Thiền Tông Việt Nam
Tam Vô Của Lục Tổ
II. Vô Tướng Làm Thể

Lục Tổ dạy: "Này thiện tri thức, ngoài lìa tất cả tướng gọi là vô tướng, hay lìa các tướng tức pháp thể thanh tịnh, đây là lấy vô tướng làm thể."

Ở đây cũng không giống thế tục. Thế tục là thể thì phải có tướng này tướng kia gì đó. Còn đây lấy vô tướng làm thể. Bởi phàm phu thì tâm mê theo tướng nên chấp lấy tướng làm chỗ nương cứ sống theo tướng do đó thường bị nhiễm ô. Đây thì Lục Tổ dạy tâm thường lìa tất cả tướng, nhớ kỹ điều đó. Tâm mà lìa tất cả tướng tức không nhận bất cứ tướng nào làm mình thì thể tự thanh tịnh. Nó không nhận bất cứ tướng nào làm mình, dù tướng tốt, tướng xấu, tướng hay tướng dở gì cũng không nhận thì có chỗ nào để nhiễm. Còn vừa nhận thì mới có nhiễm. Thấy tướng tốt thích thì nhiễm, thấy tướng xấu ghét thì cũng nhiễm. Giống như cái gương chiếu tất cả cảnh, cảnh gì đến thì nó cũng chiếu hết, không bỏ sót cảnh nào nhưng nó vẫn thường lìa tất cả cảnh nên nó không nhiễm cảnh nào hết. Tâm mình nếu như vậy thì tự thanh tịnh. Được như vậy thì không có gì làm lay động được hết. Như bài kệ của Lục Tổ đối lại với bài kệ của Ngài Thần Tú: "...xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi nhơ." Trong thể thanh tịnh đó xưa nay không một vật, không có tướng gì hết thì chỗ nào dính bụi nhơ, bụi bám vào đâu. Như trong hư không mình có tung bụi mờ mịt trong đó thì cũng rớt xuống hết, đâu có dính vào hư không. Còn tâm thể mình vô tướng thì cũng vậy. Nếu mình sống lại với cái tâm xưa nay không một vật đó thì có gì dính. Ở đây không cần phải làm cho nó thanh tịnh mà nó tự thanh tịnh, Thiền tông là như vậy, không phải làm cho nó thanh tịnh mà nó tự thanh tịnh, vậy mới thật là thanh tịnh. Còn nếu làm cho nó thanh tịnh thì nó chỉ thanh tịnh được một lúc nào đó rồi nó sẽ hết thanh tịnh, bởi do mình làm mà ra. Ví dụ mình quét hết các bụi ngoài cho nó được thanh tịnh thì khi hết quét bụi đóng trở lại, tức chỉ là thanh tịnh tạm thời. Đây đúng như kinh Kim Cang Phật dạy: "Hễ cái gì có tướng đều là hư vọng, còn thấy các tướng chẳng phải tướng là thấy Như Lai." Cảnh gì đến mình đều  nhớ hễ cái gì có tướng đều là hư vọng, dù cho tướng hay tướng dở tướng tốt tướng xấu, hễ có tướng là hư vọng, không chấp nhận tướng gì thì đâu bị gạt. Còn tâm chấp tướng nên dễ bị gạt. Nên ngồi thiền mà thấy sáng ngời lên là nhiễm liền, hoặc ngồi thiền thấy cảnh giới ghê sợ rùng rợn thì liền  hoảng hốt mất tinh thần. Nếu nắm vững điều này thì  biết đều là tướng hư vọng không thật, giữ vững tâm thanh tịnh không chú ý vào cái gì thì rồi nó qua hết, không gì  gạt được.

Như vậy Phật hay Tổ đều chỉ rõ ràng là không cho người chấp tướng. Đó là yếu chỉ thanh tịnh chân thật, còn chấp tướng là có nhiễm ô, là có dính mắc, nhớ kỹ.

