Thiền Tông Việt Nam
KINH THỦ-LĂNG-NGHIÊM GIẢNG GIẢI (THANH TỪ TOÀN TẬP - QUYỂN 5)
Chương II: TU ĐẠO

A-nan và cả đại chúng nghe Phật chỉ dạy, nghi lầm tiêu trừ, tâm ngộ được thật tướng, thân ý nhẹ nhàng, được điều chưa từng có. Lại rơi lệ đảnh lễ dưới chân Phật, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:

- Đấng bảo vương thanh tịnh Đại bi Vô thượng khéo khai mở tâm chúng con, hay dùng các thứ nhân duyên phương tiện như thế, khuyến khích dẫn dắt những người chìm trong tối tăm ra khỏi biển khổ.

Bạch Thế Tôn, nay con tuy nhờ được nghe pháp âm như thế, biết Như Lai tạng diệu giác minh tâm trùm khắp cả thế giới ở mười phương, gồm chứa các cõi Diệu giác vương thanh tịnh bảo nghiêm, quốc độ của chư Phật mười phương, Như Lai lại trách con nghe nhiều mà không có công phu, không kịp thời tu tập.

Ngài A-nan lặp lại ý trước, nhắc lời Phật quở dù nghe nhớ hết kinh điển của chư Phật mười phương, không bằng một người tu tập pháp vô lậu.

Nay con vẫn như người khách lang thang chợt được nhà vua tặng cho ngôi nhà đẹp, tuy được ngôi nhà lớn, cần phải biết cửa vào. Cúi mong đức Như Lai mở lòng đại bi chỉ cho chúng con là những kẻ còn mờ tối ở trong hội, từ bỏ pháp Tiểu thừa, rốt ráo được Niết-bàn vô dư của Như Lai, đó là con đường phát tâm từ xưa đến nay, khiến cho hàng hữu học biết cách để nhiếp phục tâm phan duyên lâu đời, được pháp tổng trì, vào tri kiến Phật.

Thưa lời đây rồi, năm vóc gieo xuống đất, ở trong hội nhất tâm chờ nghe lời chỉ dạy của đức Phật.

Đoạn trước ngài A-nan và đại chúng được đức Phật chỉ cho thấy rõ tất cả năm ấm, mười hai xứ, mười tám giới cho đến bảy đại, đều từ Như Lai tạng lưu xuất. Tới đó ngài A-nan đại ngộ, rõ được pháp thân mà không cần phải trải qua vô số kiếp tu. Nhìn lại thấy thân này chẳng khác nào hạt bụi ở trong hư không hay như hòn bọt trên biển cả. Như vậy, khi thấy được pháp thân trùm khắp mười phương thì thân này không còn giá trị gì.

Ngài A-nan ngộ rồi, bèn trình bày chỗ ngộ của mình và phát lời thệ nguyện. Nhưng rồi ngài Phú-lâu-na lại khởi nghi. Một là nghi sao Như Lai tạng bản nhiên bỗng sanh ra sơn hà đại địa. Hai là nghi tứ đại đất nước gió lửa vốn chống nhau, tại sao có thể trùm khắp. Ba là nghi vọng từ đâu mà khởi. Sau khi đức Phật giải thích cho ngài Phú-lâu-na và đại chúng nghe, ngài A-nan lại khởi nghi về nhân duyên và tự nhiên.

Ngài A-nan tuy đã ngộ, biết từ Như Lai tạng lưu xuất tất cả, nhưng khi nói đến nhân duyên và tự nhiên thì ngài cũng lại như trước nghi nó là thật. Bởi vậy đức Phật phải một lần nữa giải thích cho ngài A-nan thấy nhân duyên và tự nhiên đều không thật. Từ đây ngài A-nan mới tin chắc mình có cái chân thật quý báu, nhưng lại không biết làm sao mà vào.

Ngộ rồi còn phải Nhập. Nhiều người không hiểu, khi nghe tu hành có phát minh gì, tưởng đâu là xong chuyện. Cho nên tới đây, ngài A-nan ví dụ hết sức cụ thể. Như kẻ đi lang thang không nhà không cửa, chợt được vua thương, ban cho một ngôi nhà quá đẹp mà không biết từ cửa nào vào. Thấy nhà chưa phải là kẻ vào nhà, cũng vậy tu thiền không phải ngộ là xong việc. Vậy mà có người thấy được chút ít gì đó, liền thư thả ăn chơi, cho là mình được tự tại. Đó là bệnh lớn của người tu.

Đến đây ngài A-nan cầu xin đức Phật chỉ cho con đường hay cái cửa để vào trong căn nhà đẹp đó. Ngài A-nan đại ngộ tức là thấy được pháp thân, dụ như được ngôi nhà báu. Được ngôi nhà, biết nó là của mình rồi, nhưng muốn vào không phải đơn giản. Phải từ cửa nào để vào được trong nhà, đó mới là thiết yếu. Tu hành có những giai đoạn, kinh Pháp Hoa nói khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, còn ở đây là khai thị ngộ nhập pháp thân.

Phần trước chúng ta đã học đoạn Thất xứ trưng tâm tức bảy chỗ hỏi tâm, đó là Khai. Khai là mở, tức là dẹp phả chỗ chấp chặt làm đóng bít cửa, không thấy được pháp thân. Phật phá lầm chấp đó để khai Phật tri kiến hay là khai pháp thân.

Phần Thị, từ đoạn đức Phật đưa nắm tay chỉ ra tánh thấy, kế là tám thứ trả về, cho đến chỉ ra năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới... vốn là Như Lai tạng diệu chân như tánh. Ban đầu Phật chỉ cho thấy được nơi mình có tánh thấy tánh nghe chân thật. Từ đó trở về sâu bên trong một chút sẽ nhận được pháp thân trùm khắp. Như vậy phần Thị là chỉ cho rõ được pháp thân.

Do rõ được pháp thân, nên cuối phần này ngài A-nan Ngộ. Căn cứ theo tinh thần kinh A-hàm thì Ngộ là phá được kiến hoặc và Nhập là trừ tư hoặc. Tư hoặc là các mê lầm của ngũ căn đối với ngũ trần, khởi ra lòng tham ái nhiễm trước, mê mờ chẳng tỉnh. Kiến hoặc là các mê lầm của ý căn đối với pháp trần, sanh ra các kiến chấp như chấp có chấp không, chấp thường chấp vô thường…

Phá được kiến hoặc là vào hàng Nhập lưu, tức vào dòng thánh. Ngày xưa những lúc đức Phật thuyết pháp, trong hội thường có người chứng quả Tu-đà-hoàn, tức là nhận được đạo một cách chắc chắn không còn nghi ngờ, đó là Ngộ. Ngộ rồi thì đời đời không còn thối chuyển, nên gọi vào dòng thánh. Chúng ta học đạo nếu có đủ niềm tin thì không bao giờ nghi ngờ nữa, đó là đã thẳng vào. Sở dĩ chúng ta tu mà còn thối chuyển là vì còn nghi ngờ. Nếu xác quyết chắc chắn, một mực đi thẳng, đó gọi là đủ lòng tin.

Tuy ngộ là rõ được pháp thân rồi nhưng làm sao vào, đến đây ngài A-nan xin Phật chỉ cho con đường vào, đó là Nhập.

Nhập dạy cho ngài A-nan có trình tự thứ lớp, khai thị ngộ nhập rất rõ ràng. Nếu chúng ta nắm vững các thứ lớp đó thì trên đường tu không bị lầm lẫn. Ví dụ như chúng ta tu biết vọng, không chạy theo vọng tưởng, tức đang trong giai đoạn phá dẹp vọng, đó là Khai. Chừng nào nhận được pháp thân trùm khắp tức là Ngộ. Nhưng nhận ra pháp thân rồi, còn phải trải qua bao công phu tu tập nữa mới Nhập được. Nên từ đoạn này về sau còn rất dài là nói về Nhập. Nhập cũng cay đắng lắm chứ không phải đơn giản.

Có người không rõ điều này, nghe kinh hiểu được chút ít bèn hài lòng tự mãn, cứ bàn luận nói dóc với nhau. Đó là bệnh lớn. Do chưa vào được chỗ chân thật, đến khi gặp phiền não vẫn cứ phiền não, y như cũ không hơn không kém. Do đó tu phải thấu suốt đến chỗ tột cùng, chứ không phải chỉ một chặng là xong. Nếu không nắm vững những điều này thì trên đường tu chúng ta sẽ lúng túng, không biết đâu là gốc đâu là ngọn, cũng không biết nhân nào đưa đến quả nào. Cho nên ở đây Phật chỉ rành mạch từng phần, để khi tu chúng ta biết cách ứng dụng.

I. HAI NGHĨA QUYẾT ĐỊNH CỦA NGƯỜI MỚI PHÁT TÂM

Khi ấy đức Thế Tôn vì thương xót hàng Thanh văn Duyên giác trong hội, đối với tâm Bồ-đề chưa được tự tại, và những chúng sanh phát tâm Bồ-đề trong đời mạt pháp sau này khi Phật đã diệt độ, mà mở bày con đường tu hành sâu mầu của pháp Vô thượng thừa.

Đức Phật không những thương xót hàng Duyên giác Thanh văn trong chúng hội, mà còn thương tới những chúng sanh phát tâm Bồ-đề trong đời mạt pháp về sau. Những lời này Phật không dạy riêng cho chúng hội ở thời đó mà dạy cả cho chúng ta bây giờ.

Phật chỉ dạy A-nan và cả đại chúng:

- Các ông quyết định phát tâm Bồ-đề, đối với pháp tam-ma-đề nhiệm mầu của chư Phật Như Lai không sanh lòng mỏi mệt, trước cần phải rõ hai nghĩa quyết định lúc bắt đầu phát tâm cầu giác ngộ.

Diệu-tam-ma-đề chỉ cho con đường viên thông đi tới chỗ chân thật của chư Phật, cũng gọi là diệu trang nghiêm lộ. Chúng ta tu cầu giác ngộ thành Phật, nếu không rõ hai nghĩa quyết định thì làm sao thành tựu.

1. Nhân quả tương ưng

Thế nào là hai nghĩa quyết định của người mới phát tâm? A-nan, nghĩa quyết định thứ nhất là, nếu các ông muốn xả bỏ pháp Thanh văn, tu Bồ-tát thừa vào tri kiến Phật, phải nên xét kỹ chỗ nhân phát tâm cùng với chỗ quả giác ngộ là đồng hay khác.

