Cô em ngày nào cũng chửi cô chị. Bởi cô chị tưng tửng mà cô em thì không tỉnh. Cô chị làm duyên cho cô em. Cô em lại làm duyên cho cô chị. Vô minh duyên hành, hành duyên thức … Hai chị em cứ thế mà chửi nhau. Nghiệp miệng càng tăng. Sân giận càng nhiều. Vòng trói buộc theo đó nối tiếp.
Mình không tửng nên không động miệng vô cớ như cô chị, nhưng không tránh khỏi như cô em khi đời sống không thuần một màu hồng. Khó mà không sân khi người ta nói ngang. Khó mà yên ổn khi người ta nói ngược. Song người ngược thì người lỗi. Mình nổi sân chửi lại, lỗi đó lại thuộc mình.
Mình lớn tiếng, vì mình không biết việc đó đem lại tổn hại cho mình. Mình không biết mọi suy nghĩ hành động của mình đều khắc sâu trong tâm thức như những vết hằn trên lưng ngựa hoang. Thứ gì mang hơi hướm vị tha, nhẹ nhàng … nó như con trai ngậm cát, một hạt trai xuất hiện trong tương lai. Thứ gì mang hơi hướm tham lam, sân giận … đều để lại vết hằn nhức nhối không chỉ trong hiện tại. Đó là đứng trên mặt quả báo phước đức mà nói. Trên mặt tâm thức, một khi mình thực hiện quen thứ gì, nó có lực bắt mình theo nó như nước theo dòng. Không chửi không chịu được. Không lên tiếng thở không trôi. Mình nghiện chửi nghiện la như nghiện xì ke ma túy.
Vài tháng tôi lại bị một đợt nóng sôi sục thêu đốt ruột gan. Cái nóng khiến mình tức tối, chỉ muốn hét cho hả hơi, chỉ muốn bầm nát mọi thứ. Một đợt nóng có chu kỳ. Tôi khám phá điều ấy khi thực hành pháp “Biết vọng không theo” của Hòa thượng Trúc Lâm. Vì muốn không theo, phải biết cái gì là vọng, phải biết tâm mình đang chất thứ gì trong đó. Buồn, vui, suy nghĩ, nhớ nhung, đau khổ v.v… Tất cả những gì hiện lên trong tâm, mình đều phải biết. Nhờ quá trình đó, mới hay mẽ lửa trong tâm, nó có chu kỳ. Nguyên do nào nó nằm đó, phát tán âm thầm, mình chưa thấu được. Chỉ biết, việc bên ngoài là duyên để mẽ lửa bên trong có cơ bùng phát, không phải bản chất sự việc là thứ làm mình sân giận. Không có mẽ lửa âm ĩ kia, việc bên ngoài dù bức bối bao nhiêu, cũng không khiến mình phải hét hay la.
Mẻ lửa tuy thấy có sẵn trong mình, nhưng là cái quả mình đã huân tập từ bao kiếp trước. Nếu không huân tập thì nó không có. Không chỉ với sân, tham dục, kiến thức v.v… tất cả hiện diện trong mình đều theo qui luật huân tập. Thứ gì quen nhiều, thứ đó có lực khiến mình thông thái giỏi giang về nó khá nhiều. Chửi một lần, không ý thức việc đó tai hại, chửi tiếp lần hai. Chửi lần hai thấy được việc, chửi tiếp lần ba. Cứ vậy, một ngày một ít, tập quen với nó lúc nào không hay. Một khi chửi đã thành quen, cái chửi nó bắt mình chửi, không phải là mình làm chủ cái chửi. Do mỗi ngày tập quen với nó mợt ít, nên hiện đời nó sai sử mình. Đụng chuyện là hét. Nó chính là nhân, khiến bất cứ chuyện gì bên ngoài cũng thành cái duyên để mình nổi sân. Một khi đủ duyên bộc cháy, nó sẽ lan mãi không ngừng. Nó có cái lực khiến mình hăng tiết. Hăng tiết là duyên để lửa thêm nồng. Vết hằn xéo tâm càng đậm.
