Thiền Tông Việt Nam
Tam Vô Của Lục Tổ
III. Vô Trụ Làm Gốc

Lục Tổ dạy: "Vô trụ là bản tánh của người, đối với việc thiện ác tốt xấu của thế gian cho đến oán thân lúc nói năng động chạm tranh đua v.v đều đưa vào không, chẳng nghĩ tác hại lại. Trong mỗi niệm chẳng nhớ nghĩ cảnh trước. Nếu niệm trước, niệm nay, niệm sau niệm niệm tiếp nối nhau không gián đoạn gọi là trói buộc. Còn ở trên các pháp niệm niệm chẳng dừng trụ tức là không trói, đây là lấy vô trụ làm gốc."

Chỗ này mà nắm vững thì tâm liền an. Người mê thì tâm luôn luôn có chỗ trụ gọi là bám vào cảnh vào trần. Chính mình đang sống với cái tâm hiện tại của mình đây là cái tâm luôn luôn có chỗ trụ, cho nên lúc nào nó cũng phải tìm cảnh tìm duyên để nó bám, mất cái này thì nó phải bám cái kia, luôn luôn có chỗ trụ, tức là kẹt trong cảnh đối đãi phân biệt, gọi là niệm niệm thường bị trói buộc không có tự do. Bởi vì lệ thuộc vào cảnh, vào duyên, vào trần. Muốn cho nó đừng trụ đừng  bám mà không được, nó chạy hoài nên lúc nào cũng bị thấy. Còn đến chỗ vô trụ này mới là hết chỗ quỷ thần xem thấy vì đâu còn tướng nào nữa để thấy. Ở đây Lục Tổ dậy là tâm đi qua tất cả cảnh duyên, trong mỗi niệm chẳng nhớ cảnh trước. Đối với tất cả các việc thiện ác tốt xấu của thế gian, v.v… nói năng động chạm đều đưa vào "không", không nghĩ đáp lại, thì đó mới là vô trụ. Còn niệm niệm cứ dính nhau, nối nhau theo cảnh thì gọi là trói buộc, đó là có trụ. Trở về bản tánh vô trụ, không dừng ở trên một cảnh nào hết thì đó là gốc giải thoát an ổn, vững vàng, tự tại. Vì hễ có trụ tức là có dời đổi, nhớ kỹ điều đó! Các pháp là vô thường. Hễ trụ vào nó, khi nó nói dời đổi thì mình cũng dời đổi theo nên tâm cứ phải lưu chuyển mãi. Đó là con đường bất an, theo dòng lưu chuyển sanh tử. Vô trụ thì mặc cho các thứ biến đổi, bản tánh tự an trụ. Cho nên vô trụ tức là an trụ, còn trụ là bất an. Thế gian thì cái có trụ mới vững, còn  ở đây, có trụ thì lại không vững. Do đó, thiện ác, tốt xấu, vui buồn thương ghét mình không trụ vào cái gì hết thì không bị dời đổi theo cái gì, nó đến rồi đi, không dính dáng gì cả. Quán kỹ để ứng dụng tu thì tâm sẽ nhẹ nhàng, cởi mở. Dù gặp cảnh gì cũng vậy, gặp cảnh thuận thì cũng tốt, đừng có vội trụ vào, gặp cảnh nghịch thì cũng vậy, cũng không có trụ vào, thì rồi nó qua. Biết như vậy mình ứng dụng gốc vô trụ này để sống, tu thì sẽ an ổn. Nên có người hỏi Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền:" Thế nào là thấy hiểu chân chánh?" Thiền sư Nghĩa Huyền đáp: "Ông hãy tất cả vào phàm, vào thánh, vào nhơ, vào sạch, vào các cõi Phật, vào các cõi Thánh, vào lầu gác Đức Di Lặc, vào pháp giới Tỳ Lô Giá Na tức là pháp thân, hiện khắp mọi nơi, cõi nước thành trụ hoại không cho đến Phật hiện ra đời, chuyển đại pháp luân, rồi vào Niết-bàn mà chẳng thấy có tướng mạo đi đến, tìm sanh tử của Ngài trọn không thể được, liền vào pháp giới vô sanh, dạo đi khắp mọi cõi nước, vào cả thế giới hoa tạng thấy tột tướng không của các pháp đều không có pháp thật, chỉ có vị đạo nhân không nương tựa đang nghe pháp đó là mẹ chư Phật." Vào khắp hết tức là đi qua hết không có bỏ sót cái gì nhưng mà không trụ vào cái gì hết, cho nên gọi là thấy tất cả đều là không, chỉ có một đạo nhân không nương tựa đang nghe pháp, không nương tựa tức là vô trụ, nhận ra cái đó thì đó là mẹ chư Phật. "Do đó  Phật từ không nương tựa mà sanh, nếu tỏ ngộ không nương tựa thì Phật cũng không được. Nếu thấy được như thế tức là thấy hiểu chân chánh. Người học chẳng thấy rõ chấp theo tên gọi, câu lời bị tên thánh phàm kia làm ngăn ngại, do đó mà che ngăn con mắt đạo chẳng được nhìn rõ. Như mười hai phần giáo đều là lời nói biểu hiện bên