- Hội thế nào?

- Khắp thân là tay mắt.

Nói hay vô cùng! Nhưng người xưa ít chấp nhận ngôn ngữ nói thật, nên ngài nói tiếp:

- Nói tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần.

- Sư huynh thế nào?

- Toàn thân là tay mắt.

Đây là nghệ thuật của các vị thiền sư. Nói tới chỗ sống này, các ngài khéo lạ đời. Như vậy mới thấy cái hay của nhà thiền.

Sư ngồi bện giày cỏ, Động Sơn Lương Giới đến trước thưa:

- Xin Thầy tròng mắt được chăng?

Sư bảo:

- Của ngươi cho ai rồi?

- Lương Giới không.

- Giả sử có, ngươi nhằm để chỗ nào?

Lương Giới không đáp được.

Sư bảo:

- Xin tròng mắt là mắt chăng?

- Chẳng phải mắt.

Sư nạt đuổi ra.

Sư ngồi bện giày cỏ, Động Sơn Lương Giới đến trước thưa:

- Xin Thầy tròng mắt được chăng?

Học trò dám xin tròng mắt của thầy.

Sư bảo:

- Của ngươi cho ai rồi?

- Lương Giới không.

Tròng mắt của mình là cái ai cũng có, cho nên đệ tử hỏi xin, ngài hỏi ngược lại: Cái đó của ngươi cho ai rồi? Động Sơn đáp: Lương Giới không. Là không cho ai hết, hay không có để cho. Ngài hỏi tiếp:

- Giả sử có, ngươi nhằm để chỗ nào?

Lương Giới không đáp được.

Sư bảo:

- Xin tròng mắt là mắt chăng?

- Chẳng phải mắt.

Sư nạt đuổi ra.

Xin tròng mắt đó là nói đến con mắt thật. Đáp: Chẳng phải mắt, là chưa lãnh hội nổi ý của thầy.

Tăng hỏi:

- Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?

Sư bảo:

- Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?

Tăng không đáp được. Sư hỏi:

- Hội chăng?

- Chẳng hội.

- Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái bên phải.

Tăng hỏi: Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?

Sư bảo: Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?

Tăng không đáp được.

Đúng là con cháu Lục Tổ. Người ta hỏi ma giới thì lấy Phật giới đáp.

Sư hỏi: Hội chăng?

- Chẳng hội.

- Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái bên phải.

Nếu thấy hội và không hội, là bên trái bên phải, chưa phải chỗ cứu cánh.

Đời Đường niên hiệu Hội Xương năm đầu (841), tháng mười ngày hai mươi sáu, Sư có chút ít bệnh, tắm gội xong, kêu Chủ sự bảo:

- Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng tọa đi.

Đến tối đêm hai mươi bảy, Sư quy tịch, thọ 60 tuổi. Trà-tỳ được xá-lợi rất nhiều.

Niên hiệu Hội Xương (841-846) là những năm Phật giáo ở Trung Hoa gặp pháp nạn, còn gọi là pháp nạn Hội Xương.

✵✵✵

THIỀN SƯ ĐẠO NGÔ VIÊN TRÍ

(769 - 835)

Sư họ Trương, quê ở Hải Hôn, Dự Chương. Lúc nhỏ, Sư theo hòa thượng Bàn xuất gia và thọ giới. Sau, Sư đến pháp hội Dược Sơn thầm được tâm ấn.

Một hôm Dược Sơn hỏi Sư:

- Ngươi đi đâu về?

Sư thưa:

- Đi dạo núi về.

Dược Sơn bảo:

- Chẳng rời thất này, nói mau! Nói mau!

Sư thưa:

- Trên núi quạ trắng đầu tợ tuyết,

Đáy khe cá lội bận chẳng ngừng.

(Sơn thượng ô nhi đầu tự tuyết,

Giản để du ngư mang bất triệt.)

***

Sư cùng Đàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo:

- Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu-đà (chỉ Sư) hiểu thế nào?

Sư liền đi ra.

Đàm Thạnh hỏi Dược Sơn:

- Sư huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa thượng?

Dược Sơn bảo:

- Hôm nay ta đau lưng, y đã hội, ngươi hỏi lấy y.

Đàm Thạnh đến hỏi Sư:

- Vừa rồi vì sao sư huynh không đáp lời Hòa thượng?

Sư bảo:

- Huynh đến hỏi Hòa thượng đi.

Sư cùng Đàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo:

- Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu-đà (chỉ Sư) hiểu thế nào?

Sư liền đi ra. Đàm Thạnh hỏi Dược Sơn:

- Sư huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa thượng?

Đáp chưa? Đáp rồi. Ngài Đàm Thạnh lúc này cũng còn nghèo “chỗ sống” nên mới hỏi sao không đáp lời Hòa thượng?

Dược Sơn bảo:

- Hôm nay ta đau lưng, y đã hội, ngươi hỏi lấy y. Đàm Thạnh đến hỏi Sư:

- Vừa rồi vì sao sư huynh không đáp lời Hòa thượng? Sư bảo:

- Huynh đến hỏi Hòa thượng đi.

Chuyện thầy trò đã xong nhưng người bên ngoài thì không hiểu. Bởi vì chưa sống được chỗ đó.

Quy Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Đàm Thạnh:

- Bồ-đề lấy gì làm tòa?

Đàm Thạnh đáp:

- Lấy vô vi làm tòa.

Đàm Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy. Linh Hựu đáp:

- Lấy các pháp không làm tòa.

Linh Hựu lại đem câu ấy hỏi Sư. Sư đáp:

- Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Nói mau!

Quy Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Đàm Thạnh:

- Bồ-đề lấy gì làm tòa?

Đàm Thạnh đáp:

- Lấy vô vi làm tòa.

Đó là ngôn ngữ trong kinh, các ngài trích ra để dạy người.

Đàm Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy. Linh Hựu đáp:

- Lấy các pháp không làm tòa.

Linh Hựu lại đem câu ấy hỏi Sư. Sư đáp:

- Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Nói mau!

Người dùng từ Bồ-đề, người dùng vô vi, người dùng pháp không. Ngài không hài lòng, chỉ nói: Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Ngài đã vượt lên, không mắc kẹt ngôn ngữ văn tự nữa.

Linh Hựu hỏi Sư:

- Ở đâu đến?

Sư đáp:

- Khán bệnh đến.

- Có bao nhiêu người bệnh?

- Có người bệnh, có người chẳng bệnh.

- Có người không bệnh đâu không phải Trí đầu-đà?

- Bệnh cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc đó. Nói mau! Nói mau!

Linh Hựu hỏi Sư:

- Ở đâu đến?

Sư đáp:

- Khán bệnh đến.

- Có bao nhiêu người bệnh?

- Có người bệnh, có người chẳng bệnh.

Nếu hỏi mình, mình sẽ trả lời: “Trong chùa này có năm, bảy người bệnh...” Nhưng các thiền sư hỏi là vượt lên tình thức, đi qua ý khác rồi. Cho nên đáp có người bệnh, có người chẳng bệnh.

- Có người không bệnh đâu không phải Trí đầu-đà?

- Bệnh cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc đó. Nói mau! Nói mau!

Ở trên ngài đã thoát được hai bên, nhưng khi nói đến người không bệnh thì ngài liền thoát ra một lần nữa: Bệnh cùng không bệnh không can hệ việc đó. Nói mau! Nói mau! Chúng ta đã nắm được việc đó là việc của ai chưa?

Thấy Đàm Thạnh bệnh, Sư hỏi:

- Lìa cái vỏ lủng này đến chỗ nào thấy nhau?

- Đến chỗ chẳng sanh chẳng diệt thấy nhau.

- Sao không nói chỗ phi chẳng sanh chẳng diệt, cũng chẳng cầu thấy nhau.

Thấy Đàm Thạnh bệnh, Sư hỏi:

- Lìa cái vỏ lủng này đến chỗ nào thấy nhau?

Cái vỏ lủng là thân tứ đại, mỗi ngày chúng ta dồn rác vào đó. Sáng dồn mớ rác vô, chiều dồn mớ rác vô, vậy mà cho là cuộc sống hoàn hảo. Dồn vào nó lại rớt ra, chứa không được, dồn hoài không đầy, cho nên các ngài dùng từ vỏ lủng.

- Đến chỗ chẳng sanh chẳng diệt thấy nhau.

Quá hay! Nghĩa là chúng ta sẽ gặp nhau ở chỗ không sanh không diệt.

- Sao không nói chỗ phi chẳng sanh chẳng diệt, cũng chẳng cầu thấy nhau.

Thoát khỏi sanh diệt rồi thì không cần thấy nhau nữa, vì còn cầu thấy là còn bệnh. Chỗ sống của ngài thể hiện trên mỗi câu đáp, vượt ngoài tình thức đối đãi thông thường.

Đàm Thạnh vá lại đôi giày cỏ, Sư thấy hỏi:

- Làm gì?

- Đem bại hoại vá bại hoại.

- Sao không nói tức bại hoại phi bại hoại.

Đàm Thạnh vá lại đôi giày cỏ, Sư thấy hỏi:

- Làm gì?

- Đem bại hoại vá bại hoại.

Đạo lý như vậy mà ngài không chịu:

- Sao không nói tức bại hoại phi bại hoại.

Chính ngay cái bại hoại đó có cái không bại hoại. Ở trên một câu, ở dưới một câu, ngài sửa từng câu một, nhằm phá chấp ngã của người sau.

Sau, Sư đến núi Đạo Ngô an trụ ở đây, tăng chúng đến tham vấn rất đông.

Có vị tăng hỏi:

- Thế nào là chỗ đắc lực hiện giờ?

Sư đáp:

- Ngàn muôn người gọi mà chẳng xoay đầu, mới có ít phần tương ưng.

- Chợt gặp lửa cháy thì sao?

- Đốt cả quả đất.

Sư hỏi lại vị tăng ấy:

- Dẹp than và lửa, cái gì là lửa?

- Chẳng phải lửa.

Có vị tăng hỏi:

- Thế nào là chỗ đắc lực hiện giờ?

Sư đáp:

- Ngàn muôn người gọi mà chẳng xoay đầu, mới có ít phần tương ưng.

Người tu đắc lực rồi thì bao nhiêu cảnh bên ngoài hiện lên mà tâm không động, đó mới là tương ưng. Nếu tâm hơi lay động là biết người đó chưa sống được.

- Chợt gặp lửa cháy thì sao?

- Đốt cả quả đất.

Sư hỏi lại vị tăng ấy:

- Dẹp than và lửa, cái gì là lửa?

- Chẳng phải lửa.

Như vậy là vị tăng này đã khéo sống.

Thạch Sương Khánh Chư hỏi:

- Trăm năm sau có người hỏi việc cùng tột, làm sao nói với họ?

Sư gọi:

- Sa-di!

Sa-di đáp:

- Dạ!

Sư bảo:

- Thêm nước trong tịnh bình.

Giây lâu, Sư hỏi lại Khánh Chư:

- Vừa rồi hỏi gì?

Khánh Chư lặp lại câu hỏi trước.

Sư đứng dậy đi.

Thạch Sương Khánh Chư hỏi:

- Trăm năm sau có người hỏi việc cùng tột, làm sao nói với họ?

Sư gọi: - Sa-di!

Sa-di đáp: - Dạ!

Sư bảo: - Thêm nước trong tịnh bình.

Ngài đã đáp câu hỏi, vậy mà ngài Khánh Chư lúc này còn trầm tư chờ nghe câu đáp.

Giây lâu, Sư hỏi lại Khánh Chư:

- Vừa rồi hỏi gì?

Khánh Chư lặp lại câu hỏi trước.

Sư đứng dậy đi.

Là xong. Ta đã nói rồi, ông còn ngồi đó chờ cái gì? - Sa di! - Dạ. - Thêm nước trong tịnh bình. Pháp tột cùng ngàn xưa muốn chỉ cho người là như vậy. Pháp đó không có hình tướng nên không thể phơi bày ra được. Chỉ trong cái thầm lặng, thầy kêu trò dạ, rồi thêm nước trong tịnh bình là đủ rồi.

Hôm khác Khánh Chư hỏi:

- Một mảnh xương của Hòa thượng gõ in tiếng đồng, đi về chỗ nào?

Sư gọi:

- Thị giả!

Thị giả đáp:

- Dạ!

Sư bảo:

- Năm lừa đi.

Hỏi đến mảnh xương tức là hỏi đến cái cốt tủy, chỗ sống chân thật của Hòa thượng sau này đi về chỗ nào? Ngài kêu thị giả: Thị giả! Thị giả: Dạ! Ngài bảo: Năm lừa đi. Đi về chỗ đó.

Sư mắc bệnh, Tăng chúng đến thăm hỏi.

Sư bảo:

- Có nhận chẳng đền, các ngươi biết nó chăng?

Chúng đều buồn thảm.

Sư bảo:

- Ta sẽ đi xa bên tây, lý không rời bên đông.

Đến ngày mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hòa năm thứ chín (835) đời Đường, Sư quy tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc ban là Tu Nhất đại sư, tháp hiệu Bảo Tướng.

Sư mắc bệnh, Tăng chúng đến thăm hỏi.

Sư bảo:

- Có nhận chẳng đền, các ngươi biết nó chăng?

Chúng đều buồn thảm.

Tại sao nghe câu đó mà buồn thảm? Có nhận tức là có thọ, có thọ mà chẳng đền đáp. Lời ngài trăn trối nên chúng buồn thảm.

Sư bảo:

- Ta sẽ đi xa bên tây, lý không rời bên đông.

Thể xác tuy không có mặt trên dương thế nhưng tâm thể ấy không rời dương thế.

Đến ngày mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hòa năm thứ chín (835) đời Đường, Sư quy tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc ban là Tu Nhất đại sư, tháp hiệu Bảo Tướng.

✵✵✵

THIỀN SƯ ĐỨC THÀNH

(HOA ĐÌNH THUYỀN TỬ)

Sư người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng. Nơi Dược Sơn, Sư được tâm ấn, cùng Đàm Thạnh, Viên Trí là bạn đồng học thâm giao.

Khi rời Dược Sơn, Sư bảo hai bạn:

- Hai huynh mỗi người sẽ ở một nơi để dựng lập tông chỉ Dược Sơn, riêng tôi tánh tình quê mùa, chỉ ưa sơn thủy làm vui thú, không có tài năng. Ngày sau, hai huynh biết tôi dừng ở đâu, có gặp vị Tọa chủ nào lanh lợi mách cho một người đến, nếu kham chỉ bảo tôi sẽ đem chỗ bình sinh thọ nhận trao lại, gọi là đền đáp ơn của Tiên sư.

Chia tay nhau, Sư đi đến Tú Châu nơi sông Ngô, bến Hoa Đình, sắm một chiếc thuyền nhỏ tiếp chúng bốn phương qua lại, tùy duyên độ nhật. Người thời ấy không biết tung tích Sư, bèn gọi Sư là Thuyền Tử hòa thượng.

Sư người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng. Nơi Dược Sơn, Sư được tâm ấn, cùng Đàm Thạnh, Viên Trí là bạn đồng học thâm giao.

Thiền sư Hoa Đình Thuyền Tử rất đặc biệt. Ngài không ở chùa, không khai hội nói pháp mà lái đò ngang dọc dạo chơi. Tuy vậy, ngài là người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng, sống trong chúng ai cũng kính nể.

Khi rời Dược Sơn, Sư bảo hai bạn:

- Hai huynh mỗi người sẽ ở một nơi để dựng lập tông chỉ Dược Sơn, riêng tôi tánh tình quê mùa, chỉ ưa sơn thủy làm vui thú, không có tài năng. Ngày sau, hai huynh biết tôi dừng ở đâu, có gặp vị Tọa chủ nào lanh lợi mách cho một người đến, nếu kham chỉ bảo tôi sẽ đem chỗ bình sinh thọ nhận trao lại, gọi là đền đáp ơn của Tiên sư.

Người xưa tùy duyên giáo hóa, không ham đệ tử nhiều, dạy một người để kế thừa là đủ đền ơn thầy, không tính toán gì hết.

Chia tay nhau, Sư đi đến Tú Châu nơi sông Ngô, bến Hoa Đình, sắm một chiếc thuyền nhỏ tiếp chúng bốn phương qua lại, tùy duyên độ nhật. Người thời ấy không biết tung tích Sư, bèn gọi Sư là Thuyền Tử hòa thượng.

Hoa Đình ở Tú Châu. Thuyền Tử tức là người sống ở dưới thuyền. Tới đó thấy sơn thủy hợp, ngài dừng lại đưa đò để lấy tiền sinh sống, không nói chuyện tu hành, cũng không nói chuyện giáo hóa.

Một hôm, thuyền đậu bên bờ, Sư ngồi rảnh rang, có vị quan hỏi:

- Thế nào là việc hằng ngày của Hòa thượng? Sư dựng đứng cây chèo bảo:

- Hội chăng?

Vị quan thưa:

- Không hội.

Sư bảo:

- Chèo tạt sóng xanh, cá vàng ít gặp. (Trạo bát thanh ba, kim lân hãn ngộ.)

Quan hỏi việc hằng ngày, Sư đưa cây chèo lên, việc hằng ngày của tôi đó. Quan không hiểu. Vì chờ người ngộ được cũng khó như gặp được cá vảy vàng ánh kim quý hiếm.

Sau này, thiền sư Viên Trí có dịp đi đến Kinh Khẩu, gặp lúc thiền sư Thiện Hội thượng đường. Có vị tăng hỏi:

- Thế nào là pháp thân?

Thiện Hội đáp:

- Pháp thân không tướng.

Tăng hỏi:

- Thế nào là pháp nhãn?

Thiện Hội đáp:

- Pháp nhãn không vết.

Viên Trí bất chợt phát cười.

Thiện Hội xuống tòa, hỏi Viên Trí:

- Tôi vừa đáp câu hỏi của Tăng, chắc có chỗ không đúng khiến Thượng tọa phát cười, xin Thượng tọa từ bi chỉ dạy.

Viên Trí bảo:

- Hòa thượng nhất đẳng là đúng, về xuất thế thì chưa có thầy.

Thiện Hội thưa:

- Chỗ nào tôi không đúng, mong Thượng tọa vì nói để phá.

- Tôi hoàn toàn không nói, mời Hòa thượng đi đến chỗ Hoa Đình Thuyền Tử.

- Người ấy như thế nào?

- Người ấy trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hòa thượng muốn đi xin đổi y phục mà đến.

Thiện Hội bèn giải tán chúng, sửa sang hành lý, đi thẳng đến Hoa Đình Thuyền Tử.

Tăng hỏi: Thế nào là pháp thân?

Thiện Hội đáp: Pháp thân không tướng.

Tăng hỏi: Thế nào là pháp nhãn?

Thiện Hội đáp: Pháp nhãn không vết.

Viên Trí bất chợt phát cười.

Pháp thân không tướng, pháp nhãn không tỳ không vết. Đáp rất đúng. Hỏi đâu đáp đó mà cười, ông già kỳ cục!

Ngài Thiện Hội lanh lợi vô cùng, hiểu Phật pháp rất sâu, nhưng đáp như vậy bị cười. Nếu có ai lại hỏi chúng ta: “Thế nào là Bồ-đề?” Đáp: “Bồ-đề là giác.” Lúc đó nếu có một vị thiền sư ở bên cạnh, chắc ngài cũng bật cười.

Thiện Hội xuống tòa, hỏi Viên Trí:

- Tôi vừa đáp câu hỏi của Tăng, chắc có chỗ không đúng khiến Thượng tọa phát cười, xin Thượng tọa từ bi chỉ dạy.

Lẽ thường, Hòa thượng dạy chúng mà thấy người khác cười chắc chắn nổi giận rồi đuổi người ta ra khỏi nhà liền. Nhưng ngài Thiện Hội là người khiêm tốn, nên mới thỉnh ngài Viên Trí từ bi chỉ dạy. Ngài Thiện Hội lúc này là Hòa thượng, Viên Trí là Thượng tọa, nhưng ngài Thiện Hội thật tâm cầu pháp nên hành xử rất hay.

Viên Trí bảo:

- Hòa thượng nhất đẳng là đúng, về xuất thế thì chưa có thầy.

Nhất đẳng tức là bậc học giỏi, thấu hiểu kinh điển nhưng về xuất thế thì chưa có thầy. Thiền sư thấy được chỗ đó rồi thì nghe người ta nói liền biết đó là hạng nào, biết rõ ràng không nghi.

Thiện Hội thưa:

- Chỗ nào tôi không đúng, mong Thượng tọa vì nói để phá.

- Tôi hoàn toàn không nói, mời Hòa thượng đi đến chỗ Hoa Đình Thuyền Tử.

Ngày nay làm thầy thích thâu đệ tử cho đông, không chịu giới thiệu đến người khác. Người xưa thấy ai có khả năng, hợp với thầy nào liền chỉ đường.

- Người ấy như thế nào?

- Người ấy trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hòa thượng muốn đi xin đổi y phục mà đến.

Ngài Viên Trí khuyên đừng ăn mặc trịnh trọng kiểu Hòa thượng tới, ông ta sẽ không thèm tiếp. Phải ăn mặc ra vẻ tầm thường, người ấy mới tiếp chuyện. Bởi vì Hoa Đình Thuyền Tử không thích danh lợi, tiết tháo, chỉ thích núi rừng sông biển.

Trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hiểu theo nghĩa cạn là ngài sống ở trong thuyền trên sông nên không có ngói, chẳng có đất cắm dùi. Hiểu sâu hơn thì đó là người hoàn toàn tự tại, không còn dính mắc cái gì. Đây là lối giới thiệu hết sức khéo léo.

Thiện Hội bèn giải tán chúng, sửa sang hành lý, đi thẳng đến Hoa Đình Thuyền Tử.

Thông thường, đang làm thầy thiên hạ, hỏi đâu nói đó mà bị người khác chê liền nổi giận. Vậy mà vị tăng còn bảo thay đổi y phục đi tìm học với thiện tri thức, đụng đến bản ngã làm sao đi? Sợ hổ thẹn là tư cách của người phàm tục.

Người xưa nếu chưa sáng mắt thì dám bỏ hết. Người thật biết đạo, dù cho địa vị mình ở bậc nào đi nữa, biết rõ mình chưa thấu đáo, có người hơn thì cũng sẵn sàng buông hết để học hỏi. Đó là tư cách của một đạo nhân đáng phục đáng nể.

Chúng ta bây giờ nếu gặp trường hợp như vậy thì sợ giải tán chúng sẽ bị mất uy tín. Điều này dẫn đến việc không giải quyết được vấn đề sanh tử. Như vậy thì dạy cũng như không dạy, không tới đâu.

Vừa thấy Thiện Hội đến, Sư liền hỏi:

- Đại đức trụ trì chùa nào?

Thiện Hội thưa:

- Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.

- Chẳng giống, giống cái gì?

- Chẳng pháp trước mắt.

- Ở đâu học được nó?

- Chẳng phải chỗ mắt tai đến.

Sư cười bảo:

- Một câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!

Thiện Hội vừa mở miệng, bị Sư đánh cho một chèo té nhào xuống nước. Thiện Hội mới leo lên thuyền, Sư lại thúc:

- Nói! Nói!

Thiện Hội vừa mở miệng, lại bị đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ, bèn gật đầu ba cái.

Sư bảo:

- Sợi nhợ cần câu mặc ngươi đùa, chẳng chạm sóng xanh ý tự khác. (Can đầu ty tuyến tùng quân lộng, bất phạm thanh ba ý tự thù.)

Thiện Hội bèn hỏi:

- Thả nhợ buông câu ý Thầy thế nào?

- Sợi tơ nổi trên mặt nước biếc, định ý có không.

- Lời kèm huyền mà không đường, đầu lưỡi nói mà không nói.

- Câu khắp dòng sông mới gặp cá vàng.

Thiện Hội bịt tai.

Sư bảo:

- Đúng thế! Đúng thế!

Sư phó chúc rằng:

- Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy một người nửa người tiếp tục không để đoạn dứt.

Thiện Hội liền từ giã Sư ra đi, thỉnh thoảng ngó lại.

Sư bèn gọi:

- Xà-lê!

Thiện Hội quay đầu ngó lại.

Sư liền dựng đứng cây chèo bảo:

- Ngươi sẽ bảo riêng có.

Nói xong, Sư lật úp thuyền xuống nước mà tịch.

Vừa thấy Thiện Hội đến, Sư liền hỏi:

- Đại đức trụ trì chùa nào?

Thiện Hội thưa:

- Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.

Nếu còn trụ thì không giống.

- Chẳng giống, giống cái gì?

Nếu nói chẳng giống thì còn có hai bên để so sánh.

- Chẳng pháp trước mắt.

- Ở đâu học được nó?

- Chẳng phải chỗ mắt tai đến.

Chỗ đó không phải pháp trước mắt, cũng không phải chỗ mắt tai đến được.

Sư cười bảo:

- Một câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!

Một câu hợp đầu ngữ tức là một câu nói hợp lý. Nhưng một câu hợp lý cũng là muôn kiếp cọc cột lừa, còn trói buộc trong ngôn ngữ, chưa phải chỗ cứu cánh. Thả nhợ mà lìa lưỡi câu làm sao câu được?

Thiện Hội vừa mở miệng, bị Sư đánh cho một chèo té nhào xuống nước. Thiện Hội mới leo lên thuyền, Sư lại thúc:

- Nói! Nói!

Thiện Hội vừa mở miệng, lại bị đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ, bèn gật đầu ba cái.

Chỗ đó là chỗ không cho mở miệng, nên vừa mở miệng là ăn hèo. Ngài Thiện Hội bị hai chèo đánh không thương tiếc, đánh tới nhào xuống nước. Nhưng ngay đó Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ. Nghệ thuật độ sanh của chư tổ ngày xưa thật độc đáo.

Sư bảo:

- Sợi nhợ cần câu mặc ngươi đùa, chẳng chạm sóng xanh ý tự khác.

Ngươi đùa được sợi nhợ cần câu rồi. Không chạm sóng xanh mà ý đã khác. Vậy là xong việc.

Thiện Hội bèn hỏi:

- Thả nhợ buông câu ý Thầy thế nào?

- Sợi tơ nổi trên mặt nước biếc, định ý có không.

- Lời kèm huyền mà không đường, đầu lưỡi nói mà không nói.

Thầy trò hiểu nhau rồi nên đối đáp ứng hợp thông thạo.

- Câu khắp dòng sông mới gặp cá vàng.

Thiện Hội bịt tai.

Sư bảo: - Đúng thế! Đúng thế!

Ngài khen: Ta câu mấy năm nay mới được con cá vàng. Thiện Hội nghe thấy khen liền bịt tai, không chấp nhận. Như vậy mới là biết đạo. Cách ứng xử như thế liền được thầy chấp nhận.

Sư phó chúc rằng:

- Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này.

Chỗ đó lặng lẽ trong trẻo, nhưng nếu tới đó mà hài lòng thì mắc kẹt. Dòng suối lặng, tuy trong trẻo mát mẻ nhưng vẫn cần có trăng soi. Nếu không có vầng trăng, suối lặng trở thành nước chết. Cho nên nói chỗ ẩn thân mất dấu vết, mà chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Tức là trong tịch phải có chiếu, chứ đừng kẹt ở trong đó.

Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy một người nửa người tiếp tục không để đoạn dứt.

Một người, nửa người là để chỉ cho những người nối pháp về sau. Các thiền sư hay nói được một hoặc được nửa. Một là người xuất sắc, nửa là người khá.

Thiện Hội liền từ giã Sư ra đi, thỉnh thoảng ngó lại.

Sư liền gọi: - Xà-lê!

Thiện Hội quay đầu ngó lại.

Sư liền dựng đứng cây chèo bảo:

- Ngươi sẽ bảo riêng có.

Ta có cái đó, ngươi cũng có cái đó, đâu cần phải quyến luyến ta. Ngươi còn quyến luyến ta tức là ngươi chưa sống được với cái của ngươi.

Nói xong, Sư lật úp thuyền xuống nước mà tịch.

Tự tại như vậy. Không cần gì hết. Người xưa xem chuyện sống chết như trò đùa. Bổn phận đã xong thì úp thuyền mà tịch, không cần hưởng thụ gì.

Sau này ngài Thiện Hội không trở về tỉnh mà vào núi Giáp Sơn để ẩn tu. Tình thầy trò thật chung thủy. Không cần thời gian dài, gặp nhau chừng nửa tiếng đồng hồ là xong việc.

Tu hành hoặc là ở trong núi cao hoặc ở đồng sâu. Bây giờ chúng ta cũng vậy, ở trên núi rồi thỉnh thoảng xuống đồng. Mấy chỗ đó mới hợp với người tu, may ra kiếm được một người hoặc nửa người để nối đuốc về sau. Điều này chúng ta phải ráng học, nơi thành thị khó thực hiện được.

✵✵✵

SA-DI CAO

Không biết tung tích và quê quán của Sư thế nào. Chỉ biết khi Sư mới đến tham vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:

- Ở đâu đến?

Sư thưa:

- Ở Nam Nhạc đến

- Đi lại đâu?

- Đi Giang Lăng thọ giới.

- Thọ giới mong làm gì?

- Mong khỏi sanh tử.

- Có một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử, ngươi biết chăng?

- Thế thì giới Phật dùng làm gì?

- Vẫn còn quải môi lưỡi.

Sư lễ bái lui ra.

Đạo Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:

- Vừa rồi có một Sa-di mới đến, có chút hơi hám này.

Đạo Ngô thưa:

- Chưa nên toàn tin, cần phải khám phá mới được.

Đến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi:

- Sa-di mới đến đâu?

Sư ra khỏi chúng đứng im.

Dược Sơn hỏi:

- Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?

Sư thưa:

- Nước con an ổn.

- Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?

- Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.

- Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?

- Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.

Dược Sơn ngó Đạo Ngô, Vân Nham, nói:

- Chẳng tin ta nói.

Không biết tung tích và quê quán của Sư thế nào. Chỉ biết khi Sư mới đến tham vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:

- Ở đâu đến?

Sư thưa:

- Ở Nam Nhạc đến

- Đi lại đâu?

- Đi Giang Lăng thọ giới.

- Thọ giới mong làm gì?

- Mong khỏi sanh tử.

- Có một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử, ngươi biết chăng?

- Thế thì giới Phật dùng làm gì?

- Vẫn còn quải môi lưỡi.

Sư lễ bái lui ra.

Còn quải môi lưỡi là thuộc về ngôn ngữ, chứ chưa thấy được cái đó. Ngay câu này, ngài lễ bái lui ra. Ngài Dược Sơn biết Sa-di đã được chỗ đó.

Đạo Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:

- Vừa rồi có một Sa-di mới đến, có chút hơi hám này.

Đạo Ngô thưa:

- Chưa nên toàn tin, cần phải khám phá mới được.

Khám phá kỹ rồi hãy tin. Một câu nói, một hai hành động giống như đúng mà tin thì e rằng chưa đúng. Cho nên đây là cuộc khám phá thứ hai.

Đến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi:

- Sa-di mới đến đâu?

Sư ra khỏi chúng đứng im. Dược Sơn hỏi:

- Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?

Sư thưa:

- Nước con an ổn.

Thầy hỏi khéo và trò đáp cũng khéo.

- Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?

Nếu xem kinh hay thưa hỏi được đó là việc bên ngoài.

- Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.

- Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?

- Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.

Người không xem kinh, không thưa hỏi không phải họ không có mà do họ không chịu thừa nhận.

Dược Sơn ngó Đạo Ngô, Vân Nham, nói:

- Chẳng tin ta nói.

Qua cuộc khám nghiệm, ngài Dược Sơn đã nói đúng. Vị Sa-di đó đã có chỗ sống chân thật, không còn nghi ngờ nữa. Người xưa nghe một câu nói, nhận được rồi thì lòng tin đầy đủ không thiếu, nói gì cũng đúng.

Một hôm Sư từ giã Dược Sơn. Dược Sơn hỏi:

- Đi đâu?

Sư thưa:

- Con ở trong chúng có ngại, nên đến bên đường cất một am tranh để tiếp đãi trà nước cho khách qua lại.

- Sanh tử là việc lớn, sao ngươi không thọ giới đi?

- Biết thì những việc ấy liền thôi, lại bảo thọ giới làm gì?

- Như thế chẳng được lìa xa ta, có khi ta cần gặp ngươi.

Một hôm Sư từ giã Dược Sơn. Dược Sơn hỏi:

- Đi đâu?

Sư thưa:

- Con ở trong chúng có ngại, nên đến bên đường cất một am tranh để tiếp đãi trà nước cho khách qua lại.

Ngài muốn sống tự do, nên xin làm người khách bán trà bên đường. Trong thiền sử, phần nhiều mấy người bán trà ngoài đường, nhất là những quán gần các thiền đường thường gặp bậc pháp khí rất đặc biệt.

- Sanh tử là việc lớn, sao ngươi không thọ giới đi?

- Biết thì những việc ấy liền thôi, lại bảo thọ giới làm gì?

- Như thế chẳng được lìa xa ta, có khi ta cần gặp ngươi.

Hồi trước ngài muốn đi thọ giới để giải thoát sanh tử, bây giờ biết được chỗ đó rồi nên không cần thọ nữa.

Sư dầm mưa đến thăm Dược Sơn.

Dược Sơn bảo:

- Ngươi mới đến?

- Dạ.

Dược Sơn nói:

- Ướt cả rồi.

- Không cần đánh trống thổi sáo.

Vân Nham nói:

- Da cũng không, đánh cái trống nào?

Đạo Ngô nói:

- Trống cũng không, đánh cái da nào?

Dược Sơn bảo:

- Hôm nay rất hay, một trường hòa nhạc.

Sư dầm mưa đến thăm Dược Sơn. Dược Sơn bảo:

- Ngươi mới đến?

- Dạ.

Dược Sơn nói: - Ướt cả rồi.

- Không cần đánh trống thổi sáo.

Chỗ đó không liên quan gì đến khô ướt.

Vân Nham nói:

- Da cũng không, đánh cái trống nào?

Đạo Ngô nói:

- Trống cũng không, đánh cái da nào?

Dược Sơn bảo:

- Hôm nay rất hay, một trường hòa nhạc.

Chỗ này thầy trò đã hợp nhau.

Đến giờ thọ trai, Dược Sơn tự đánh trống, Sư ôm bát múa đi vào trai đường.

Dược Sơn bỏ dùi trống xuống hỏi:

- Hòa thứ mấy?

- Hòa thứ hai.

- Thế nào là hòa thứ nhất?

Sư đến thùng cơm lãnh một phần cơm rồi đi ra.

Đến giờ thọ trai, Dược Sơn tự đánh trống, Sư ôm bát múa đi vào trai đường.

Thông thường ở chúng đông, tới giờ thọ trai phải đánh ba hồi trống để chúng ở các nơi về thọ trai. Nghe đánh trống, ngài ôm bát vừa đi vừa múa.

Dược Sơn bỏ dùi trống xuống hỏi:

- Hòa thứ mấy?

- Hòa thứ hai.

- Thế nào là hòa thứ nhất?

Sư đến thùng cơm lãnh một phần cơm rồi đi ra.

Thầy đánh trống trò múa, đó là hòa. Hòa thứ nhất là im lặng lãnh phần cơm đem về, cái đó chỉ mình tự làm chứ còn không có người thứ hai.

✵✵✵

THIỀN SƯ THÚY VI VÔ HỌC

Sư đến hỏi Đơn Hà:

- Thế nào là thầy chư Phật?

Đơn Hà quở:

- Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?

Sư lùi ba bước.

Đơn Hà bảo:

- Lầm!

Sư tiến tới ba bước.

Đơn Hà bảo:

- Lầm! Lầm!

Sư giở một chân, xoay một vòng, đi ra. Đơn Hà bảo:

- Được tức được, cô phụ chư Phật khác.

Sư do đây lãnh ngộ ý chỉ, về trụ Thúy Vi tại Chung Nam sơn.

Sư đến hỏi Đơn Hà:

- Thế nào là thầy chư Phật?

Đơn Hà quở:

- Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?

Hỏi tới thầy của Phật cũng là lối lau chùi rác rến bên ngoài, không có gì quan trọng.

Sư lùi ba bước. Đơn Hà bảo:

- Lầm!

Sư tiến tới ba bước. Đơn Hà bảo:

- Lầm! Lầm!

Lùi và tiến đều là lầm.

Sư giở một chân, xoay một vòng, đi ra. Đơn Hà bảo:

- Được tức được, cô phụ chư Phật khác.

Khả dĩ được, nhưng cũng còn cô phụ chư Phật.

Sư do đây lãnh ngộ ý chỉ, về trụ Thúy Vi tại Chung Nam sơn.

Đệ tử lớn nhất của ngài sau này là Đại Đồng.

Thiền sư Đại Đồng đến hỏi Sư:

- Không biết Nhị Tổ mới thấy tổ Đạt-ma có sở đắc gì?

Sư bảo:

- Nay ngươi thấy ta lại có sở đắc gì?

Đại Đồng đốn ngộ huyền chỉ.

Ngày xưa Nhị Tổ thấy tổ Đạt-ma cũng như nay ngươi thấy ta, đâu khác. Nếu nhận được cái đó thì thấy được huyền chỉ.

Một hôm Sư đi trong pháp đường, Đại Đồng tiến đến trước lễ, thưa:

- Mật chỉ từ Ấn Độ qua, Hòa thượng dạy người thế nào?

Sư dừng bước một chút.

Đại Đồng lại thưa:

- Xin Thầy chỉ dạy.

Sư bảo:

- Lại cần gáo nước nhơ thứ hai sao?

Đại Đồng lễ tạ lui ra.

Sư bảo:

- Chớ lấp gốc.

Đại Đồng thưa:

- Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.

Một hôm, Sư đi trong pháp đường, Đại Đồng tiến đến trước lễ, thưa:

- Mật chỉ từ Ấn Độ qua, Hòa thượng dạy người thế nào?

Sư dừng bước một chút. Đại Đồng lại thưa:

- Xin Thầy chỉ dạy.

Sư bảo:

- Lại cần gáo nước nhơ thứ hai sao?

Ta đã chỉ rồi, nếu còn hỏi thêm nữa đó là gáo nước nhơ thứ hai.

Đại Đồng lễ tạ lui ra. Sư bảo:

- Chớ lấp gốc.

Đại Đồng thưa:

- Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.

Chỗ đó chỉ cần đủ nhân duyên thời tiết đến thì tự nó sanh, không lo mất gốc.

Nhân Sư cúng dường La-hán, có vị tăng hỏi:

- Đơn Hà thiêu tượng Phật gỗ, Hòa thượng vì sao cúng dường La-hán?

Sư bảo:

- Thiêu cũng chẳng thiêu đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.

Tăng lại hỏi:

- Cúng dường La-hán, La-hán có đến chăng?

Sư bảo:

- Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?

Tăng không đáp được.

Sư bảo:

- Có chút lanh lợi.

Nhân Sư cúng dường La-hán, có vị tăng hỏi:

- Đơn Hà thiêu tượng Phật gỗ, Hòa thượng vì sao cúng dường La-hán?

Thầy của ngài thiêu tượng Phật, tại sao ngài lại cúng dường La-hán?

Sư bảo:

- Thiêu cũng chẳng thiêu đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.

Thiêu tượng Phật có phải thiêu Phật tánh không?

Không! Cái đó không thiêu được. Cho nên cúng dường cứ một bề cúng dường.

Tăng lại hỏi:

- Cúng dường La-hán, La-hán có đến chăng?

Sư bảo:

- Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?

Nếu mỗi ngày ngươi có ăn cơm, nhận được cái đó thì biết La-hán đến hay không.

Tăng không đáp được. Sư bảo:

- Có chút lanh lợi.

Tuy có chút lanh lợi mà chưa xong.

✵✵✵

THIỀN SƯ TAM BÌNH NGHĨA TRUNG

Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban sơ Sư đến tham vấn Thạch Củng (Huệ Tạng). Thạch Củng chuyên môn giương cung lắp tên để giáo hóa đồ chúng. Sư vào pháp hội, Thạch Củng bảo:

- Xem mũi tên đây!

Sư bèn vạch ngực thưa:

- Đây là mũi tên giết người, mũi tên cứu người lại làm sao?

Thạch Củng gảy dây cung ba cái.

Sư liền làm lễ.

Thạch Củng bảo:

- Ba mươi năm một phen giương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.

Người thế gian giương cung bắn nai bắn hươu. Người tu đạo cũng giương cung nhưng là phương tiện nhằm mục đích hóa đạo. Bắn được nửa người thánh chứ chưa được một người, nên chưa rồi. Vì vậy khi qua chỗ ngài Đại Điên, ngài Nghĩa Trung gặp bế tắc.

Sư đến tham vấn Đại Điên thuật lại việc trên. Đại Điên bảo:

- Đã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?

Sư đáp không được.

Đại Điên bảo:

- Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.

Sư hỏi:

- Chẳng cần chỉ đông vẽ tây, thỉnh Thầy chỉ thẳng.

- Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.

- Vẫn là chỉ đông vẽ tây.

- Nếu phượng hoàng con không tìm bên kia.

Sư làm lễ.

Đại Điên bảo:

- Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước cũng khó tròn.

Sư đến tham vấn Đại Điên thuật lại việc trên. Đại Điên bảo:

- Đã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?

Sư đáp không được.

Như vậy là mới được nửa người.

Đại Điên bảo:

- Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.

Sư hỏi:

- Chẳng cần chỉ đông vẽ tây, thỉnh Thầy chỉ thẳng.

- Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.

Ngài chỉ thẳng như vậy. Đã ai thấy chưa? Ở đây ngài cũng chịu vì chưa nhận được.

- Vẫn là chỉ đông vẽ tây.

- Nếu phượng hoàng con không tìm bên kia.

Là phượng hoàng con thì ngay đó liền nhận, không tìm nơi khác.

Sư làm lễ. Đại Điên bảo:

- Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước cũng khó tròn.

Chính nhờ câu sau mà ngài thấy được ý trước. Sau này ngài thừa kế Đại Điên.

Về sau Sư đến Chương Châu ở núi Tam Bình tiếp độ hậu lai.

Sư dạy chúng:

- Thời nay người học chỉ biết giong ruổi tìm kiếm, xem như nhãn mục của chính mình, có gì tương đương? Các ngươi muốn học chăng? Chẳng cần các thứ khác, các ngươi mỗi người tự có việc bổn phận, sao chẳng nhận ngay? Tại sao tâm bực tức, miệng lẩm bẩm có lợi ích gì? Nói thẳng rằng: Nếu cần con đường tu hành và hóa môn do chư thánh dựng lập thì có ba tạng kinh điển. Nếu là việc trong tông môn, ngươi cốt không lầm dụng tâm.

Có vị tăng ra thưa:

- Lại có con đường học hay không?

Sư bảo:

- Có một con đường trơn như rêu.

- Học nhân bước nhẹ theo được chăng?

- Tâm chẳng nghĩ, ngươi tự xem.

Về sau Sư đến Chương Châu ở núi Tam Bình tiếp độ hậu lai. Sư dạy chúng:

- Thời nay người học chỉ biết giong ruổi tìm kiếm, xem như nhãn mục của chính mình, có gì tương đương? Các ngươi muốn học chăng? Chẳng cần các thứ khác, các ngươi mỗi người tự có việc bổn phận, sao chẳng nhận ngay?

Chúng ta cứ chạy tìm hoài những thứ bên ngoài, không có gì tương đương với con mắt tuệ giác của chính mình. Ngay mình sẵn có cái đó, bổn phận chính của người tu là quay trở về để nhận, mà không chịu nhận.

Tại sao tâm bực tức, miệng lẩm bẩm có lợi ích gì? Nói thẳng rằng: Nếu cần con đường tu hành và hóa môn do chư thánh dựng lập thì có ba tạng kinh điển. Nếu là việc trong tông môn, ngươi cốt không lầm dụng tâm.

Dụng tâm cho khéo mới được. Đây là điểm cốt lõi.

Có vị tăng ra thưa:

- Lại có con đường học hay không?

Sư bảo:

- Có một con đường trơn như rêu.

- Học nhân bước nhẹ theo được chăng?

- Tâm chẳng nghĩ, ngươi tự xem.

Con đường học trơn như rêu, muốn bước nhẹ theo thì tâm chẳng nghĩ, đó là bước.

Có vị tăng hỏi:

- Đậu đen khi chưa nảy mầm là thế nào?

Sư đáp:

- Phật cũng chẳng biết.

Đậu đen khi chưa nảy mầm chỉ cho sự nhận hiểu đã có, nhưng còn ẩn. Cho nên, tới chỗ này nhiều thiền sư dùng đủ thứ danh từ, người gọi đậu đen, người gọi là thùng sơn. Gọi là gì cũng đều chỉ cái đó.

Có vị giảng sư đến hỏi:

- Ba thừa và mười hai phần giáo tôi không nghi, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ đến?

Sư bảo:

- Phất tử bằng lông rùa, cây gậy bằng sừng thỏ, Đại đức núp chỗ nào?

- Lông rùa sừng thỏ lại là có sao?

- Thịt nặng ngàn cân, trí không cân lượng.

Có vị giảng sư đến hỏi:

- Ba thừa và mười hai phần giáo tôi không nghi, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ đến?

Sư bảo:

- Phất tử bằng lông rùa, cây gậy bằng sừng thỏ, Đại đức núp chỗ nào?

Như vậy là đáp rồi. Người xưa khôn ngoan quá, đáp mà không động môi lưỡi. Thật là tài. Vì quen làm giảng sư nên ông không chịu nổi câu này, liền thưa:

- Lông rùa sừng thỏ lại là có sao?

- Thịt nặng ngàn cân, trí không cân lượng.

Trong Bích Nham Lục, công án Bí mật Tổ sư từ Ấn Độ sang này quan trọng hơn hết, được các thiền sư mỗi người trả lời một cách, khéo léo tài tình.

Sư dạy chúng:

- Các ngươi! Nếu chưa gặp tri thức thì chẳng nên, nếu từng gặp tri thức rồi, phải nhận ngay ý độ ấy, đến trên chót núi hốc đá, ăn cây mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.

Trân trọng!

Nếu cầu hiểu biết nghĩa cú thì quê hương còn xa muôn dặm vậy. Trân trọng!

Mục Lục