Ngưỡng Sơn hỏi thiền sư Hồng Ân ở Trung Ấp:
- Làm sao thấy được Phật tánh?
Sư đáp:
- Ta vì ông nói một ví dụ. Như một nhà có sau cửa. Trong có một con khỉ. Ngoài có một con khỉ kêu chóe chóe. Con khỉ bên trong liền kêu chóe chóe đáp lại. Sáu cửa đều đáp như thế.
Ngưỡng Sơn lễ tạ thưa:
- Nhờ Hòa thượng ví dụ nên con đã rõ. Lại có một việc. Như con khỉ bên trong ngủ, con khỉ bên ngoài muốn gặp thì sao?
Sư bước xuống giường thiền, nắm tay Ngưỡng Sơn múa:
- Chóe chóe, ta cùng ông thấy nhau.
Hỏi làm sao thấy được Phật tánh? Trả lời “một con khỉ” kêu ra sáu cửa. Song CON KHỈ KÊU đó chưa phải là Phật tánh. Chỉ là DỤNG của Phật tánh. Sân là dụng hiện hành của con khỉ đang kêu. Dụng này do mê mà có. Do mê nên cái quả của nó là đau khổ và bất an. Vì được huân tập trong bao đời kiếp, nên thấy cái gì gai mắt liền bực, nghe cái gì không đúng liền sân, ăn nhằm hạt sạn nổi dóa, ngửi phải mùi hôi phát khùng, dầu bắn vào người nổi điên, nghĩ đến chuyện nó nói ngược mà cổ uất nghẹn. Con khỉ bên ngoài làm duyên cho con khỉ bên trong lên tiếng. Nếu con khỉ bên trong đã ngủ, tức mầm tham sân si được lắng yên, thì con khỉ bên ngoài dù kêu bao nhiêu, mọi thứ vẫn bình yên. Mọi động tác thi vi lúc đó đều là diệu dụng thanh tịnh của tâm. Dụng thanh tịnh thì hiện tại an vui, tương lai cũng an vui.
Mọi đáng tiếc xảy ra hiện nay, con giết cha, vợ giết chồng, nhân loại tàn sát lẫn nhau v.v… đều do không thấy được con khỉ đang kêu này. Mình không ý thức được sự tai hại của con khỉ đang kêu. Mình không nhận định được con khỉ sắp kêu, con khỉ vừa kêu hay con khỉ đã kêu. Mình nhập chung mình với nó nên cớ sự mới ra như vậy. Nếu nhận định được con khỉ sắp kêu hay đang kêu, rồi dừng ngay không cho nó kêu nữa, thì mọi thứ sẽ yên ổn hài hòa.
Việc đâu tiên để con khỉ ngủ yên, là mình phải NHẬN DẠNG được con khỉ của mình. Trước là nhận cho được HÌNH TƯỚNG con khỉ đang kêu. Sau là nhận cho ra THỰC TƯỚNG của con khỉ ấy. Nghe chuyện tâm nổi bực, thì phải nhận dạng được cái bực đó. Thấy bực là biết con khỉ của mình đã kêu. Kêu rồi thì bịt miệng nó lại đừng cho nó kêu tiếp. Nó mở miệng là mình bịt. Bịt không xong, phải làm công tác tư tưởng cho nó, để nó chịu yên. Từ từ nó chán nó ngủ … Khi nó ngủ rồi thì sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bên ngoài dù thế nào, tâm mình cũng an nhiên tĩnh lặng. Tám gió thổi chẳng động là đó. Không phải con khỉ ngủ yên hoàn toàn mình mới nhận được trạng thái an nhiên tự tại. Việc nào con khỉ ngủ yên, mình nhận liền sự an nhiên trong công việc đó. Khi tất cả thời, tất cả chỗ mà con khỉ ngủ yên hoàn toàn, thì Thiền sư Hồng Ân cùng Ngưỡng Sơn sẽ nói với mình “Ta cùng con thấy nhau”.