ngoài, người học chẳng lãnh hội liền nhằm trên những câu nói bên ngoài mà sanh hiểu thì đó đều là nương dựa, rơi ở nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong ba cõi. Nếu ông muốn sống chết đi ở thong dong tự tại thì ngay đây hãy nhận rõ người nghe pháp không hình, không tướng không gốc không rễ, không chỗ trụ thì tự nhiên sống động, ứng ra có muôn thứ phương cách hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ (không chỗ có nghĩa là không chỗ trụ). Do đó càng tìm càng xa, càng cầu càng trái, gọi đó là bí mật." Nghĩa là Ngài Lâm Tế dạy rõ, mình vào khắp hết tất cả chỗ không bỏ sót chỗ nào hết, nhưng mà không trụ vào đâu hết mà chỉ nhận rõ vị đạo nhân không nương tựa đang nghe pháp đó thì đó mới chính là chỗ sống chân thật an ổn, đó mới chính là chỗ an trụ. Vị đạo nhân mà không nương tựa, tức là  không có chỗ trụ chứ gì. Còn có chỗ tựa là có chỗ trụ thì tức là  bất an, bị biến đổi. Nhận ra đạo nhân đang nghe pháp mà không hình không tướng, không gốc không rễ, không chỗ trụ thì đó là  đi ở thong dong tự tại. Nếu mình gần  chết  mà nhớ được "người này" thì đúng là chết cũng tự tại. Chết là cái thân này chết thôi, nhưng nhớ là "cái người nghe pháp không hình không tướng không gốc không rễ  không chỗ trụ" thì đi ở thong dong tự tại, không có mắc kẹt nơi thân này, cũng không có đi đâu. Nhưng mà không dễ! Bây giờ còn quên lên quên xuống huống là đến chỗ đó. Nên phải nhớ tu tập cho kỹ, huân tập sâu, đậm, vững thì lúc nào cũng nhớ hết. Tức là gặp cảnh duyên gì, cảnh thuận hay cảnh nghịch gì thì mình cũng thường nhớ trở lại như vậy đó, quen vậy rồi thì khi sắp chết bảo đảm có đắc lực. Còn ngay đây, cảnh duyên đổi chút mà đã mất mình rồi thì đến đó làm sao nhớ nổi. Hiểu kỹ rồi mới thấy ghê sợ chứ không phải thường! Bây giờ còn tỉnh táo, còn sáng suốt, nhưng khi gặp cảnh duyên trái ý là mất ngay rồi, hoặc cảnh duyên vui thích cũng mất ngay rồi, huống chi là gần chết bao nhiêu cái làm rối loạn tâm thần mà còn  nhớ được thì đúng là quý báu, bảo đảm là có chỗ đi sáng sủa! Vậy muốn được tự do tự tại thì phải sống trở lại với cái "tâm vô trụ", đó là con đường an ổn bậc nhất, nhớ kỹ điều đó! Có câu chuyện, một vị tướng võ sau thời gian chinh chiến ông cũng chán muốn xuất gia tu hành, đến thưa với Thiền sư Đại Huệ xin xuất gia. Ông thưa rằng:"Con bây giờ sẵn sàng từ bỏ hết, cả vợ con thê thiếp gì cũng sẵn sàng bỏ hết, xin Ngài cho con xuất gia thôi." Thiền sư Đại Huệ nói: "Ờ thì cũng tốt nhưng hãy từ từ, sao phải gấp vậy." Ông năn nỉ hoài, nói con đã bỏ hết, chỉ xin xuất gia thôi. Ngài Đại Huệ cũng bảo:"Thì cũng tốt đó nhưng cứ từ từ đi." Một buổi sáng nọ, Ngài Đại Huệ thấy ông lên lễ Phật sớm, Ngài hỏi ông sao lên lễ Phật sớm vậy, không sợ vợ ở nhà có người ngủ chung sao. Ông nghe tới đó là nổi tam bành lục tặc lên, mới trách Ngài Đại Huệ tại sao nói chuyện xúc phạm đến người như vậy. Ngài Đại Huệ cười nói, ông nói cái gì cũng bỏ hết mà quạt mới phẩy chút thôi thì lửa đã phừng lên rồi, bỏ cái gì. Đó để cho thấy rằng, có chỗ trụ, vừa nghe thấy là trụ liền, mà trụ là động thôi. Động tức là mất sáng suốt nên khởi phiền não.

Cho nên Lục Tổ dạy rõ: "Này thiện tri thức, đạo cần phải trôi chảy, cớ sao lại ngưng trệ". Đã là đạo thì phải trôi chảy, cớ sao lại ngưng trệ. Ngưng trệ tức là trụ, trụ tức là dính. "Tâm chẳng trụ nơi pháp thì đạo liền trôi chảy, nếu tâm trụ pháp gọi là tự trói." Cần phải nhớ kỹ điều đó, nếu tâm trụ nơi pháp là tự trói, là mất tự tại. Còn tâm mà không trụ nơi pháp thì đạo liền trôi chảy tức là tự tại, là sáng tỏ. Như vậy muốn hợp với đạo thì tâm không trụ nơi pháp, không để nó làm cho ngưng trệ.

 

Mục Lục
Danh sách chương: