Thiền Tông Việt Nam
Bát Nhã Tâm Kinh Giảng Giải
Đề Kinh

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

"Ma Ha" dịch là "Đại", tức là Lớn. "Bát Nhã" là trí tuệ. Học theo chữ nghĩa thì đây là trí tuệ rộng lớn. Nhưng nghĩa "lớn" đây không phải như là nghĩa lớn-nhỏ mà mình thường hiểu. Bởi vì Bát-nhã mà còn có lớn có nhỏ thì sao? Thì không còn là Bát-nhã nữa! Trí tuệ Bát-nhã mà còn có lớn có nhỏ thì thuộc về vô thường rồi, không thật là Bát-nhã.

"Lớn" ở đây là vượt ngoài sự suy nghĩ, phân biệt hiểu biết của thức tình. Cái thức tình suy nghĩ hiểu biết không thể hiểu đến nổi, không thể đem cái thức tình mà phân biệt, mà so sánh được. Nghĩa là nó không có bờ mé, giới hạn để mà so đo ở trong đó. Không biết phải nói làm sao nên tạm gọi là "lớn", để gọi ý thôi. Do đó người học phải đạt được ý mà quên lời. Đừng nghe nói lớn rồi đem cái lớn-nhỏ mà phân tích thành ra giới hạn ở trong chữ nghĩa, không thấu được nghĩa "lớn" chân thật của Bát-nhã.

Lục Tổ Huệ Năng có giải: "Sao gọi là Ma Ha? Ma Ha là lớn, cái tâm lượng rộng lớn giống như hư không, không có bờ mé cũng không có vuông tròn, lớn nhỏ, cũng chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, cũng không có trên dưới, dài ngắn, cũng không có mừng giận, không có phải quấy, không có lành dữ, không đầu không đuôi, bao nhiêu cõi nước của chư Phật trọn đồng hư không. Cái diệu tánh của người đời vốn không, không có một pháp có thể được. Tự tánh chân không cũng lại như thế". Nghĩa "lớn" của Bát-nhã là như vậy đó, thì làm sao đem cái hình thức bình thường này để phân tích được! Hơn nữa, còn ở trong đó mà phê bình, mà khen chê thì có dính dáng gì với "Nó"? Cho nên ngay một nghĩa "Lớn" này nếu ai sáng tỏ được là mở con mắt Bát-nhã rồi, là thấy suốt các pháp không có ngăn ngại.

Học Bát-nhã là phải học thấu đến như thế đó, chứ không phải chỉ dừng ở trên chữ nghĩa. Bởi vậy có người hỏi Thiền sư Huệ Hải ở Đại Châu:

- Bát-nhã lớn chăng?

 Sư đáp:

- Lớn.

Ông Tăng hỏi:

- Lớn bằng cỡ nào?

Sư đáp:

- Không có ngằn mé.

Tăng hỏi:

- Bát-nhã nhỏ chăng?

Sư đáp:

- Nhỏ.

Nói lớn cũng được, nói nhỏ cũng được.

Ông tăng hỏi:

- Nhỏ cỡ nào?

Sư đáp:

- Xem chẳng thấy.

Nhỏ đến xem không thấy luôn. Tức là Bát-nhã vượt qua tất cả các tướng lớn-nhỏ, không còn có chỗ để cho tâm có thể duyên theo phân biệt. Do đó, một chữ "lớn" này mà chưa qua được thì làm sao thông được Bát-nhã đây?

Lại, "Bát-nhã", dịch là trí tuệ nhưng trí tuệ ở đây cũng không đồng với trí tuệ hiểu biết của thế gian. Bởi vì người thế gian thông minh hiểu biết cũng gọi là trí tuệ, nhưng trí tuệ đó không phải là trí tuệ Bát-nhã. Trí tuệ đó vẫn nằm ở trong cái tình thức. Cho nên ở trong đạo, để phân biệt mà thường nói là "Trí tuệ Bát-nhã". Trí tuệ Bát-nhã này là ở ngay nơi bản tánh của mỗi người, nó tự có đủ nhưng vì các thứ phiền não, vọng tưởng che đi nên nó không có hiện được. Do đó, chúng ta phải nhờ phương tiện tu hành rồi quán chiếu, gạn lọc những cái tình mê, những cái vọng tưởng thì trí tuệ ở nơi bản tánh mới hiện ra.

Hiện là từ nơi có sẵn mà hiện ra thôi chứ không phải nó mới có, không phải mới sanh. Nếu nó có sanh thì thành ra có diệt, mà có sanh có diệt thì không phải là trí Bát-nhã. Cho nên, người ta không biết rồi lo đi tìm Bát-nhã ở trong văn tự chữ nghĩa đó là "lầm"! Tìm như vậy, dù cho có được đi nữa thì cũng không phải là Bát-nhã chân thật.

Lục Tổ giải: "Bát-nhã là không có hình tướng, chính đó là tâm trí tuệ". Bát-nhã là tâm trí tuệ chứ nó không có hình tướng để cho mình phân biệt. Như vậy cũng nói lên Bát-nhã là ở ngay nơi tâm, chứ không phải là cái gì khác. Không thể tìm Bát-nhã ở bên ngoài tâm. Nhiều người học theo chữ nghĩa, nghe nói Bát-nhã là trí tuệ, là sáng suốt, tu là phát ánh sáng Bát-nhã, rồi tưởng tượng ra cái tướng Bát-nhã là phát sáng thế này thế kia, và tu để cho phát sáng thì đó là lầm! Không biết rằng, đó chỉ là lời nói tượng trưng, lời nói gợi ý thôi, để nói Bát-nhã là không có mê. Nhưng chúng ta lại đem tình mê mà phân biệt Bát-nhã, quả thật là trái ngược!

Trong nhà thiền có câu chuyện:

Có một vị tăng đến hỏi Quốc sư Đức Thiều:

- Người xưa có nói: "Người thấy Bát-nhã liền bị Bát-nhã trói, người chẳng thấy Bát-nhã cũng bị Bát-nhã trói". Như vậy, đã thấy Bát-nhã vì sao lại bị Bát-nhã trói?

Quốc sư Đức Thiều đáp:

- Ngươi nói Bát-nhã thấy cái gì?

Ông tăng hỏi thêm:

- Còn chẳng thấy Bát-nhã vì sao cũng bị Bát-nhã trói?

Sư đáp:

- Ngươi nói Bát-nhã chỗ nào chẳng thấy?

Nói thấy không được, nói không thấy cũng không được. Thường thường nhiều người hiểu mình tu hành là để thấy được Bát-nhã, nhưng nếu thấy được Bát-nhã thì sao đây? Mình thấy được Bát-nhã, thì Bát-nhã đó thành ra các đối tượng để cho mình thấy, nó là "cái bị thấy", tức là nó che mờ mình rồi, bị Bát-nhã trói chứ gì! Còn không thấy Bát-nhã cũng bị Bát-nhã trói là sao? Không thấy Bát-nhã tức là mình mê, mê nên cũng bị Bát-nhã trói. Bởi vì người hiểu lầm, cho Bát-nhã giống như một cái gì đó để cho mình thấy, hoặc cái gì đó mình bị mất đi nên bây giờ tìm trở lại. Hiểu vậy đó đều là mê Bát-nhã. Bát-nhã chính là tâm trí tuệ, thì làm sao mình thấy nó? Chỉ thầm cảm thông thôi.

Rồi "Ba-la-mật-đa", dịch là đáo bỉ ngạn tức đến bờ bên kia hoặc cũng có nghĩa là rốt ráo viên mãn. Chỗ này có nhiều người hiểu lầm, Bát-nhã mà có bờ này, có bờ kia thì có phải Bát-nhã chưa? Là không phải Bát-nhã rồi! Người ta thường hiểu bờ này là bờ sanh tử, bờ kia là bờ Niết-bàn, nhưng ở đây không thể hiểu theo kiểu đó, mà đây là ngầm chỉ rằng: Nó vượt qua tất cả sanh diệt đối đãi. Cái tâm phân biệt đó không thể đến kịp ở trong đây được. Cho nên, nó là rốt ráo, không còn đem cái gì để so sánh được nữa. Không thể đóng khung nó trong một giới hạn nào, tạm gọi là đến bờ kia. Đó là gợi ý thôi. Người mê thì thấy có bờ này có bờ kia sai khác. Còn người ngộ thì chỉ là một tâm, chứ không có hai. Đó mới là Bát-nhã.

Lục Tổ giải: "Hễ chấp trước cảnh thì sanh diệt khởi, như nước dậy sóng mòi tức gọi là bờ này. Còn lìa cảnh thì không sanh diệt, như nước thường trôi chảy, tức gọi là bờ kia". Vậy thì bờ này, bờ kia cũng chỉ là nước thôi, nước mà dậy sóng là bờ này, nước thường trôi chảy là bờ kia. Cũng vậy, tâm mình mà duyên theo cảnh, vọng khởi lên liền có sanh diệt, thì đó là bờ này. Còn tâm mà lìa cảnh thì thường thông suốt tự tại, đó là bờ kia. Tuy nói bờ này bờ kia nhưng cũng chỉ là tâm thôi, chứ không có hai, không mắc kẹt nơi danh từ.

Rồi "Tâm Kinh", chữ Tâm là gì? Thường thường người hiểu lầm chữ Tâm là trái tim của mình. Chữ Tâm ở đây nghĩa là tinh yếu, đây là bài kinh tinh yếu như là trái tim của hệ Bát-nhã.

Như vậy, đề kinh này chúng ta có thể hiểu như thế này: Đây là "Bài Kinh Tinh Yếu Về Trí Tuệ Rộng Lớn Rốt Ráo Hoàn Toàn". Vậy ngay đề kinh này mà người quán cho thấu đáo là đủ để chuyển mê khai ngộ rồi, chứ không phải chỉ dừng ở trên phân tích chữ nghĩa. Học như vậy, quý vị mới thấy mở sáng tự tâm, mới hiển bày được Bát-nhã.   

Mục Lục