Nhân phát tâm và quả giác ngộ đạt được phải tương ứng nhau. Chúng ta muốn trồng lúa mà gieo hạt mè thì không lên được cây lúa. Nhân và quả phải theo nhau thì sự tu hành mới đạt đến cứu cánh. Nhưng lâu nay chúng ta tu cầu Niết-bàn vô sanh tức không sanh tử, hoặc cầu thành Phật là giác ngộ viên mãn, mà luôn đem tâm phân biệt sanh diệt để cầu. Lấy nhân sanh diệt để cầu quả không sanh diệt để cầu. Lấy nhân sanh diệt để cầu quả không sanh diệt là sai lầm lớn. Do đó Phật dạy chúng ta phải chọn lựa nhân tương ưng với quả thì sự tu mới thành tựu viên mãn.

Này A-nan, nếu nơi nhân dùng tâm sanh diệt làm gốc tu hành mà cầu Phật thừa chẳng sanh chẳng diệt thì thật là vô lý.

Nếu dùng tâm sanh diệt làm nhân tu thì nhất định kết quả là sanh diệt luân hồi. Sanh diệt thiện thì luân hồi được phước lành, sanh diệt ác thì luân hồi khổ, dù lành hay khổ đều vẫn ở trong luân hồi. Đức Phật nêu ra cụ thể cho chúng ta thấy biết rõ để khỏi lầm lẫn khi tu.

Do nghĩa ấy, ông phải xem xét rõ các pháp tạo các của khí thế gian đều theo sự đổi thay hoại diệt.

Thế gian gồm có hữu tình thế gian và khí thế gian. Hữu tình thế gian chỉ cho con người, khí thế gian chỉ cho ngoại cảnh. Phật dạy ngài A-nan phải dùng trí soi sáng thấy rõ các pháp tạo tác trong thế gian này đều thuộc về biến diệt.

Này A-nan, ông xem những pháp tạo tác ở thế gian, có cái gì không hoại, nhưng trọn không nghe nói hư không bị hư hoại. Vì sao? Vì hư không không phải pháp tạo tác do đó trước sau không bị hoại diệt.

Tất cả pháp thế gian, dù to như quả núi cũng đều tan hoại, nhưng chưa bao giờ nghe hư không hoại. Cái gì có tạo tác, có hình tướng cụ thể thì cái đó bị hư hoại, còn hư không không thuộc pháp tạo tác nên trước sau không bị hoại diệt. Khi tu tập, nếu dùng tâm sanh diệt để tu thiện, cũng đều thuộc sanh diệt. Dù là làm phước, tụng kinh cũng trong sanh diệt.

Thế nào là nhân không sanh diệt? Ví dụ như khi thấy cành hoa chỉ là thấy chứ không nghĩ suy, thương ghét. Cái thấy này không do ai làm ra. Có làm ra tức thuộc hư vọng, ngược lại là không hư vọng. Cho đến cái nghe của tai, nếm của lưỡi, xúc chạm của thân... trong đó đều có hai phần, một phần sanh diệt và một phần không sanh diệt. Nếu chúng ta theo phần sanh diệt tức đi trong sanh tử luân hồi, nếu theo phần không sanh diệt thì được vô sanh diệt. Vô sanh đó chúng ta vốn sẵn có, gọi là bản giác, bây giờ tu mới thức tỉnh trở về, gọi là thủy giác. Thủy và Bản hợp nhất là viên mãn.

Khi sáu giác quan tiếp xúc với sáu trần, nếu hằng sống với tánh bất sanh bất diệt, đó là lấy nhân vô sanh mà tu. Nhân vô sanh này từ đức Phật đến chúng ta ai cũng có, chỉ vì chúng ta không nhớ biết. Ngược lại nếu dùng tâm sanh diệt mà tu thì quả sanh diệt không thể tránh khỏi.

Trong thân ông, tướng cứng là đất, ẩm ướt là nước, hơi ấm là lửa, dao động là gió. Do bốn thứ trói buộc này, phân chia Diệu giác minh tâm trong lặng trùm khắp của ông thành thấy nghe hiểu biết, từ đầu đến cuối tạo nên năm lớp vẩn đục.

Đức Phật chỉ ta nơi bản thân chúng ta cái gì là sanh diệt, rồi tìm ra trong đó cái không sanh diệt để ứng dụng tu. Tứ đại là tướng sanh diệt, ràng buộc tâm thể sáng suốt chân thật, làm cho tâm bị phân chia nơi các căn, có các thấy nghe hiểu biết, năm lớp chất chồng thành ra vẩn đục. Tuy nhiên, những thấy nghe hiểu biết đó gốc đều từ diệu giác minh tâm trong lặng trùm khắp, nên trong đó đều có một phần của tâm giác này.

Tứ đại hoại diệt nhưng phần tâm tánh sáng suốt thì không hoại diệt. Vì vậy nếu chúng ta biết sử dụng cái không hoại diệt mà tu thì đó là dùng nhân không sanh diệt để cầu quả không sanh diệt, nhân quả tương ưng.

Từ đầu đến cuối, năm lớp chồng chất thành ra ô trược. Trong kinh Di-đà có nói đến ngũ trược ác thế, ở đây đức Phật lần lượt giải thích cho thấy rõ những gì gọi là năm thứ ô trược.

Thế nào là vẩn đục? Này A-nan, ví như nước trong vốn sẵn là trong sạch, các thứ bụi đất tro cát kia bản chất là ngăn ngại. Hai pháp thể như vậy, tánh không hợp nhau. Có người thế gian lấy đất bụi kia để vào nước trong thì đất mất tánh chất ngăn ngại, còn nước mất tánh trong sạch. Tướng trạng nhơ bẩn gọi đó là vẩn đục. Năm lớp trược của ông cũng lại như thế.

Trược là vẩn đục chứ không phải là xấu xa hèn hạ. Thế nào là vẩn đục? Do hai thứ, nước trong sạch và bụi bẩn hòa hợp mà mất bản chất sẵn có của nó, gọi là vẩn đục. Đó là năm lớp trược của mỗi người chứ không phải nói thế gian này trược.

Này A-nan, ông thấy hư không khắp cả mười phương thế giới mà chẳng phân ra hư không và cái thấy. Có hư không mà không hình thể, có thấy mà không giác, hai thứ đan dệt với nhau mà vọng thành, ấy là lớp thứ nhất gọi là kiếp trược.

Như chúng ta nhìn khắp bầu trời thấy hư không trống rỗng, cái thấy của mình với hư không hòa vào nhau, bởi hòa nhau nên mới khắp hết. Có hư không mà không hình thể, vì hư không là rỗng rang không tướng. Cái thấy cũng không có tướng mạo và không thấy chỉ là thấy chứ không phải là giác. Cái thấy lẫn với hư không, hai cái không có tướng mạo đó đan kết với nhau vọng thành lớp trược thứ nhất là kiếp trược.

Kiếp trược là kiếp vẩn đục, không còn trong sạch, vì không còn cái thể riêng biệt, do hư không và cái thấy của con người đã hòa lẫn vào nhau. Như trong ví dụ trước, nước và đất hòa nhau nên mất tánh trong của nước và mất chướng ngại của đất. Do không còn thể riêng nên gọi là trược.

Kiếp thuộc về thời gian, thời gian không có hình tướng, chỉ do con người tưởng tượng đặt ra. Kinh Kim Cang nói "quá khứ tâm bất khả đắc". Tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được. Nếu phá được ba thời tức phá được kiếp trược, chưa phá được ba thời là còn mắc kẹt trong kiếp trược.

Thân ông hiện nắm giữ bốn đại làm thể. Thấy nghe hiểu biết bị che lấp khiến thành ngăn ngại, còn đất nước gió lửa lại trở thành có hiểu biết. Hai thứ cùng đan dệt với nhau mà vọng thành, ấy là lớp thứ hai gọi là kiến trược.

Thân ta gom bốn đại làm thành hình tướng, cái thấy nghe hiểu biết bị chúng che đậy khiến cho tứ đại trở lại có những cảm giác hiểu biết. Đất nước gió lửa là vô tri, còn thấy nghe hiểu biết là hữu tri, cái vô tri hòa với cái hữu tri đan kết với nhau mà vọng thành lớp thứ hai, gọi đó là kiến trược. Do bị hòa lẫn không còn nguyên vẹn cái thể riêng biệt nữa nên gọi là trược. Chữ "kiến" là nói chung cho kiến, văn, giác, tri.

Lại nữa, trong tâm ông do nhớ, biết, học tập, tánh phát ra thấy biết, dung hợp với sáu trần hiện tại. Lìa trần thì không có tướng, lìa hiểu biết thì không có tánh. Hai thứ đan dệt với nhau mà vọng thành, đó là lớp thứ ba gọi là phiền não trược.

Ý thức chúng ta nhớ, nghĩ, phân biệt, hoặc lặp đi lặp lại, ôn tới nghĩ lui những sự việc đã xảy ra để ghi nhớ trong lòng, đó là nhớ những tướng của sáu trần. Tánh phát ra thấy biết, dung hợp với sáu trần. Nếu rời sáu trần thì không có tướng, còn lìa hiểu biết thì không có tánh. Như vậy ở ngoài là trần, ở trong là hiểu biết, hai thứ hòa lẫn đan kết với nhau thành lớp trược thứ ba, gọi là phiền não trược.

Tất cả phiền não có đều từ sáu trần: mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý duyên theo pháp trần. Nghe nói trái tai thì giận, thấy việc trái mắt liền giận... Từ thấy nghe mà có phiền não. Như vậy, phiền não là do sáu trần với tâm thức đan kết nhau mà thành. Không đợi giận buồn yêu ghét mà khi nghĩ nhớ quá khứ vị lai cũng thuộc phiền não trược.

Phiền não trược là hư vọng, nhưng nó có mang cái biết, rời tánh giác không có nó, nên khi phiền não lặng xuống, không còn lẫn với sáu trần thì trở về tánh giác. Nên nói "Vô minh thật tánh tức Phật tánh".

Lại, ông sớm chiều sanh diệt không dừng, cái thấy biết thì muốn lưu lại ở thế gian, mà nghiệp vận chuyển thường đổi dời nơi các cõi. Hai thứ đan dệt với nhau mà vọng thành, đó là lớp thứ tư gọi là chúng sanh trược.

Mới nghe thấy dường như khó hiểu, nhưng nghiệm kỹ thì thật là hay. Thân chúng ta sớm chiều đổi thay, sanh diệt không dừng, nghiệp đẩy đi các cõi, mà tâm thì muốn giữ cho còn mãi ở thế gian. Hai thứ này mâu thuẫn, đan dệt nhau thành chúng sanh trược.

Tâm chúng ta luôn luôn mang tính chất mâu thuẫn, mâu thuẫn nội tại, mâu thuẫn với bản thân. Chúng ta muốn sống hoài, mà mỗi ngày qua thân mỗi già mòn, ngày tháng cứ trôi, tuổi đời chất chồng rồi cái chết đến. Do không được tự tại, muốn sống mà phải chết, đó là nỗi đau khổ của chúng sanh, nên gọi là chúng sanh trược. Khi thân tứ đại tan hoại thì nghiệp lôi đi cõi khác. Cũng do tâm luyến ái muốn giữ thân mà sanh trở lại. Mang thân nào cũng muốn giữ, rồi lại tạo nghiệp để bị nghiệp cuốn lôi. Cứ như vậy mà tạo nghiệp sanh tử hoài hoài, chúng sanh trược mãi mãi không dứt. Như chúng ta có khi hiền lành cũng có lúc hung dữ, có khi nghĩ thiện cũng có lúc nghĩ ác. Hiền và dữ không hợp nhau, thiện ác đối nghịch không thuận chiều. Đó là những hiện tượng mâu thuẫn nội tại không bao giờ hết, đưa đến khổ nên gọi là chúng sanh trược.

Thấy nghe của các ông, tánh vốn không khác, do các trần làm ngăn cách, vô cớ sanh ra khác. Trong tánh thì biết nhau, nhưng trong dụng lại trái nhau. Đồng và khác mất đi chuẩn đích, đan dệt nhau vọng thành lớp thứ năm, gọi là mạng trược.

Các thấy nghe hiểu biết của chúng ta, tánh không khác nhưng vì các trần cảnh làm ngăn cách rồi vô cớ thành khác: mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm... Đoạn sau đức Phật hỏi ngài A-nan: "Nếu sáu căn quyết định là sáu, thì khi ta vì ông nói pháp, trong sáu căn ông lấy cái gì lãnh thọ?" Ngài A-nan trả lời: "Con dùng tai nghe." Phật bảo: "Nếu tai tự nghe thì đâu quan hệ gì đến thân và miệng. Tại sao miệng lại hỏi nghĩa lý, thân đứng dậy kính vâng?" Như vậy nếu nghe là riêng của lỗ tai thì đâu dính tới mấy căn kia? Nhưng nghe rồi thì mấy căn kia hoạt động theo, như vậy tánh thật đâu có khác.

Như khi thấy người khác nhai trái me. Thấy đó là con mắt, con mắt thèm thì con mắt ra nước mắt, tại sao lưỡi lại chảy nước miếng? Như vậy rõ ràng là có liên hệ với nhau chứ không phải tách biệt. Trên thể tánh là đồng, còn kẹt nơi tướng thì có phân chia, trong tánh thì biết nhau nhưng nơi dụng lại trái nhau, mắt không thể nghe, tai không thể thấy... Mỗi căn có chỗ hợp riêng, rồi có tác dụng khác. Từ đó đồng và khác mất đi chuẩn đích. Hai cái này mâu thuẫn, vừa đồng vừa khác, đan dệt với nhau vọng thành lớp trược thứ năm gọi là mạng trược.

Tóm lại, ngũ trược là năm lớp do hư vọng hòa hợp mà thành: Từ cái thấy và hư không hòa hợp thành kiếp trược. Tứ đại hòa hợp với thấy nghe hiểu biết thành kiến trược. Ý thức ghi nhớ việc này việc kia, hợp với sáu trần mà thành phiền não trược. Nghiệp thì dời đổi, tâm và thân luôn luôn đổi thay, mà trong lòng cứ muốn giữ còn hoài, hai cái đó kết với nhau thành chúng sanh trược. Tánh thì đồng, dụng lại khác, đan kết nhau thành mạng trược.

Giải thích ngũ trược rồi, đức Phật dạy chúng ta tu:

Này A-nan, nay ông muốn khiến thấy nghe hiểu biết xa hợp với Thường Lạc Ngã Tịnh của Như Lai, trước phải chọn ra cội gốc sanh tử, nương nơi tánh chẳng sanh diệt, thành tựu tánh lặng lẽ trùm khắp. Dùng tánh lặng lẽ xoay cái sanh diệt hư vọng kia trở về bản giác. Được tánh giác không sanh diệt sáng suốt sẵn có làm tâm tu nhân, sau sẽ thành tựu viên mãn quả địa tu chứng.

Thân và thức là sanh diệt, nhưng trong đó có mang sẵn tánh viên trạm không sanh diệt. Hiện tại nơi chúng ta ai cũng có thấy nghe hiểu biết, nếu chạy theo vọng thức phân biệt sự vật, đó là hòa hợp với ngoại cảnh, là tướng sanh diệt. Vì vọng thức là phân biệt, mà phân biệt là động, đó là cội gốc của sanh tử.

Bây giờ tu, phải nương tánh giác không sanh diệt tròn lặng sẵn có. Ngay nơi thấy nghe... đều có phần không sanh diệt và phần sanh diệt. Như khi mắt nhìn qua thấy tất cả đại chúng, giai đoạn đó chưa có thức phân biệt, nhìn biết tổng quát đó không động. Rồi khởi phân biệt đây là A là B, là tốt là xấu... lúc đó là động. Không động gọi là viên trạm, động gọi là thức. Thức thì sanh diệt, viên trạm không sanh diệt.

Nếu muốn tu đến chỗ không sanh diệt, phải dùng phần lặng lẽ ở mắt, tai, mũi, lưỡi... làm nhân tu, xoay cái sanh diệt hư vọng trở về với tánh giác ban đầu. Đó là lấy không sanh diệt làm nhân tu hành, thì mới chứng được quả không sanh diệt. Nếu dùng thức sanh diệt để tu, không bao giờ được quả không sanh diệt.

Cho nên các thiền sư thường nói "thấy như mù, nghe như điếc". Tại sao nghe mà như điếc? Bởi vì nghe mà không khởi phân biệt, tức không có dụng sanh diệt của thức. Nghe chỉ là nghe, đó là tánh viên trạm ở tai. Thấy chỉ là thấy, không khởi phân biệt, đó là tánh viên trạm ở mắt. Các ngài sống với sáu căn trong lặng hồn nhiên, lấy đó làm nhân tu thì mới đến được quả bất sanh bất diệt. Nên nói các thiền sư giống như trẻ thơ, nghĩa là hồn nhiên thấy nghe, đói ăn mệt nghỉ.

Ở đoạn trước Phật có nói mặt trăng thứ hai kế cận với mặt trăng thật, do ấn mắt mà thấy mặt trăng lòe ra có cái thứ hai. Nếu nhìn xuống bóng trăng dưới nước thì không bao giờ thấy mặt trăng thật, còn mặt trăng thứ hai kế cận trăng thật, rất gần. Bóng trăng dụ cho thức phân biệt sanh diệt, còn mặt trăng thứ hai dụ cho tánh sáng suốt trong lặng bị tứ đại phân cách. Từ tánh viên trạm tròn đầy mà phân cách từng phần. Bây giờ lấy từng phần của tánh viên trạm đó, xoay trở về hoàn toàn nguyên thể của nó là được quả chứng. Như vậy nhân với quả mới phù hợp nhau.

Hiểu như vậy mới thấy thiền rất phù hợp với kinh. Học thiền mà không học kinh là một khuyết điểm lớn, không biết tu cách nào, không biết đang tu tới đâu. Chúng ta thường nói tánh thấy tánh nghe là thật, nhưng có khi các thiền sư cũng quở là chưa phải, đó chỉ là cái nhân thôi, chưa phải chỗ cứu cánh. Dù nhận ra mình có cái thấy nghe không sanh diệt, cũng chỉ mới là nhân ban đầu, quả cứu cánh vẫn còn xa.

Khi nói về ngũ trược, đức Phật đã vạch ra trong đó cái gì là hư là thật, là sanh diệt là không sanh diệt, mỗi người chọn lấy một nhân để ứng dụng tu. Đến đây Phật lại chỉ cách tu hết sức đơn giản và cụ thể rõ ràng.

Như lóng nước đục, đựng trong một món đồ để yên, để yên lâu không động thì cát đất tự chìm xuống, nước trong hiện ra, gọi là bước đầu hàng phục khách trần phiền não.

Đây là chặng thứ nhất, dẹp khách trần phiền não. Những thấy nghe hiểu biết đan kết với ngoại trần, thành ra ngàu đục. Tâm duyên theo ngoại cảnh rồi sanh buồn thương giận ghét, đó là phiền não. Do chạy theo ngoại cảnh mà phiền não khởi, nên gọi là khách trần phiền não. Khi tu phải dừng vọng, không chạy theo nữa, để cho nó lặng xuống, yên tĩnh lâu rồi tâm được sáng suốt. Đó là giai đoạn một, dẹp được lớp phiền não ban đầu, không bị ngoại cảnh lôi cuốn nữa.

Khi ta ngồi yên một lát mà không có niệm nào, đó là mới tạm lặng, như bụi đất mới lắng xuống đáy lu thôi, nếu quậy thì nó cũng đục trở lại. Bởi vậy khi ngồi thiền được yên hoặc lúc ở trong thất tâm an tịnh, thấy tánh thiện quá, cả ngày không có tí phiền não nào, tưởng đâu là hay rồi. Nhưng sau đó thì đâu cũng vào đấy, gặp việc vẫn sân si như cũ. Khi không động thì yên lắng, lúc động vọng niệm liền nổi lên, đây mới là giai đoạn một, chưa được trọn vẹn.

Kế lọc bỏ bùn đất, còn toàn là nước trong, gọi là hằng đoạn cội gốc vô minh.

Đây là giai đoạn thứ hai, hằng đoạn cội gốc vô minh. Khi nước đá lóng trong, dưới đáy là bùn đất, chúng ta gạn nước trong qua một món đồ khác, bỏ đi phần cặn đục. Bây giờ nước hoàn toàn trong, dù có quậy cũng không đục lại. Đó mới gọi là dứt được cội gốc vô minh. Đây chỉ cho những người tu tâm đã hoàn toàn thanh tịnh, mọi thứ phiền não đều tiêu sạch.

Tướng sáng suốt tinh thuần, tất cả biến hiện mà không bị phiền não, đều hợp với diệu đức thanh tịnh của Niết-bàn.

Đến giai đoạn thứ ba, nước hoàn toàn trong, hiện rõ cây cối trời mây. Lúc đó dù làm tất cả Phật sự, lo tất cả việc thế gian, tâm vẫn không bị phiền não dấy động, hợp với diệu đức thanh tịnh Niết-bàn. Đây là giai đoạn viên mãn, diệu dụng bất tư nghì.

Như vậy, phải qua ba giai đoạn chứ không phải một. Ngồi tu được yên chưa phải là xong, chừng nào đụng chạm u đầu sứt trán vẫn cười, không một chút phiền não thì khả dĩ được giai đoạn thứ hai. Đến lúc làm tất cả Phật sự, cứu giúp chúng sanh không mệt mỏi, làm gì cũng hợp với diệu đức Niết-bàn mới thật là viên mãn.

Ba giai đoạn như vậy, chúng ta học rồi mới thấy rõ con đường tu của mình, biết mình đang ở chặng nào. Nếu không học, nhiều khi tu được chút ít đã tưởng mình là thánh rồi hài lòng, tự khen. Bao nhiêu người tu lạc lối không đến nơi là tại chỗ đó. Do vậy những ai muốn tu, cần phải học cho thật kỹ lời Phật dạy, để biết rõ đường lối tu, khi tu mới không ngại, không sợ bị lạc.

2. Cội gốc phiền não

Nghĩa thứ hai là, các ông ắt muốn phát tâm Bồ-đề, đối với Bồ-tát thừa sanh đại dõng mãnh, quyết định dẹp bỏ các tướng hữu vi, phải nên xét kỹ cội gốc phiền não. Cội gốc này phát nghiệp và nhuận sanh, từ vô thủy đến nay, ai làm ai chịu? Này A-nan, ông tu đạo Bồ-đề, nếu không xem xét cội gốc phiền não thì không thể nào biết căn trần hư dối điên đảo ở chỗ nào. Chỗ điên đảo còn không biết thì làm sao mà hàng phục để vượt quả vị Như Lai!

Cội gốc phát ra nghiệp là vô minh, gọi là phát nghiệp vô minh, tức do mê lầm mà khởi nghiệp. Khởi nghiệp rồi ái thủ hữu tiếp nối làm cho tương tục gọi là nhuận sanh vô minh, tức thấm ướt hạt giống của quá khứ khiến chúng hiện hành.

Chúng ta phải biết rõ căn bản phiền não từ đâu phát, phát ra như thế nào, ai tạo ra và chịu kết quả của nó? Nếu không biết được cội gốc phiền não thì không thể biết được căn trần hư dối điên đảo ở chỗ nào. Chỗ điên đảo còn không biết huống là hàng phục được điên đảo, không hàng phục được điên đảo thì làm sao đạt quả vị Phật.

Này A-nan, ông xem ở thế gian, người mở gút nếu không thấy được chỗ thắt gút, làm sao biết mở?

Mở là giải, giải được thì thoát. Kết phược tức phiền não cột trói, giải thoát là mở những cột trói đó. Chúng ta tu muốn giải thoát cần phải biết cái gì cột trói, cột trói ở chỗ nào. Nếu không thấy chỗ thắt gút thì không tài nào mở được.

Chẳng từng nghe nói hư không bị ông làm cho tiêu hoại. Vì sao? Vì hư không có hình tướng nên không có thắt mở. Hiện nay mắt tai mũi lưỡi thân ý của ông, sáu thứ đó làm môi giới cho giặc, tự cướp gia bảo của ông. Do đây từ vô thủy chúng sanh trong thế giới sanh ra những trói buộc nơi khí thế gian, không thể nào vượt khỏi được.

Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý làm môi giới cho giặc, cướp của báu nhà mình. Bản tâm trong sáng của chúng ta bị sáu thứ này dẫn giặc vào cướp. Mắt vừa thấy hình sắc liền khởi phân biệt bị sắc dẫn đi. Tai nghe tiếng khởi phân biệt, mũi lưỡi thân ý duyên theo các trần, bị cột trói nơi trần cảnh quên mất bản tâm viên trạm, nên nói là mất của báu nhà mình.

Sáu căn đuổi theo sáu trần là cội gốc phiền não. Nếu không biết cội gốc phiền não thì làm sao tu được, vì vậy Phật dạy ngay nơi sáu căn mà tu. Mắt thấy sắc không đuổi theo sắc khởi phân biệt là tu về nhãn căn. Tai nghe tiếng không khởi phân biệt theo tiếng là tu về nhĩ căn v.v... Đó là trở về, còn đuổi theo là gốc phiền não.

Người nào đuổi theo sắc thanh hương... thì người đó phiền não dài dài không bao giờ hết. Nghiệm lại xem tất cả chúng ta vui buồn từ đâu mà ra? Vui từ những điều được thỏa mãn, buồn vì không như ý. Như mắt vừa thấy sắc đẹp, ý liền khởi ham muốn được có. Được thì vui, không được thì buồn. Nhưng khi được rồi lại sợ bị mất, nên chăm chăm gìn giữ sanh lo âu phiền khổ. Nếu mất mát thì phiền não nhiều hơn. Chưa được thì phiền não, được rồi cũng phiền não, mất đi càng phiền não, cả ba thời đều phiền não.

Tóm lại, sáu căn là gốc của phiền não nên phải ngay đó mà mở. Do chỗ thắt gút này mà từ vô thủy cho tới ngày nay chúng sanh bị trói buộc nơi khí thế gian không gỡ ra được, cứ quanh đi quẩn lại trong vòng luân hồi, tiếp nối liên tục không dừng, không thể nào vượt ra khỏi.

Này A-nan, thế nào gọi là chúng sanh và thế giới? Thế là dời đổi, giới là phương vị (chỗ nơi). Nay ông nên biết các phương: đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, phương trên, phương dưới là giới. Quá khứ, hiện tại, vị lai là thế. Phương vị có mười, số lưu chuyển của thời gian có ba. Tất cả chúng sanh đan dệt các hư dối mà cùng thành, trong thân đổi dời, thế và giới liên quan nhau. Tánh giới này tuy đặt ra có mười phương, định vị rõ ràng, nhưng người thế gian chỉ nói phương đông, phương tây, phương nam, phương bắc. Phương trên, phương dưới vị trí không rõ ràng, còn ở giữa thì không có chỗ nhất định.

Thế là thời gian, có ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Giới là không gian, gồm đủ mười phương, tuy nhiên người thế gian chỉ sử dụng có bốn phương, còn phương trên phương dưới không lập, khoảng giữa thì không có vị trí nhất định. Chúng ta thường nghĩ trên là trời dưới là đất, nhưng trái đất đang quay thì trên và dưới làm sao xác định, cho nên chỉ nói có bốn phương. Như vậy nói thế giới là gồm cả không gian và thời gian.

Số bốn ắt đã rõ, hợp cùng với thế, ba nhân bốn, bốn nhân ba, xoay vần thành mười hai. Chuyển biến ba lớp: từ một thành mười hai, thành trăm, thành ngàn. Tổng quát trước sau, trong sáu căn, mỗi căn có một ngàn hai trăm công đức.

Đức Phật chọn căn cho chúng ta tu, tức là chọn cửa để chỉ chỗ vào. Mỗi căn có một ngàn hai trăm công đức, căn nào đầy đủ gọi là viên mãn.

Này A-nan, trong sáu căn đó, ông lại xét định xem chỗ hơn kém. Như con mắt xem thấy phía sau thì tối, phía trước sáng, phía trước hoàn toàn sáng, phía sau hoàn toàn tối. Nhìn sang hai bên phải trái thì được hai phần ba. Nói chung, công đức tạo thành không được hoàn toàn: ba phần là công, còn một phần không có đức. Nên biết nhãn căn chỉ có tám trăm công đức.

Con mắt chúng ta nhìn phía trước thấy toàn vẹn, phía sau không thấy gì, nhìn ngang hai bên chỉ thấy hai phần ba. Vậy nên nhãn căn chỉ được tám trăm công đức.

Như lỗ tai nghe khắp mười phương không sót, động thì như có gần có xa, tịnh thì không bờ mé. Nên biết nhĩ căn tròn đầy một ngàn hai trăm công đức.

Tiếng động xa nghe nhỏ, gần nghe to, yên tịnh thì nghe không giới hạn, đều nghe được tất cả không bị trở ngại ở phía nào. Vì vậy nhĩ căn đủ một ngàn hai trăm công đức.

Như lỗ mũi ngửi mùi, hơi thở ra vào thông suốt. Có ra có vào mà thiếu khoảng giữa. Nghiệm xét căn mũi ba phần thiếu một. Nên biết tỹ căn chỉ có tám trăm công đức.

Khoảng giữa là chỗ dừng giữa hơi thở ra và hơi thở vào, vì vậy hơi thở ra có vào nhưng thiếu chặng giữa nên tỹ căn chỉ có tám trăm công đức.

Như cái lưỡi tuyên nói tột cùng trí tuệ thế gian và xuất thế gian. Lời nói có chừng hạn nhưng nghĩa lý thì không cùng tận. Nên biết thiệt căn tròn đủ một ngàn hai trăm công đức.

Vì thiệt căn sử dụng được tròn đủ một ngàn hai trăm công đức, nên những vị tu hành thuyết pháp như ngài Phú-lâu-na... đều có công đức lớn.

Như thân cảm giác xúc chạm, biết sự trái thuận, khi hợp thì hay biết, lúc lìa ra không biết. Lìa ra chỉ có một, hợp thì có hai. Nghiệm xét thân căn, ba phần thiếu một. Nên biết thân căn chỉ có tám trăm công đức.

Khi tay nắm bả vai thì tay biết, bả vai cũng biết, đó là hợp thì có hai. Lúc lìa ra không biết nên nói lìa ra chỉ có một. Thế nên thân căn chỉ có tám trăm công đức.

Như ý căn thầm lặng dung chứa tất cả pháp thế gian xuất thế gian trong mười phương ba đời. Dù phàm hay thánh cũng đều bao dung, tột cùng không có bờ mé. Nên biết ý căn tròn đủ một ngàn hai trăm công đức.

Ý nghĩ về Phật liền thấy Phật, nghĩ về chúng sanh liền thấy chúng sanh, ý nghĩ cái gì thì hiện cái ấy nên nói bao dung, tột cùng không có bờ mé. Vì vậy ý căn có đủ một ngàn hai trăm công đức.

Phật phân tích kỹ, tai lưỡi và ý đủ một ngàn hai trăm công đức, còn mắt mũi và thân chỉ có tám trăm công đức, để chúng ta biết rõ mà chọn căn tu tập.

Này A-nan, nay ông muốn ngược dòng sanh tử, trở lại cùng tột cội gốc lưu chuyển, đến chỗ không sanh diệt, thì phải nghiệm xét sáu căn đang thọ dụng này, cái gì hợp cái gì ly, cái gì sâu cái gì cạn, cá gì viên thông cái gì không viên mãn. Nếu hay nơi đây ngộ được căn viên thông, ngược dòng nghiệp hư dối đan dệt từ vô thủy, được theo tính viên thông thì cùng với sự tu tập nơi căn không viên thông kết quả gấp bội, một ngày bằng một kiếp.

Tu căn viên thông một ngày bằng tu căn không viên thông một kiếp, cho nên Phật chỉ ra căn nào viên thông để chúng ta tu không mất thời gian, còn các căn không viên thông tu cũng được nhưng chậm.

Nay ta hiển bày đầy đủ số lượng những công đức vốn có của sáu căn lặng lẽ tròn sáng như thế. Tùy ông khéo chọn lựa cái nào có thể vào, ta sẽ phát minh khiến cho ông tăng tiến.

Học kinh Lăng-nghiêm chúng ta thấy đường hướng tu hành có cội nguồn rõ ràng, Phật và Tổ chỉ dạy không khác, đều lấy nhân vô sanh để đi tới quả vô sanh.

Niệm dấy lên liền thấy biết niệm, niệm là ý sanh diệt còn thấy được niệm là tánh biết. Vọng khởi rồi mất chứ cái biết vọng không mất, đây là trở lại tánh thật của chính mình, đó là tu ngay ý căn. Như vậy thiền mà chúng ta đang tu chính là chọn ý căn viên thông, lấy đó làm nhân để tu cho tới viên mãn hạnh quả.

Ngài Huệ Khả thưa với tổ Bồ-đề-đạt-ma: Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm. Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho. Ngài Huệ Khả sửng sốt, xoay lại tìm tâm bất an không thấy. Tâm lăng xăng bất an ấy là ý. Ý dấy niệm là động, còn cái biết tìm lại nó thì không động. Đây chính là pháp tu ý căn viên thông, nghĩa là thấy rõ những niệm sanh khởi của ý thức, bởi cái thấy này là phần viên trạm của ý.

Các đức Như Lai trong mười phương đối với mười tám giới, mỗi giới tu hành đều được viên mãn Vô thượng Bồ-đề, ở trong các giới kia cũng không có hơn kém. Chỉ vì ông hạ liệt, chưa thể ở trong đó được tròn đủ tuệ tự tại, nên ta mới nêu bày khiến cho ông chỉ cần thâm nhập nơi một căn. Vào được một căn không còn vọng tưởng, thì sáu căn hiểu biết kia đồng thời được thanh tịnh.

Chư Phật trong mười tám giới, giới nào cũng tu được, viên mãn không trở ngại. Ngài A-nan và chúng sanh đời mạt pháp do căn tánh hạ liệt nên phải nương một cửa để vào, nơi một căn không còn vọng tức sáu căn kia đồng thời thanh tịnh. Hiện nay chúng ta tu nhìn thẳng chỗ niệm khởi, khi niệm lặng rồi ý căn thanh tịnh thì năm căn kia cũng đồng thanh tịnh. Như nhà có sáu cửa, không thể vào sáu cửa một lượt nên phải chọn một cửa để vào nhà.

Phật nêu lên hai nghĩa quyết định, người tu không thể thiếu:

- Nghĩa quyết định thứ nhất, phải biết lựa chọn nhân bất sanh bất diệt, tương xứng với quả Bồ-đề bất sanh bất diệt.

- Nghĩa quyết định thứ hai, phải biết căn bản phiền não xuất phát từ sáu căn. Trong sáu căn mỗi căn lại có hai phần, một phần là thức sanh diệt đuổi theo sáu trần, một phần là tánh viên trạm tròn lặng không sanh diệt, gọi là tánh thấy nghe. Nếu chạy theo thức thì sáu căn là cội gốc của phiền não, còn biết tu thì nơi sáu căn xoay lại chỗ viên trạm của nó, tức là lấy nhân không sanh diệt làm chỗ tu chứng trở về giác ngộ, được quả vị Như Lai. Như vậy sáu căn là môi giới của giặc, sáu căn cũng là chỗ để trở về giác ngộ.

Chúng ta thấu hiểu những lời Phật dạy liền thấy rõ đường mình đi. Nếu tu mà không biết được nhân nào đưa đến quả đúng như sở nguyện của mình, không biết cội gốc phiền não ở đâu thì làm sao tu, làm sao dẹp. Không biết tu không biết dẹp vậy tu để thành cái gì? Cho nên nói có đầy đủ Bồ-đề Niết-bàn, chân như Phật tánh... nhưng nếu không biết cội gốc tu hành thì làm sao được Bồ-đề Niết-bàn? Chẳng khác nào nói thức ăn ngon mà không ăn nên bụng vẫn đói. Vì vậy tu hành phải thực tế, phải nắm vững đâu là gốc của sự tu.

Ở những kinh khác, Phật nói cội gốc phiền não là vô minh, tức nhằm vào căn bản vô minh. Trong kinh này Phật nói cội gốc phiền não là sáu căn, tức nhằm vào nhuận sanh vô minh. Nhuận là thấm ướt, sanh là phát sanh, tức những phiền não lầm mê thấm ướt hạt giống của quá khứ, giúp cho tăng trưởng khiến sanh ra hiện hành. Nếu chuyển được sáu căn thì cội gốc phiền não không còn.

A-nan bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn, thế nào là ngược dòng vào sâu trong một căn, hay khiến cho sáu căn đồng thời thanh tịnh?

Ngược dòng tức không chạy theo duyên trần bên ngoài, mà trở về với tánh nghe tánh biết của mình, khi ngược dòng vào sâu trong một căn thanh tịnh thì sáu căn cũng đồng thời thanh tịnh.

Phật bảo A-nan:

- Nay ông đã được quả Tu-đà-hoàn, đã diệt trừ những mê lầm kiến chấp của chúng sanh và thế gian trong ba cõi, do thấy đạo mà dứt (kiến sở đoạn), nhưng vẫn chưa biết những tập khí hư vọng chứa nhóm trong căn từ vô thủy. Những tập khí hư vọng kia, phải nhân tu mới đoạn được (tu sở đoạn).

Chứng quả Tu-đà-hoàn thấy được đạo nên hết những mê lầm kiến chấp. Ngài A-nan nhờ nghe Phật giảng dạy mà ngộ được pháp thân, đó cũng thuộc về kiến sở đoạn. Nghĩa là những cái thấy điên đảo từ trước đến ngang đây đứt. Như lâu nay chúng ta thường nghĩ thân này vô thường hoại diệt là hết, nhưng bây giờ nghe Phật dạy tánh thấy nghe không mất, chúng ta nhận được liền dứt trừ được chỗ thấy điên đảo, không còn mê lầm. Đó gọi là đoạn kiến hoặc.

Tuy dứt trừ kiến hoặc không còn thấy điên đảo mê lầm, nhưng tập khí tham sân si huân tập từ trước đến nay vẫn chưa hết, tức là tư hoặc chưa đoạn, phải nhờ công phu tu tập mới loại trừ lần lần, đây gọi là tu sở đoạn. Đoạn được kiến hoặc chứng Tu-đà-hoàn còn phải bảy lần trở lại tu tập tiếp nữa mới sạch hết phiền não, chứng A-la-hán.

Huống nữa, trong đây sự phân chia số mục sanh trụ dị diệt còn rất nhiều.

Trong đây chỉ cho ba cõi thế gian, phân chia số mục của những pháp sanh, trụ, dị, diệt còn rất nhiều, ngài A-nan cũng chưa biết.

Nay ông hãy xem xét, sáu căn hiện tiền là một hay là sáu? Này A-nan, nếu nói là một thì lỗ tai sao chẳng thấy, con mắt sao chẳng nghe, đầu sao chẳng đi, chân sao chẳng nói? Nếu sáu căn này quyết định thành sáu, thì như nay ta ở trong hội vì các ông tuyên dương pháp môn vi diệu, vậy trong sáu căn của ông, cái nào đến lãnh thọ?

A-nan thưa: - Con dùng lỗ tai để nghe.

Phật bảo: - Tai ông tự nghe, đâu quan hệ gì đến thân và miệng, mà miệng lại hỏi nghĩa, còn thân đứng lên cung kính?

Nói một không được, sáu cũng không được. Lâu nay chúng ta cứ nhìn một chiều, hoặc là một hoặc là sáu. Nếu sáu căn cách biệt thì cái nào có phận sự cái ấy, nhưng nay tai vừa nghe, miệng liền hỏi, tức cái này có liên hệ với cái kia, làm sao nói sáu căn riêng biệt được.

Thế nên phải biết: chẳng phải một mà trọn là sáu, chẳng phải sáu mà trọn là một. Rốt cuộc các căn của ông vốn chẳng phải một hay là sáu.

Có thể là một mà cũng có thể là sáu, không cố định. Nếu chấp cố định là đã sai lầm.

A-nan, nên biết căn ấy chẳng phải một chẳng phải sáu. Do từ vô thủy đến nay điên đảo trầm luân, nên nơi tánh viên trạm (lặng lẽ trùm khắp) sanh ra nghĩa một và sáu.

Từ vô thủy đến nay, do những điên đảo trầm luân, mà nơi tánh viên trạm chân thật trong sạch sáng suốt của chính mình sanh ra nghĩa sáu. Thế nên phải một cũng không phải sáu. Nói sáu là nói về dụng, còn nói một là nói trên thể. Nhưng sự thật, thể cũng không phải là một.

Ông đã chứng quả Tu-đà-hoàn, tuy đã tiêu được chấp sáu nhưng vẫn chưa quên một. Như hư không rộng lớn lẫn trong các món đồ, do hình trạng các đồ vật sai khác mà nói hư không khác nhau. Nếu bỏ các đồ vật, xem hư không, thì nói hư không là một. Hư không rộng lớn kia làm sao vì ông mà thành đồng hay chẳng đồng, huống nữa lại gọi là một, chẳng phải một! Ắt ông biết rõ sáu căn thọ dụng cũng lại như thế.

Ngài A-nan tuy đối với sáu biết là không thật nhưng vẫn còn nghĩ là một, nên đức Phật dùng ví dụ cụ thể để chỉ. Như hư không rộng lớn, nếu để các đồ vật vuông, tròn, lớn, nhỏ... thì thấy hư không có vuông, tròn, lớn, nhỏ. Hư không vốn không vuông tròn mà trở thành vuông tròn vì bị hạn cuộc trong món đồ. Bởi có năm, sáu món đồ nên thấy năm, sáu hư không khác nhau.

Khi dẹp hết những món đồ ấy, chúng ta lại nghĩ hư không là một. Đó cũng là tưởng chấp của mình. Do đối với sáu nên nói một, chứ khi dẹp hết những món đồ thì hư không trùm khắp, không phải sáu, không phải một. Tánh giác cũng vậy, tròn đầy khắp giáp, nhưng khi bị cột dính với sáu căn trong vòng luân hồi thì tánh giác thênh thang đó biến thành những cái biết khác nhau. Biết ở mắt, biết ở tai, biết ở mũi, biết ở lưỡi v.v... Khi gỡ dính mắc nơi sáu căn rồi thì tánh giác không còn khác nữa. Hiểu được lý này mới biết tại sao sáu căn là một mà cũng là khác.

Do hai thứ sáng tối hiển bày nhau, ở trong tánh diệu viên làm dính khắn tánh trong lặng phát ra cái thấy. Tánh thấy đó soi rọi nơi sắc kết với sắc thành căn. Gốc của căn gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể con mắt, giống như trái nho. Căn thô phù do bốn trần hợp thành này giong ruổi chạy theo sắc.

Do tối và sáng ở bên ngoài bày hiện với nhau, làm dính khắn một phần tánh viên diệu, phát ra thành cái thấy. Như vậy cái thấy có mang một phần của tánh viên diệu. Cái thấy soi sáng sắc, kết hợp thành nhãn căn, khi thành nhãn căn rồi lại đuổi theo các sắc trần. Đây lớp dính khắn thứ nhất.

Do hai thứ động tịnh đối chọi nhau, ở trong tánh diệu viên làm dính khắn tánh trong lặng phát ra cái nghe. Tánh nghe soi rọi nơi tiếng quyện với tiếng làm thành căn. Gốc của căn gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể lỗ tai, giống như lá non cuộn lại. Căn thô phù do bốn trần hợp thành này giong ruổi chạy theo tiếng.

Do hai thứ thông bít phát hiện nhau, ở trong tánh diệu viên làm dính khắn tánh trong lặng phát ra cái ngửi. Tánh ngửi ánh hiện nơi mùi hương thu nhận mùi mà thành căn. Gốc của căn gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể lỗ mũi, giống như hai ngón tay duỗi xuống. Căn thô phù do bốn trần hợp thành này giong ruổi chạy theo mùi.

Do hai thứ lạt và có vị (đắng, ngọt, cay...) xen lẫn nhau, nơi tánh diệu viên làm dính khắn tánh trong lặng phát ra cái nếm. Tánh nếm rọi sáng nơi vị kết với vị mà thành căn. Gốc của căn gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân đó gọi hình thể của lưỡi, giống như trăng lưỡi liềm đầu tháng. Căn thô phù do bốn trần hợp thành này giong ruổi chạy theo vị.

Do hai thứ lìa hợp cọ xát nhau, nơi tánh diệu viên làm dính khắn tánh trong lặng phát ra cảm giác. Tánh của cảm giác này soi sáng nơi xúc nắm xúc thành căn. Gốc của căn gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân đó gọi thân thể, như dáng cái trống cơm. Căn thô phù do bốn trần hợp thành này giong ruổi chạy theo xúc.

Ngày xưa ở phường hát có cái trống cơm, hai đầu lớn giữa eo nhỏ, nên nói thân mình giống cái trống cơm.

Do hai thứ sanh diệt tiếp nối nhau, nơi tánh diệu viên làm dính khắn tánh trong lặng phát ra cái biết. Tánh biết này soi sáng nơi pháp gom pháp trần thành căn. Gốc của căn gọi là tứ đại thanh tịnh, nhân đó gọi ý suy nghĩ, như cái thấy trong nhà tối. Căn thô phù do bốn trần hợp thành này giong ruổi chạy theo pháp trần.

Đó là sáu căn thành hình từ hai cái đối đãi va chạm nhau, làm tánh diệu viên bị dính theo tứ đại phát thành căn. Tuy có chung một tánh sáng suốt tròn đầy nhưng vì bị dính với trần nên mỗi bộ phận có cái biết khác nhau, ở mắt thì thấy, ở tai thì nghe v.v... Còn những ý nghĩ của chúng ta thì thường mờ mờ ảo ảo, như trong nhà tối lờ mờ không thấy rõ.

Qua phần giải thích này, đức Phật chỉ rõ cho thấy nơi sáu căn của chúng ta có dính một phần không sanh diệt của tánh viên trạm. Cho nên đứng về tánh viên trạm thì không phải sáu, nhưng do bị dính khắn nên có thấy nghe riêng biệt thành sáu. Khi mở được sự dính khắn của sáu căn thì không còn sáu, nhưng lại tưởng là một. Sự thật sáu và một là đứng trên đối đãi mà có, về nguyên thể là tánh giác tròn đầy trong lặng.

Phật diễn đạt chỗ này rõ ràng để chúng ta nhận ra nơi mình có tánh viên trạm bị dính khắn ở sáu nơi. Sáu căn không khu biệt từng phần mà có liên hệ bên trong. Do đó gỡ một căn thì mấy căn kia đều thoát được, trở về tánh viên trạm trùm khắp, không còn bị dính khắn nữa. Chúng ta chỉ có một phần nhỏ xíu của tánh viên trạm bị dính khắn nơi sáu căn, gọi là thấy nghe hiểu biết. Vậy mà chúng ta hài lòng tự mãn với cái hiểu biết của mình. Nếu gỡ được cái dính khắn đó, thoát ra thì tánh viên trạm trùm khắp bất khả tư nghì.

Tu không phải là chuyện nhỏ nhoi hẹp hòi, chỉ biết làm chút ít điều lành bỏ chút ít điều ác gọi là tu. Tu không tầm thường như người thế gian thường nghĩ, mà phải làm sao gỡ được cái dính khắn của sáu căn, trở về tánh viên trạm trùm khắp, đó mới là công phu tu hành viên mãn. Nên nói, người tu phi thường ở chỗ làm một việc mà thế gian không bao giờ hiểu nổi.

Người đời cứ hài lòng tự mãn với chỗ thấy nghe hiểu biết của sáu căn, đến khi chết không biết sáu cái đó đi về đâu, rồi tưởng là hết. Còn chúng ta biết rõ nơi sáu căn chỉ dính khắn một phần nhỏ xíu của tánh viên trạm. Từ tánh viên trạm bị dính khắn nên kẹt ở sáu căn mà có ra sáu cái hiểu biết. Nếu gỡ được thì sáu cái trở về thể của nó, lúc đó mới trùm khắp nơi nào cũng có. Vậy mới thấy chỗ cứu cánh của đường tu.

Học kinh Lăng-nghiêm nếu chỉ học suông trên chữ nghĩa thì không thấy cái hay, không biết đường tu, còn hiểu cho thật thấu đáo sẽ thấy Phật dạy hết sức rõ ràng trong từng phần.

A-nan, như thế sáu căn do tánh giác minh kia soi lại minh giác, làm mất cái rõ biết trong sáng kia, dính khắn với vọng mà phát sáng.

Do bỉ giác minh hữu minh minh giác. Giác minh tức tánh biết vốn là bản giác, từ bản giác đó dấy vọng soi lại nó, vì vậy mà có năng sở. Do có năng sở nên mất tánh rõ biết tinh thuần, dính nơi vọng mà phát ra sáng.

Thế nên nay ông lìa tối và sáng thì không có cái thể thấy, lìa động và tịnh vốn không có nghe, không có thông và bít thì tánh ngửi không sanh, khôn có vị và lạt thì cái nếm không từ đâu ra, không có ly và hợp thì cảm xúc vốn không, không có sanh và diệt thì cái rõ biết nương gá vào đâu!

Ông chỉ không theo động tịnh, hợp ly, có vị và lạt, thông bít, sanh diệt, sáng tối, mười hai tướng hữu vi như thế, tùy nhổ được một căn khỏi dính khắn, nhiếp phục vào trong, nhiếp phục trở về tánh chân thật ban đầu, phát ra tánh sáng suốt sẵn có. Tánh sáng suốt được phát minh thì năm căn bị dính khắn khác liền được nhổ sạch, hoàn toàn giải thoát. Không do nơi tiền trần mà khởi thấy biết, cái sáng không theo căn, chỉ nương nơi căn mà sáng phát ra, do đó sáu căn có thể dùng thay lẫn nhau.

Không theo mười hai tướng hữu vi, tức là sáu căn không dính với sáu trần. Nếu nhổ được một căn không chạy theo tiền trần thì trở về tánh viên trạm liền được thanh tịnh. Trở về tánh viên trạm tức là nhổ được cái gốc dính khắn từ trước, hễ một căn thông suốt thì năm căn kia cùng được giải thoát. Lúc đó không đợi tiền trần mới có hiểu biết. Cái sáng đó là tánh chung, không dính ở căn, chỉ gá nơi căn mà phát ra, nên có thể dùng thay thế lẫn nhau. Con mắt có thể nghe, lỗ tai có thể thấy... gọi là lục căn hỗ dụng. Sỡ dĩ hiện nay các căn của chúng ta mỗi cái có phận sự riêng là vì bị dính khắn trong đó. Khi gỡ được dính khắn, xoay trở về thành cái thể chung rồi thì chỉ mượn căn mà phát ra diệu dụng.

Đoạn này đức Phật chỉ cho thấy, toàn thân chúng ta đều bị lệ thuộc vào trần cảnh, khi không có trần cảnh thì nói là không thấy không nghe. Một khi rõ được tánh biết hằng hữu nơi tai, có tiếng thì nghe có tiếng, không tiếng cũng nghe không tiếng, không kẹt trong động và tịnh, đó là thoát ra được cái dính khắn của tai. Đối với mắt cũng như vậy, không lệ thuộc nơi tối và sáng. Ý không lệ thuộc nơi dấy lên hay lặng xuống, lúc nào cũng một tánh biết rõ ràng không sanh diệt. Các căn khác cũng đều như vậy.

Mắt thấy tai nghe mà không lệ thuộc vào động tịnh, khen chê không dính... Sống được như vậy tức ở trong tự tánh định, nghĩa là hằng sống với tự tánh mình. Dù đi đâu, làm việc gì cũng là ở trong định. Không lệ thuộc, không chạy theo trần cảnh cũng không đem trần cảnh vào, hằng sống với tánh nghe tánh thấy của chính mình... gọi là nghịch lưu, tức ngược dòng. Lúc ấy tâm luôn thanh tịnh không còn phiền não, lúc nào cũng là thiền, đó là giải thoát.

A-nan, ông há không biết hiện nay trong hội này, ông A-na-luật-đà không con mắt mà vẫn thấy.

Ngài A-na-luật-đà mắt mù mà xem thấy tam thiên thế giới như xem trái cây trong lòng bàn tay. Con mắt hư rồi làm sao thấy được, vậy ngài thấy bằng cái gì? Không có con mắt vẫn thấy như thường, để chỉ lúc thoát sự dính khắn rồi thì sáu căn hỗ dụng, thiếu căn này vẫn sử dụng được căn khác.

Rồng Bạt-nan-đà không có tai mà vẫn nghe. Thần nữ Căng-già (thần sông Hằng) không có mũi mà vẫn ngửi được hương. Ông Kiều-phạm-bát-đề lưỡi khác người mà biết vị.

Trong kinh nói Kiều-phạm-bát-đề chứng A-la-hán, nhưng do đời trước tạo khẩu nghiệp nên lưỡi ngài giống như lưỡi trâu. Lẽ ra lưỡi trâu thì biết vị theo trâu, vậy mà ngài vẫn biết vị như mọi người.

Thần Thuấn-nhã-đa không thân mà có cảm xúc, ở trong ánh sáng của Như Lai khiến tạm hiện ra thân, chứ bản chất là gió, vốn không có hình thể. Trong hội này những vị Thanh văn đã được tịch tịnh trong diệt tận định, như ông Ma-ha Ca-diếp từ lâu đã diệt sạch ý căn mà vẫn rõ biết tròn sáng, không nhân nơi tâm niệm.

Thần Thuấn-nhã-đa là thần hư không, vốn không có thân, nhờ ở trong hào quang của Phật ánh ra thì tạm thấy có thân hiện, nhưng chỉ toàn là chất gió, vậy mà vẫn có cảm xúc. Có người lo ngại, bây giờ còn suy nghĩ thì còn biết, khi tu hết suy nghĩ chắc hết biết gì. Không ngờ chính do diệt được những sanh diệt của ý căn mà tánh viên minh hằng rõ ràng sáng tỏ.

Này A-nan, nay các căn của ông nếu đã nhổ sạch hoàn toàn thì cái sáng suốt bên trong phát sáng. Như thế các trần thô ở bên ngoài và các tướng biến hóa trong thế gian, giống như nước sôi làm tiêu băng, liền khi ấy hóa thành tri giác Vô thượng.

Như vậy muốn thành Vô thượng giác thì chọn một căn viên thông, tu cho tới chỗ thanh tịnh không còn dính kẹt nữa. Một căn thanh tịnh thì sáu căn kia cũng được thanh tịnh, tức đã nhổ gỡ hết dính khắn, không còn chạy theo ngoại trần. Lúc đó trong tâm phát ra sáng suốt, đối với các tướng biến hóa thế gian đều tiêu biến, giống như nước sôi đổ lên nước đá không có gì chướng ngại ngăn trở, trong một niệm thành tri giác Vô thượng, không phải chờ đợi xa xôi. Đó là lẽ thật của sự tu.

Sở dĩ chóng được giác ngộ là vì nơi sáu căn có niêm một phần tánh giác. Phần chân thật bị niêm đó chính là cái nhân không sanh diệt. Khi tu chúng ta xoay lại gỡ được cái dính khắn đó thì trở về tánh giác ngay.

Đoạn trên, đức Phật ví dụ về chư thần và chư vị A-la-hán, đến đây trở lại là nói về người thế gian.

Này A-nan, như người thế gian kia tụ cái thấy nơi con mắt, nếu bảo họ nhắm mắt lại thì tướng tối hiện ở trước, sáu căn tối mù, đầu và chân giống nhau. Người kia lấy tay rờ khắp ngoài thân, tuy không thấy được mà một khi rờ đầu, chân đều biện biệt rõ, tri giác là đồng.

Người ta thường nói thấy ở mắt, nhưng nếu nhắm mắt lại rồi lấy tay rờ khắp thân, con mắt tuy không thấy nhưng tay rờ tới đầu, tới chân đều biết, mà biết tức cũng như thấy. Cái biết của tay và biết của con mắt không khác nhau. Đức Phật dùng ví dụ đó để chỉ ra ngay nơi sáu căn có hỗ dụng.

Ngài Viên Trí Đạo Ngô hỏi thiền sư Vân Nham:

- Đại Bi ngàn tay mắt, vậy mắt nào là mắt chánh?

Thiền sư Vân Nham bảo:

- Như người ban đêm vói tay ra sau mò chiếc gối.

- Tôi hội rồi.

- Hội thế nào?

- Khắp thân là tay mắt.

Bồ-tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt, hay tất cả mọi người chúng ta đều có ngàn tay ngàn mắt. Khi nhắm mắt rờ đâu cũng thấy biết, như vậy nào phải chỉ mắt mới thấy. Hoặc khi nhắm mắt nhưng nghe phía đông phía tây có tiếng nói vang lại, chúng ta vẫn biết đó là tiếng người nam hay nữ, như vậy cũng là thấy. Hoặc như người mù thường có lỗ tai thính, người điếc thì con mắt nhạy, chỉ cần nhìn miệng người nói là có thể đoán ra, tức nghe bằng cái thấy. Như vậy khi cơ quan này hư thì cái biết phát ra ở cơ quan khác.

Duyên của cái thấy nhân nơi sáng, nên khi tối thành không thấy. Nếu chẳng có sáng mà tự phát cái thấy thì các tướng tối trọn không thể làm mờ tối được. Căn trần đã tiêu thì làm sao tánh giác minh không thành nhiệm mầu cùng khắp?

Chúng ta thấy được cảnh là nhân nơi sáng, nên khi tối gọi là không thấy. Nếu không cần sáng mà tự phát cái thấy, như khi nhắm mắt lại vẫn tự phát ra thấy biết thì thấy biết đó không bị các tướng tối làm che mờ. Như khi chúng ta nhắm mắt, rờ tới đâu mình biết tới đó, dù ở ngoài có đèn hay không đèn chúng ta vẫn biết. Như vậy sáng hay tối cũng không liên hệ gì, không làm mờ hay tỏ hơn cái biết. Đức Phật chỉ rõ ngay nơi mình có cái biết, cái biết đó như là cái thấy, không đợi phải có các trần bên ngoài mới thấy. Khi sáu căn còn đuổi theo trần cảnh thì cái biết hạn chế. Nếu đối với các trần chúng ta không thọ, không lệ thuộc, biết xoay sáu căn trở về thì không mắc kẹt nơi trần cảnh, cái biết không còn bị hạn chế.

Khi căn trần đã tiêu, tức là không còn bị dính kẹt nữa thì tánh giác sáng suốt tròn khắp nhiệm mầu. Sở dĩ cái biết nơi chúng ta bị chia chẻ, mờ tối là vì lệ thuộc vào căn trần. Nếu sống với cái hằng thấy hằng nghe... thì dù sáng hay tối, có tiếng hay không tiếng... tánh biết vẫn thường sáng.

Hiểu chỗ này rồi niềm tin của chúng ta vững chắc, quyết tâm trở về chỗ chân thật không còn nghi ngờ. Nếu không hiểu cứ lo sợ không dùng tâm suy nghĩ e sẽ ngu khờ. Sự thật chính đang suy nghĩ mới là ngu khờ, vì chỉ đuổi theo những tưởng sanh diệt. Khi buông hết không nghĩ nữa, lúc đó mới rõ được tâm bất sanh bất diệt, đồng thời cũng có thể tỏ sáng được tất cả. Như đức Phật, khi cần ngài có thể nhắc lại chuyện quá khứ từ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp cho đến bây giờ. 

3. Thể nghiệm tánh chân thường

A-nan bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn, như lời Phật đã dạy, muốn cầu quả thường trụ, chỗ phát tâm tu nhân, cần phải hợp với tên gọi của quả vị. Bạch Thế Tôn, như trong quả vị Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, Phật tánh, yêm-ma-la thức, Không Như Lai tạng, Đại viên cảnh trí, bảy thứ tên gọi tuy có khác mà thể tánh thanh tịnh viên mãn, bền chắc như Kim cang vương, thường trụ không hoại diệt.

 Bồ-đề là giác. Niết-bàn tức vô sanh. Chân như, chân thật như như không biến đổi. Phật tánh tức tánh giác sáng suốt. Yêm-ma-la thức (amala) là âm từ tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Bạch tịnh thức, còn gọi là đệ cửu thức thứ chín. Trong Duy thức, thức thứ tám gọi là a-lại-da tức tàng thức, gồm các chủng tử sanh diệt. Thức thứ chín là Bạch tịnh thức hoàn toàn trong sạch, không còn chủng tử nhiễm tịnh đối đãi, đến đây mới không sanh diệt. Không Như Lai tạng tức Như Lai tạng xuất triền. Như Lai tạng được chia làm hai: Một là Như Lai tạng tại triền, còn bị trói buộc bởi vô minh phiền não. Hai là Như Lai tạng xuất triền, tức ra khỏi vô minh phiền não. Đại viên cảnh trí là trí tuệ tròn sáng như gương. Bảy tên gọi này tuy tên khác nhưng đồng một thế tánh thanh tịnh viên mãn, cứng chắc giống như Kim cang vương thường trụ chẳng hoại.

Như ở đoạn đầu đức Phật đã nêu, nếu muốn cầu quả Vô thượng bất sanh bất diệt thì phải từ nhân không sanh không diệt, tức là nhân địa với quả địa phù hợp nhau. Quả địa thường trụ thì nhân địa cũng phải thường trụ.

Nếu thấy nghe này lìa sáng tối, động tịnh, thông bít, rốt ráo không có tự thể, cũng như tâm niệm rời tiền trần vốn không thể có, tại sao lại đem cái rốt ráo đoạn diệt này dùng làm nhân tu mà muốn được bảy quả thường trụ của Như Lai? 

Phật dạy lấy sáu căn làm nhân tu sẽ được bảy quả thường trụ. Nhưng sáu căn đợi có cảnh mới có thấy nghe..., không cảnh thì liền không. Vậy nó là thứ tiêu mất, là đoạn diệt, làm sao dùng làm nhân tu để đạt được cái không đoạn diệt?

Bạch Thế Tôn, nếu lìa sáng tối thì cái thấy rốt ráo là không, như không có tiền trần thì tự tánh của niệm bị diệt mất, tới lui xoay vần, suy xét thật kỹ, vốn không có tâm và tâm sở của con, vậy đem cái gì để lập làm nhân mà cầu quả Vô thượng giác? Như Lai trước có nói tánh trong lặng tròn đầy thường hằng; lời nói trái hẳn lẽ thật, rốt cuộc thành hý luận, làm sao được gọi là lời nói chân thật của Như Lai? Vậy cúi mong ngài khởi lòng đại từ khai mở chỗ mê lầm cho chúng con.

Ngài A-nan vẫn còn nghi, sáu căn đợi có trần mới biết, rời trần ra không có biết, tức không thật, không thường hằng. Nay đức Phật bảo lấy căn này tu để thành quả Phật bất sanh bất diệt, làm sao có thể lấy cái nhân không thật, không thường để tu thành quả thường trụ chân thật được? Như vậy lời Phật nói nơi mỗi người có tánh trạm viên thường trụ là không đúng lẽ thật, trọn thành hý luận? Xin đức Phật thương xót chỉ dạy cho.

Phật bảo A-nan:

- Ông học rộng nghe nhiều nhưng các lậu hoặc chưa sạch, trong tâm chỉ biết suông cái nhân điên đảo, còn điên đảo thật ở trước mắt còn chưa thể biết. Ta e ông vẫn chưa thành tâm tin phục, nay thử đem các việc trần tục để trừ nghi cho ông.

Liền đó Như Lai bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông, hỏi A-nan rằng: - Nay ông có nghe chăng?

A-nan và đại chúng đều thưa: - Con có nghe.

Chuông dứt không còn tiếng, Phật lại hỏi rằng: - Nay ông nghe chăng?

A-nan và đại chúng đều thưa: - Không nghe.

Khi ấy La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông, Phật lại hỏi: - Nay ông có nghe chăng?

A-nan và đại chúng thưa: Đều nghe.

Phật bảo A-nan: - Thế nào là ông có nghe? Thế nào là ông không nghe?

A-nan và đại chúng đều bạch Phật rằng:

- Tiếng chuông nếu đánh lên thì con được nghe, đánh lâu tiếng chuông hết, âm hưởng đều dứt thì gọi là không nghe.

Trước tiên Phật cho đánh chuông hai lần để thử nghiệm rồi mới hỏi, kế đến Phật hỏi để ngài A-nan phải xác nhận sao gọi là nghe, sao gọi là không nghe.

Như Lai lại bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông, hỏi A-nan: - Hiện giờ có tiếng chăng?

A-nan và đại chúng đều thưa: - Có tiếng.

Giây lâu tiếng dứt, Phật lại hỏi:

- Hiện giờ có tiếng chăng?

A-nan và đại chúng thưa: - Không tiếng.

Lát sau La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông, Phật lại hỏi: - Hiện giờ có tiếng chăng?

A-nan và đại chúng đều thưa: - Có tiếng.

Phật hỏi A-nan: - Ông cho thế nào là có tiếng, thế nào là không tiếng?

A-nan và đại chúng đều bạch Phật rằng:

- Tiếng chuông nếu đánh lên thì gọi là có tiếng, đánh lâu tiếng hết, âm hưởng đều dứt thì gọi là không tiếng.

Phật bảo A-nan và cả đại chúng:

- Nay tại sao các ông nói rối loạn như vậy?

Lại thêm hai lần đánh chuông để xác nhận thật rõ thế nào là có tiếng, thế nào là không tiếng. Nhưng đối với ngài A-nan và cả đại chúng thì nghe và tiếng cũng chỉ là một, cho nên bị Phật quở.

A-nan và đại chúng đồng thời bạch Phật:

 

- Nay vì sao Thế Tôn bảo chúng con rối loạn?

Phật bảo: - Ta hỏi ông về nghe thì ông đáp rằng nghe. Lại hỏi ông về tiếng thì ông đáp là tiếng. Chỉ nghe với tiếng mà ông trả lời không nhất định, như vậy làm sao chẳng gọi là rối loạn?

Đến đây chúng ta mới thấy chỗ lầm lẫn của tất cả người thế gian chứ không chỉ một người. Chuông đánh boong, hỏi nghe không, nói nghe. Tiếng chuông dứt, hỏi nghe không, nói không nghe. Lại đánh boong, hỏi có tiếng không, nói có tiếng. Tiếng dứt, hỏi có tiếng không, nói không tiếng. Như vậy tức là xác nhận nghe và tiếng là một. Nghe là ở mình, còn tiếng là nơi chuông, nhưng lại lầm hai cái là một, nên Phật quở nói như vậy là rối loạn.

A-nan, tiếng chuông dứt không còn âm hưởng, ông nói rằng không nghe. Nếu thật là không nghe thì tánh nghe đã diệt, đồng với cây khô, đến khi tiếng chuông lại đánh lên, ông làm sao mà biết tiếng? Biết có biết không, tự là thanh trần hoặc có hoặc không, đâu phải tánh nghe kia vì ông mà thành có thành không. Tánh nghe thật là không thì ai biết không tiếng?

Có tiếng hay không tiếng là thanh trần có hoặc không, còn tánh nghe lúc nào cũng hiện hữu. Nếu tánh nghe thật là không thì cái gì biết không có tiếng? Có tiếng thì nghe có tiếng, không tiếng thì nghe không tiếng, chứ đâu phải không có cái nghe. Tánh nghe đó luôn thường trực không lúc nào vắng mặt.

Như khi ngồi thiền, vọng tưởng khởi lên chúng ta biết có vọng tưởng, lúc không vọng tưởng biết không có vọng tưởng. Biết có vọng tưởng là mình biết, vậy biết không vọng tưởng là ai biết? Cũng là mình biết. Vọng tưởng là cái duyên theo bóng của tiền trần, khi không duyên với tiền trần thì không có vọng tưởng, còn cái biết có vọng tưởng và biết không vọng tưởng luôn luôn hiện hữu. Vậy mà khi không có niệm, nhiều người thấy chới với, không biết lúc đó thế nào. Rõ ràng là mình mà lại không biết! Đó là chỗ mê lầm của chúng ta, quên mình theo vật.

Đức Phật cố chỉ cho thấy nơi sáu căn có cái không sanh diệt, hằng hiển lộ mà chúng ta bỏ quên. Như câu chuyện về Tổ thứ mười tám của thiền tông là Già-da-xá-đa. Một hôm Tổ cùng đồ chúng du hóa đến nước Nguyệt Chi, có Bà-la-môn Cưu-ma-la-đa hỏi thị giả: Đây là người gì? Thị giả đáp: Là đệ tử Phật. Cưu-ma-la-đa liền chạy thẳng vào nhà đóng cửa lại, Tổ đi theo đến nơi gõ cửa. Cưu-ma-la-đa ở trong nhà nói vọng ra: Nhà này không có người. Tổ hỏi: Đáp không người đó là ai? Cưu-ma-la-đa nghe nói có vẻ kỳ lạ, nghi là bậc đạo hạnh nên mở cửa ra, thỉnh Tổ vào nhà. Sau đó phát nguyện xuất gia và được truyền trao giáo pháp.

Ở trong nhà mà nói nhà không có người, chúng ta cũng vậy, đang biết không có vọng tưởng mà nói là không có mình. Ai biết không vọng tưởng mà nói là không có mình? Điều này hết sức cụ thể nhưng nhiều khi chúng ta lại quên, nghĩ rằng có vọng tưởng mới có mình, khi không vọng tưởng cho là không có mình. Biết không vọng tưởng là đang có mình hiện hữu, cho nên khi tu chúng ta cần nhận ra được lý chân thật hiện hữu ngay nơi mình, chẳng phải tìm kiếm đâu xa.

Thế nên A-nan, tiếng ở trong cái nghe tự có sanh diệt, chẳng phải vì ông nghe tiếng sanh tiếng diệt khiến cho tánh nghe của ông thành có thành không. Ông còn điên đảo lầm tiếng là nghe, đâu có lạ gì mê mờ cho thường là đoạn. Trọn không nên nói lìa các thứ động tịnh, bít lấp, khai thông, nói cái nghe không tánh.

Như người ngủ mê trên giường gối, trong lúc người kia đang ngủ, trong nhà có người giã gạo, đập sợi. Người kia trong mộng nghe tiếng giã tiếng đập tưởng là tiếng gì khác, cho là tiếng đánh trống  hay tiếng đánh chuông. Chính khi đang mộng, họ lấy làm lạ sao tiếng chuông vang như tiếng cây tiếng đá. Khi ấy chợt thức giấc mới biết đó là tiếng chày, tự nói với người trong nhà là khi tôi còn ở trong mộng lầm tiếng giã gạo cho là tiếng trống.

Trong khi ngủ tuy không theo các trần bên ngoài nhưng tánh nghe vẫn hằng hiện hữu, chỉ không sáng bằng lúc thức mà thôi.

A-nan, người ấy trong mộng đâu có nhớ động tịnh, mở đóng, thông bít. Thân người kia tuy nằm ngủ nhưng tánh nghe không mờ. Dù thân ông có tiêu tan, mạng căn có diệt mất, tánh này làm sao vì ông mà tiêu diệt? Do các chúng sanh từ vô thủy đến nay theo các thứ sắc thanh, chạy đuổi theo vọng niệm mà lưu chuyển, không từng khai ngộ tánh thanh tịnh nhiệm mầu thường trụ, không theo chỗ thường trụ mà đuổi theo các thứ sanh diệt. Do đó mà đời đời bị tạp nhiễm nên phải lưu chuyển.

Nếu bỏ cái sanh diệt, giữ chân thường thì tánh sáng thường hằng hiện tiền, căn trần thức tâm liền đó tiêu mất. Tướng của vọng tưởng là trần, thức tình là cấu nhiễm, cả hai đều xa lìa thì pháp nhãn của ông liền đó được trong sáng, làm sao mà không thành tri giác Vô thượng?

Đến đoạn này chúng ta thấy rõ manh mối của sự tu. Ở trước Phật chỉ tánh thấy, tới đây là chỉ tánh nghe. Tánh thấy tánh nghe thường trụ mà lâu nay chúng ta không nhận ra, chỉ sống với những hình tướng của tưởng và tình thức phân biệt thương ghét v.v... Tướng tưởng của trần, thức tình là cấu. Nếu xa lìa hai thứ trần cấu này thì ngay đó liền được con mắt pháp thanh tịnh, thành tri giác Vô thượng. Thân này dù còn hay mất cũng không thành vấn đề quan trọng, biết trở về mới là giải thoát.

Mục Lục