Như Ngài Kỉnh Huyền đến hỏi Thiền sư Duyên Quán: "Thế nào là đạo tràng Vô tướng". Thiền sư Duyên Quán ngay đó chỉ tượng Bồ tát Quán Thế Âm và nói: "Cái này là do ông Ngô Xử Sĩ vẽ." Ngay đó Ngài Kỉnh Huyền mới suy nghĩ,định hỏi tiếp, Thiền sư Duyên Quán nhanh nhẩu nói: "Cái này có tướng, cái kia không tướng." Ngay đó Ngài Kỉnh Huyền liền ngộ. Tức vừa suy nghĩ là có tướng, là mê, trái với thể chân thật vô tướng. Đơn giản, mê ngộ là ngay chỗ đó. Ngay tướng đó mà lìa tướng là giác trở về pháp thể thanh tịnh, còn theo tướng thì đó là mê mất  mình. Hòa thượng Triệu Châu một hôm cầm chổi quét đất, có người đến thấy mới hỏi: "Hòa thượng là bậc thiện tri thức, vì sao có bụi mà phải quét?". Sư bảo: "Bên ngoài đến." Lại hỏi: "Già lam thanh tịnh thì vì sao lại có bụi?" Sư đáp: "Lại có một điểm." Đây đúng là Sư thường sống trong tâm thể thanh tịnh không một vật cho nên không có cái gì dối được trong đó. Nghĩa là trong chỗ tâm thể thanh tịnh vốn là thanh tịnh không một vật rồi thì đâu có bụi nào vào trong đó được, lúc nào cũng sáng ngời, nên ông vừa khởi niệm là Sư biết liền. Bởi vậy khi  hỏi thanh tịnh làm sao lại có bụi thì Sư nói bên ngoài đến, tự ông đem đến. Còn hỏi già lam thanh tịnh làm sao có bụi, Sư nói lại có một điểm, tức là chỉ do ông động niệm, ông động niệm tức là bụi. Bụi đó là tự ông che chớ ông đâu có dối được Sư. Còn mình nếu không phải thật sống trong đó, nghe vậy rồi  suy nghĩ lung tung là  bị mờ, bị gạt. Hoặc như Ngài Đại Điên hỏi Hòa thượng Thạch Đầu: "Nói có, nói không là hai cái đáng chê, vậy xin Thầy trừ cho." Có và không thuộc về hai bên là cái đáng chê trách, nên xin Thầy trừ cho. Ngài Thạch Đầu đáp: "Một vật cũng không trừ cái gì." Đúng là các Ngài thường sống ở trong đó nên hễ có cái gì đến là thấy rõ hết không có mê lầm. Còn như mình nếu được hỏi vậy thì sẽ dạy ông phải trừ cái này, trừ cái kia đi, thì cũng rơi vào có không. Còn Ngài nói một vật cũng không còn trừ cái gì? Khởi niệm trừ thành có rồi. Thế mới thấy Thiền sư là chỉ thẳng như vậy. Thấy thấu đến thể thanh tịnh vô tướng xưa nay không một vật còn có gì nhiễm ô được trong đó. Hết chỗ để nhiễm ô thì không trừ gì hết nhưng lại tự trừ rồi. Như vậy mới thực sự là chỗ không tạo tác. Còn mình có trừ cái này để được cái kia thì thành tạo tác. Thấy chỗ này mới thấy chỗ Ngài Đơn Hà khi đến thăm quốc sư Huệ Trung, hỏi thị giả là "Quốc sư có ở nhà hay không?", ông thị giả nói:"Ở thì ở nhưng mà không có thấy khách", vì đang ngủ. Đây có hai ý, vừa nói Quốc sư đang ngủ, vừa ngầm chỉ chỗ không có chủ khách. Ngài Đơn Hà nghe thì biết liền vì đó là bậc đã sáng mắt, nên Ngài Đơn hà bảo: "Rất sâu xa thay", tức là chỗ đó thiệt là rất sâu xa, khó thấy. Ông thị giả nói: "Chỗ đó mắt Phật nhìn còn chẳng thấy, chỗ đó không còn chủ khách thì còn chỗ nào để mà thấy, có thấy thì thành có chủ có khách rồi." Ngài Đơn Hà khen: "Đúng là rồng sinh rồng con, phụng sinh phụng con." Quốc sư ngủ dậy, thị giả thuật lại, Quốc sư đánh hai mươi gậy đuổi ra, Ngài Đơn Hà nghe được việc đó bèn nói: "Đúng không lầm là Nam Dương Quốc sư." Tức là trong chỗ thanh tịnh rốt ráo đó, nó vốn là không một vật không có tướng gì hết, không có chủ khách cho nên đây thể hiện là Quốc sư đang ngủ. Nhưng ông thị giả thuật lại tức là trong chỗ thanh tịnh không chủ khách, bây giờ thị giả đem tin tức từ bên ngoài vào, là có chủ có khách rồi, là có tướng rồi, cho nên Quốc sư đánh. Người học thiền phải thấy đến chỗ đó mới thấy đến chỗ Quốc sư chân thật, chỗ không thể nghĩ bàn. Còn thấy tướng này tướng kia là thấy giả tướng thôi. Cũng giống như ông Đại Nhĩ Tam Tạm gặp Quốc sư Huệ Trung. Ông Đại Nhĩ Tam Tạng có tha tâm thông nên ai nghĩ gì ông biết liền. Quốc sư mới thử, khởi tâm đến cầu Thiên Tân hỏi "ta đang ở đâu?" Thí dụ mình nghĩ tới Sài Gòn thì có tướng Sài Gòn hiện trong đầu. Ông nói: "Ngài là Quốc sư mà đến cầu Thiên Tân xem khỉ giỡn làm chi." Lần thứ hai Ngài khởi tâm đến bến đò Tây Xuyên và hỏi:"Ông nói xem bây giờ ta đang ở đâu?" Ông nói: "Ngài là quốc sư một nước như vậy tại sao đến bến đò Tây Xuyên xem đò đua". Đến lần thứ ba ngài không nghĩ gì hết, bặt hết các tướng, ông tìm hoài không thấy. Ngài mới thúc nói nhanh, ông cũng tìm  không thấy. Ngài quở: "Chồn tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào?" Nếu như ông thật sự thông được tâm thể chân thật, thì lần thứ ba Quốc sư hỏi "Tôi đang ở đâu?", ông chỉ cần thoi cho một thoi, hoặc ngay đó liền lễ bái là xong, là tự cảm thông nhau. Còn ông chỉ thấy trên tướng thôi chứ không thấy được chỗ thật. Mới thấy lấy vô tướng làm thể, đó mới là thể chân thật. Thấu được thể chân thật đó thì đâu có gì làm nhiễm ô được, đó mới thật sự là quán tự tại, tự tại qua các cảnh, các trần không gì nhiễm được, không gì ngăn ngại được.

Mục Lục
Danh sách chương: