Thiền Tông Việt Nam
Quy Sơn Cảnh Sách Giảng Giải
8. Phần 8

Chánh Văn:

“Tự hận tảo bất dự tu, niên vãng đa chư quá cựu. Lâm hành huy hoắc, phạ bố chương hoàng. Hộc xuyên tước phi thức tâm tùy nghiệp. Như nhân phụ trái, cường giả tiên khiên. Tâm tự đa đoan, trọng xứ thiên trụy”. 

Dịch:

Hận mình sớm chẳng lo tu, đến lúc tuổi già nhiều điều tội lỗi. Khi sắp rời bỏ cuộc đời sự sống tan rã nhanh chóng, trong lòng khiếp sợ kinh hoàng. (Giống như) lụa thủng chim bay, (cũng vậy) tâm thức theo nghiệp. Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều mối, nặng đâu sa đó. 

Giảng:

Đến đây tôi giải thích kỹ cho toàn thể quí vị nghe và nhận được yếu chỉ tu hành, để đến phút chót mình cố tự chủ. Đối với người thường không biết tu hành chỉ lo chạy theo danh lợi, khi sắp chết họ tự kiểm điểm thấy mình không có phước đức, nên tâm hoảng sợ không biết mình sẽ ra sao? Đi về chỗ nào? Tâm hãi hùng tay chân co rút, không làm chủ được mình. Khi ấy nếu tắt thở, thì thần thức nơi thân liền xuất ra.

Chữ “Hộc xuyên” Phật ví dụ như cái hủ ngoài có tấm lụa bịt miệng, trong hủ có con chim. Nếu tấm lụa thủng thì con chim sẽ bay ra chỗ nào nó thích. Cái hủ bịt miệng ấy dụ cho thân tứ đại của chúng ta, khi thân sắc uẩn hư hoại. Tâm thức liền tùy nghiệp mà đi, nghiệp nào nặng thì lôi mình đi trước. Thế thì thái độ của người tu khi chết phải làm thế nào? Trong kinh Phật dạy: khi sắp chết phải được tự chủ. Nếu tu về pháp môn niệm Phật thì nhớ niệm Phật, tu pháp môn trì chú thì nhớ câu chú. Còn chúng ta tu thiền thì sao? Lúc ấy không nhớ gì hết phải không? Nếu không nhờ phương tiện gì cả thì lúc ấy hoảng hốt làm sao tự chủ? Thực sự, nếu người tham thiền đầy đủ nghị lực, khi chết họ sẽ cười. Chỉ có người chưa đủ nghị lực mới sợ. Cũng như người niệm Phật khi đến chỗ nhất tâm bất loạn rồi, thì khi chết sẽ vui tươi, vì thấy mình đầy đủ công đức, nhắm mắt là được Phật rước. Người tham thiền cũng thế, khi thấy được tánh, đạt được đạo thì có gì mà sợ hãi? Như Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ khi có người hỏi:

- Đối với vấn đề sanh tử Ngài nghĩ sao?

Ngài đáp:

“Trường không túng sử song phi cốc

Cự hải hà phòng nhất điểm âu?”

Dịch:

“Giữa trời phỏng có đôi vành chuyễn

Biển cả ngại gì hòn bọt con”.

Với hư không vô cùng tận thì hai vành xe trong ấy nào có nghĩa gì? Một hòn bọt nào có đáng gì với biển cả mênh mông! Hai vành xe dụ cho sanh tử, khi chúng ta đã đạt được pháp thân thì vấn đề sanh tử trở thành vô nghĩa. Lại nữa, pháp thân chẳng khác nào biển cả, còn sắc thân huyễn hóa này chẳng khác nào hòn bọt. Bọt tan trở về biển nào có lo gì? Vậy thì có gì sợ hãi? Chỉ ngại chúng ta biết bọt mà không biết biển thì mới lo sợ. Vì thế mà đa số Thiền sư ngộ đạo rồi, đối với vấn để sanh tử các Ngài xem như trò chơi. “Ư chư sanh tử bất quan hoài”, đối với vấn đề sống chết chẳng còn để lòng nữa. Lúc đó là xong, cần gì phải nghĩ mình đi đâu. Đây là chủ yếu của Thiền Tông. Tổ Qui Sơn khi sắp tịch, có người hỏi:

- Hòa Thượng sau khi tịch về đâu? Ngài đáp:

- Ta sẽ làm con trâu dưới núi, trên lưng có đề 4 chữ “QUI SƠN LINH HỰU”. Khi ấy gọi Qui Sơn là phải, hay gọi con trâu là phải? 

Quí vị chưa thông hiểu thiền lý, nghe chuyện này ắt hoảng hốt sanh nghi. Ông già tu hành bao năm đã được tôn làm Tổ, mà chết làm trâu thì nguy quá, tu hành như mình chẳng biết sẽ ra sao? Thông thường chúng ta quan niệm người tu chết thì phải về cõi Phật hoặc thành Thánh mới được, ai ngờ Ngài nói sẽ làm con trâu Ngài Nam-Tuyền cũng nói tương tự như vậy. Chúng ta lúc nào cũng thấy trên là Thánh dưới là phàm, muốn bỏ phàm theo Thánh, mà còn thấy Thánh là còn thấy hai. Sự thật thì không hai, đấy chỉ là phương tiện giả lập trong vòng tương đối mà thôi. Vì thế đối với những vị đạt đạo thấy Phàm Thánh không hai thì nói thế nào? Thôi, làm con trâu vui vậy. Nhưng nói thế chớ các Ngài có làm trâu đâu, chỉ cốt để phá cái chấp phàm Thánh của chúng ta thôi. Bọt tan về biển, chớ hỏi về đâu? Vừa khởi nghĩ hỏi là đã sai rồi. Nếu còn có chỗ về tức là còn hòn bọt, bởi vì bọt mới trôi giạt Đông Tây, chứ khi bọt tan đồng với biển cả thì ai thấy được chỗ về? Nếu thực tình chúng ta đã gột sạch bản ngã, dứt được tâm phàm Thánh thì có lo gì, chỉ ngại chúng ta không dứt được mà thôi. Chẳng những Thiền sư nói bọt tan về biển mà chính đức Phật đã từng giải thích về điều này: Có một vị Tỳ Kheo chứng A-La-Hán, khi vị này tịch, một Tỳ Kheo khác hỏi Phật:

- Bạch Thế-Tôn, vị Tỳ Kheo này sau khi tịch sẽ đi về đâu?

Phật đáp:

- Vị này sau khi tịch chẳng khác nào như củi hết lửa tắt. 

Thật đơn giản. Chính chỗ củi hết lửa tắt này khiến lắm người không hiểu và đâm hoảng, nghĩ rằng đến đây rồi chẳng còn gì nữa. Thật sự, ở đây củi là dụ cho nghiệp, lửa dụ cho sanh tử. Nếu nghiệp đã hết thì sanh tử đâu còn. Bậc đã chứng A-La-Hán, dứt sạch nghiệp thì đâu còn sanh tử, đó là giải thoát, nên nói: như củi hết lửa tắt. Chính đức Phật khi còn tại thế có người đặt câu hỏi: “Bạch Thế-Tôn, sau khi tịch rồi, Ngài còn hay không còn?”. Phật không đáp mà gác qua một bên cho rằng câu hỏi vô lý. Tại sao vô lý? Vì theo quan niệm của thế gian thì hoặc là có hoặc là không. Nếu có thì phải có hình tướng, nếu không thì là không ngơ. Cho nên Phật không đáp còn hay không, vì nếu đáp còn thì người ta sẽ nghĩ đến hình tướng thế nay thế nọ, mà Phật là đấng đã giác ngộ thoát khỏi vòng luân hồi sanh diệt thì đâu có hình tướng. Còn nếu đáp không, thì họ sẽ tưởng là không ngơ, cả hai đều là bịnh, bịnh chấp “thường”, chấp “đoạn” chúng sanh luôn thấy có hai, còn bậc giác ngộ thì không còn thấy có hai nữa. Đối với hàng Thánh giả mà hỏi sau khi tịch đi về đâu là điều vô lý. Vì một khi thể nhập pháp thân rồi thì tràn đầy pháp giới, tùy duyên ứng hóa, đâu hạn cuộc chỗ nơi nào, không thấy đi cũng không thấy có chỗ để đi, đây mới thật là giải thoát. Chỉ những người còn lẩn quẩn trong vòng sanh tử, thì Phật mới thọ ký cho họ sau khi chết sẽ về chỗ nào đó trong lục đạo, tùy theo nghiệp của mỗi người. Nếu còn chỗ đi ấy là còn luân hồi. Nay quí vị hỏi: Tu Thiền chết đi về đâu? Nếu tôi nói chết đi về đâu tức tôi chỉ quí vị luân hồi. Mà ở đây tôi muốn quí vị làm sao thể nhập được pháp thân, tùy duyên ứng hóa. Điểm thiết yếu của người tu là cốt được vô sanh, vô sanh tức nhập Niết-bàn. Niết-bàn thì không có hình tướng, nhưng đừng nghĩ là nó không ngơ, nói không ngơ là rơi vào đoạn mà nói có tướng tức lạc vào thường. Cả hai đều là bịnh. Chỉ có người thể hội được mới rõ, chứ không thể giải thích theo lối chấp hai của thế gian mà hiểu được.

Ở đây tôi giải thích thêm một điểm ngờ vực nữa của người thế gian. Người thế gian cho rằng mọi người đều riêng có một linh hồn là cái tính linh khôn ngoan sáng suốt, mà đã khôn ngoan thì sao lại chịu vào nơi khổ? Ai cũng nghĩ rằng sau khi chết linh hồn mình sẽ sinh ra làm người nữa và chấp chặt cho linh hồn đó là mình. Đạo Phật thì gọi đó là tâm thức. Cái tâm thức này tùy theo chỗ huân tập thiện ác mà đến, chứ không cố định. Vì không cố định nên nó không phải là cái khôn ngoan biết lựa chọn, mà chỉ tùy nghiệp mà thôi. Tâm thức khác linh hồn ở chỗ đó. Nếu nói chúng ta có linh hồn thì sẽ tưởng như đó là một tinh thần duy nhất, nếu là duy nhất cố định thì thiện ác, mãi mãi không thay đổi. Nhưng, tâm thức chúng ta luôn luôn biến chuyển, gần người lành thì hấp thụ điều lành, gần kẻ ác thì hấp thụ điều ác. Như vậy, tâm thức là một dòng thiện ác, sinh diệt, chính dòng thiện ác đó sẽ đưa chúng ta đến chỗ lành hay dữ, nghiệp nào nặng sẽ lôi mình trước, đó là ý nghĩa “trọng xứ thiên trụy”.

Tóm lại, Tổ chỉ cho chúng ta thấy người tu nếu không tu đến nơi đến chốn, mà một bề chạy theo danh lợi, khi lâm chung thần thức vừa ra khỏi thân liền bị nghiệp lôi, nghiệp nào nặng thì sẽ lôi mình trước. Nếu thiện mạnh thì sẽ lôi mình đến chỗ lành, nhưng hưởng phước lành hết thì sẽ rơi vào chỗ dữ. Nếu ác mạnh sẽ lôi đến chỗ dữ trước, trả hết nghiệp ác rồi mới tới chỗ lành, đấy là tuần tự mà trả nợ, nhưng tùy chủ nợ mạnh yếu mà lôi kéo chúng ta đến trước hay sau. Đây là chỗ chúng ta cần lưu ý.

Mục Lục