Thiền Tông Việt Nam
Hiếu Hạnh Trong Đạo Phật
Hạnh Hiếu Của Người Con Phật

Hôm nay, chúng tôi điểm qua vài vấn đề hiếu đạo của người con Phật. Người con Phật, nhất là người xuất gia, phải giải quyết vấn đề hiếu đạo như thế nào. Thường thế gian vẫn cho rằng người xuất gia không làm tròn hiếu đạo. Quan điểm này cần phải được tìm hiểu cho tường tận, thấu đáo. Nếu không chúng ta sẽ trở thành những người nông cạn, thiếu hiểu biết. Và vì vậy dẫn đến những sai lầm đáng tiếc đối với đời sống phạm hạnh của bậc xuất gia tôn quý.

Có năm điều cần biết khi tu hành.

Chúng ta cần phải biết, một trong những nguyên nhân để bị rơi vào địa ngục là không hiếu thảo với cha mẹ, hoặc giết hại cha mẹ. Cho nên Phật tử khi đã hiểu đạo rồi thì đừng bao giờ làm người con bất hiếu. Tất cả những kinh điển của Thánh Hiền đều dạy chúng ta phải hiếu thảo với cha mẹ, bảo bọc anh chị em và những người thân của mình. Phật dạy chúng ta phải thương tất cả chúng sinh như cha mẹ, thân bằng quyến thuộc của mình. Bởi vì chúng sinh nào cũng là Phật sẽ thành. Đối với chúng sinh còn như thế, huống nữa là cha mẹ hiện đời của mình. Điều này chúng ta có thể tu được. Hiếu thảo với cha mẹ là một hạnh tu mà không cần phải tổ chức cúng kiếng gì cả. Tu ngay trong cuộc sống hằng ngày. Cho nên nói cha mẹ là Phật tại tiền. Đây là điều thứ nhất.

Một trong những trọng tội rơi vào địa ngục là làm thân Phật ra máu, chê bai chân lý, phỉ báng Tam Bảo. Hủy báng Tam Bảo là sao? Tam Bảo là ba ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Ở đây tôi nói tánh giác là Phật, chân thật là Pháp, thanh tịnh là Tăng. Sống với trí tuệ, với tánh giác của mình tức là sống với Phật bảo. Sống với niệm chân thật của mình tức là sống với Chánh pháp. Sống với tâm thanh tịnh giải thoát của mình tức là chân Tăng. Chúng ta luôn sống với niệm thanh tịnh, giải thoát chân thực của mình tức là không hủy báng Tam Bảo. Đó là sống với Tam Bảo, thực hiện Tam Bảo một cách trọn vẹn ngay trong đời sống này.

Về phương diện pháp tướng. Đối với Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đối với giáo pháp của Ngài, đối với đoàn thể thanh tịnh Tăng già đệ tử của Ngài, chúng ta một lòng cung kính. Vì Tăng đoàn là những vị mang hình ảnh, mang chí cả, mang từ bi, mang trí tuệ của Phật diễn hóa trong đời. Từ các ngài mà chúng ta có thể hiểu biết, phát tâm tu hành. Đó là người ân, người thầy của chúng ta. Đối với Pháp, tức là đối với các lời dạy của Phật, giúp cho chúng ta kiện toàn thân tâm, có được đời sống an lạc. Lời dạy của Ngài là những phương pháp giúp cho chúng ta qua được sông mê bể khổ. Đời sống của Ngài cũng như đời sống của những vị Thánh đệ tử là đời sống thanh tịnh giải thoát, nên chúng ta cần phải quí trọng, nương tựa các ngài. Chúng ta thực hiện được việc đó nghĩa là chúng ta không gây nhân khổ thì nhất định không bao giờ có quả khổ. Đây là điều thứ hai.

Một điểm nữa là chúng ta phải giữ gìn từng tâm niệm của mình đối với tất cả mọi người, nhất là những vị tu hành thanh tịnh. Phật giáo Việt Nam ngày nay có nhiều hình thức tu sĩ. Nếu bất thần quí vị thấy tu sĩ có những hành động hoặc ngôn ngữ không đáng kính, Phật tử phải bình tĩnh, bởi vì vẫn có nhiều điều mà chúng ta đáng học và sẽ học được từ những vị này.

Hoặc chúng ta thấy một thầy tu mặc áo vàng cũ kỹ, xốc xếch, mang cái bị cũng không ra gì, bình bát chẳng thành bình bát. Sư đi vào phố, đến từng nhà để khất thực mà không có nghi thức đúng với đạo Phật. Chúng ta nghĩ có lẽ ông thầy này là ông thầy giả, liền sanh niệm bất kính. Nhưng khoan đã! Còn rất nhiều điều mà chúng ta chưa học được ở vị này. Bởi vì Phật, Bồ tát, chúng sinh, ma, quỷ lẫn lộn, làm sao biết vị đó là Bồ tát hay là ma quỷ? Chúng ta khoan phê phán mà phải bình tĩnh. Nếu muốn phê phán về con người ấy thì chúng ta phải có thời gian tìm hiểu rồi chúng ta sẽ phê phán. Cho nên cái nhìn của đạo Phật là hoán chuyển, hóa giải. Chúng ta khoan kết luận mà phải thân cận để tìm hiểu, cuối cùng rồi nhận định đúng hay sai, tà hay chính.

Trong kinh Pháp Hoa, có một vị Bồ tát tên là Thường Bất Khinh. Ngài không thăng tòa, không nói kinh điển gì cả. Gặp bất cứ ai, ngài đều lễ lạy và nói: “Tôi không dám khinh quí ngài, vì quí ngài đều là Phật sẽ thành”. Dù cho bị người khinh khi hoặc có khi bị mắng nhiếc, đánh đập, ngài cũng vẫn cứ lễ lạy. Người làm được như thế thì làm sao ta dám khinh. Vì vậy không thể nhìn ở hình thức bên ngoài mà chúng ta có thể vội vàng kết luận được sự kiện hoặc con người nào đó, phải bình tĩnh, phải có thời gian để suy xét. Đây là điều thứ ba.

Thứ nữa, người Phật tử là người nhận ra điều gì không chân thật thì không theo, không làm. Điều này chúng ta có thể thực hiện được. Bởi điều gì không chân thật thì sẽ đưa đến những kết quả không tốt. Như vậy, trong lòng chúng ta nếáu còn niệm nào không chân thật thì nên loại nó ra. Chúng ta khỏi phải tụng kinh gì cả. Hễ thấy trong lòng mình có gì không chân thật thì loại ra. Không có kinh nào trị được bệnh ấy cả. Khi mình không chân thật thì mình biết mình không chân thật, phải loại cái không chân thật đó ra. Đó là cách tụng kinh, đó là cách tu hành. Tâm chân thật rồi thì nhân khổ không bao giờ có. Đây là điều thứ tư.

Điều thứ năm là khởi niệm tham trước. Trong năm điều thì điều này khó nhất. Bởi vì thường trong lòng của chúng ta, hễ thấy có cái gì hợp nhãn, thì mình liền khởi niệm thích thú, muốn cái đó thuộc về mình. Do đó khi đối duyên xúc cảnh hay làm bất cứ việc gì chúng ta phải bình tĩnh. Mỗi khi mắt của chúng ta chạm một hình ảnh, một sự kiện, một đối tượng, chúng ta phải bình tĩnh, đừng để niệm khởi lên sau đó. Như vậy mới có thể chấm dứt được nhân đưa mình vào cảnh khổ.

Tóm lại, năm điều tôi vừa trình bày là năm điều có thể đưa chúng ta vào trong chỗ khổ đau, nếu chúng ta không dừng, không làm chủ, không khắc phục. Chúng ta phải sáng suốt, định tỉnh suy xét thật kỹ. Nó không phải là những vấn đề ở bên ngoài mà nó nằm ngay trong đời sống bình thường của chúng ta. Việc Hiếu đạo cũng không ngoài những yếu tố đó.

Hiếu đạo là sao? Đó là chúng ta không làm khổ cho mình, không làm khổ cho cha mẹ, quyến thuộc. Hiếu đạo ở đây còn có nghĩa là làm chủ được mình khi lo lắng cho cha mẹ.

Trong kinh Địa Tạng có nói chuyện một nữ Phật tử. Cô có bà mẹ thích những thức ăn từ xương thịt của chúng sinh. Phật tử đó thấy hành động, cuộc sống của mẹ mình như vậy, biết chắc bà sẽ bị rơi vào địa ngục, nhưng không biết làm sao khuyên mẹ mình vì bà không kính tin Tam Bảo. Thời gian sau bà mất. Vì là Phật tử cho nên cô thành tâm niệm danh hiệu Phật, mong biết được mẹ mình sanh vào thế giới nào? Vì gần gũi cúng dường và tu hành thanh tịnh, nên cô được một vị Tăng thanh tịnh thương xót nhập định xem xét. Cuối cùng ngài cho cô biết là mẹ của cô bị đọa vào địa ngục. Không bao lâu sẽ sinh vào nhà cô nhưng tuổi thọ rất ngắn.

Đúng như vậy, sau một thời gian, đứa tớ gái ở trong gia đình sanh được một cháu bé. Cháu bé ấy vừa biết đói lạnh, liền khóc than nói những cảnh khổ sở vừa trải qua với cô. Cô biết đứa bé mới sanh là mẹ của mình nên rất khổ sở. Mình là người tu hành mà mẹ của mình không chịu tu cho nên bây giờ bị rơi vào trong cảnh con của một người tớ gái trong nhà. Vừa mới sinh ra trong mấy ngày thì liền biết nói, rồi than khóc. Đứa bé nói rằng, chính ta là mẹ của cô, do ngày xưa ta không biết đã tạo những nghiệp nhân xấu, hủy báng Tam Bảo, không chịu tu cho nên bây giờ bị đọa lạc. Tuy rằng được hưởng nhờ công đức tu hành của cô, được sinh vào trong nhà này nhưng phải làm con một người tớ và chỉ hơn mười năm thì chết, tiếp tục rơi vào cảnh khổ.

Sau khi kể lể xong, đứa bé trông mong cô làm sao có thể cứu rỗi cho hết khổ. Cô mới trình bày sự việc với thầy mình và xin phát nguyện: “Tất cả chúng sinh khổ đau trong địa ngục, trong loài quỷ đói và trong những cảnh cùng cực do không biết tu tập mà bị đọa, con nguyện thay cho tất cả những kẻ đó mà chịu cảnh khổ. Mong sao tất cả chúng sinh đừng gây tạo những nghiệp nhân đó nữa”. Quí vị thấy, nếu là mình, mình có dám nguyện như thế không?

Kế đến cô nguyện cho mẹ cô được chuyển sanh vào nơi an lạc, không còn những sự khổ đau, phát tâm Bồ đề hướng về Phật mà tu hành. Điều này đứa bé có thể làm được. Nhờ công đức của cô, người mẹ được chuyển hóa và sau khi mạng chung không còn bị đọa vào chốn địa ngục nữa.

Khi chúng ta bị một bản án cụt ngẳn như thế, biết mình chỉ còn sống một thời gian ngắn nữa thì chắc chắn phải gắng sức tu thôi. Đó là người biết lo cho mình và không làm khổ người khác. Đó là câu chuyện Hiếu đạo trong kinh Địa Tạng.

Chúng ta biết khổ thì đừng gây khổ cho người khác. Như Phật tử kia biết con đường khổ, mong muốn cho người thân của mình đừng gây nhân để phải đi vào con đường ấy. Đó là tinh thần đại từ, đại bi trong nhà Phật.

Người Phật tử chúng ta không nên ỷ lại, trông chờ vào tha lực. Bình tĩnh nhìn lại trong cuộc sống, chúng ta sẽ thấy những gì mình gầy dựng như danh vọng, tiền tài v.v… không có gì đảm bảo cả. Ví dụ như chúng ta cất được một ngôi nhà lầu, ông thầu bảo đảm, theo chất liệu như thế thì nó sẽ tồn tại được bao nhiêu năm. Nhưng mới mười năm hoặc hai ba năm gì đó chiến tranh hoặc giặc cướp, lửa cháy, nước trôi hoặc là con cái phá tán… Ngôi nhà không còn nữa.

Thật là không có gì bảo đảm hết. Đã không bảo đảm thì chúng ta phải chuẩn bị, nghĩa là phải thương mình và đừng làm khổ người khác. Phát nguyện cứu giúp tất cả, khuyến khích mọi người tạo những thiện duyên, hướng họ đi theo con đường thiện, đừng tạo những nghiệp nhân để bị đọa đày khổ đau.

Về vấn đề tu, chúng ta phải tu như thế nào, chứ không thể nói suông được. Như câu chuyện : “Có một thiên tử ở trên trời thấy hoa sen trên đầu sắp úa tàn, năm thứ tướng suy hiện ra. Chư thiên chung quanh thấy vậy thì biết vị này hết phước rồi. Vị thiên tử kia mới tha thiết cầu các thiện hữu có kinh nghiệm giúp cho cách thức để đừng bị rơi vào cảnh khổ. Một vị trời khuyên ông nên tìm đức Phật và phát tâm quy y, tu tập theo lời Phật dạy thì có thể không đọa vào đường khổ. Vị này liền tìm đến đức Phật. Sau khi được gặp Phật, vị ấy quy y phát tâm tu hành dũng mãnh nên Phật cho xuất gia. Sau khi xuất gia rồi lại tu hành tinh tiến, được quả vui an lạc vĩnh viễn.

Chúng ta tuy không phải loài trời, không có những phước báo đặc biệt và nhất là không sanh trong thời Phật tại thế, nhưng chúng ta có duyên là được gặp Phật pháp, được gần gũi với những bậc tu hành thanh tịnh, giải thoát. Những sự kiện đó có thể giúp cho chúng ta hết khổ. Với điều kiện là chúng ta phải phát tâm mãnh liệt như vị trời kia. Hành trì đúng theo lời dạy của Phật, hướng về con đường giác ngộ. Quyết tử tu tập thì nhất định chúng ta sẽ hết khổ. Việc này không ai thế cho mình được, muốn hết khổ thì tự mình phải gắng tu. Không thể đem vật gì để thay đổi, hóa giải, chuyển được cái khổ của chính mình mà chỉ có tự tu, cố gắng tu.

Quí Phật tử phát tâm quy y Tam Bảo, biết Phật Pháp Tăng rồi, ở nhà đã thờ Phật, ăn chay, có được ý thức tu tập thì khi có một niệm xấu nổi lên liền bỏ đi. Biết bỏ đi và sợ những nhân xấu, không làm hại đến chúng sinh. Hành trì được như vậy tức là quí vị đã tu tập theo Phật đạo. Kế nữa là phải làm sao phát triển sự hành trì ấy để kết quả được lớn lao hơn nữa, mới đi dần tới quả Phật.

Chúng ta phải cố gắng thực hành liên tục công phu tu tập từ ý niệm, lời nói, hành động. Phấn đấu thực hành một cách quyết liệt, dứt khoát loại bỏ tất cả những gì xấu xa. Không nghĩ, không nói, không làm những điều xấu, tức luôn giữ được tâm mình. Niết Bàn an vui thanh tịnh giải thoát sẽ đến.

Sau cùng chúng tôi xin nhắc đến câu chuyện đức Phật. Thế Tôn sinh ra ở Ấn Độ, cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma Da. Sau khi sinh Ngài được bảy ngày thì bà mất. Khi Ngài tu hành đã thành đạo, nghe tin vua Tịnh Phạn bệnh nặng, Ngài trở về hoàng cung, thuyết pháp cho vua nghe. Vua phát tâm quy y Tam Bảo và tu hành. Sau khi được đức Phật hướng dẫn tu tập thì vua đạt được trạng thái tâm thanh tịnh, vua nhập định bảy ngày. Sau bảy ngày thì vua băng hà khi vừa chứng đạo.

Tất cả chúng ta sinh ra đều có cha mẹ, có gia đình. Không có người nào tự nhiên có mặt ở đây. Thì đạo hiếu là một vấn đề phải thực hiện. Vị giáo chủ của mình đã thực hiện rồi, thì chúng ta cũng phải thực hiện.

Ngày xưa, khi đức Phật thành đạo, Ngài về thuyết pháp cho vua cha nghe khi vua bệnh, vua chứng đạo và giải thoát. Bây giờ chúng ta chưa chứng đạo, chúng ta chưa thể thuyết pháp cho cha mẹ nghe để cha mẹ chứng đạo. Chúng ta chưa thể làm được điều đó nhưng việc gì làm được thì ta làm. Ví như trong gia đình, cha mẹ, anh chị hoặc những người thân của chúng ta chưa hướng về Tam Bảo, chưa phát tâm tu hành, thì chúng ta càng nỗ lực tu hành. Nỗ lực tu hành là chúng ta biết thương mình và thương cha mẹ, anh chị, những người thân của mình. Hướng cha mẹ, anh chị, những người thân của mình về Tam Bảo thì không phải đợi đến khi chứng đạo chúng ta mới làm được. Ngay bây giờ, với niềm tin, với tấm lòng của mình đối với Tam Bảo, thương cha mẹ, những người chung quanh mình, thì trước nhất đem tinh thần của đức Phật dạy chân tình dâng lên cho cha mẹ, cho những người thân của mình. Từ đó cha mẹ, những người thân của mình tin kính Tam Bảo, cùng nỗ lực tu hành thì tốt đẹp biết bao nhiêu. Chúng ta ráng tu là cụ thể như đãõ thọ giới thì phải giữ giới. Biết cuộc đời là huyễn ảo, các pháp giả dối, chúng ta không đắm luyến chạy theo, sống trở về với tâm chân thật của mình. Từ đó khuyến hóa người thân cùng hướng về Tam Bảo, tin kính và nỗ lực tu hành. Đó là điều mà chúng ta có thể làm được. Đức Phật ngày xưa cũng đã làm điều đó đối với cha mẹ Ngài.

Sử còn ghi lại, sau khi đức Thế Tôn thành đạo, theo lời thỉnh cầu của chư Thiên, vào một mùa hạ Ngài lên cung trời Đao Lợi nhập hạ và thuyết pháp cho chư Thiên. Trong các vị trời đến nghe pháp, có một vị từ cung trời Đâu Suất đến. Vị này tiền thân là hoàng hậu Ma Da, mẹ của Thái tử Sĩ Đạt Đa. Nhờ công đức sanh một vị Phật nên sau bảy ngày bà mất và được sinh làm vị trời trên cung trời Đâu Suất. Vị Thiên tử này đến nghe pháp mỗi ngày. Như vậy Ngài vừa giúp cho chư Thiên biết được đường hướng tu hành đồng thời Ngài cũng trả hiếu cho mẹ. Vì sau những thời pháp ấy, vị trời là tiền thân mẹ Ngài nỗ lực tu tập nên đã chứng được Thánh quả.

Đức giáo chủ của chúng ta đã sống một đời sống phạm hạnh và tròn ân vẹn nghĩa với cha mẹ thân tộc. Chính bản thân Ngài là tấm gương sáng cho hàng Phật tử chúng ta noi theo. Lấy công đức hạnh nghiệp của mình để đền ân cha mẹ. Tự lợi, lợi tha đem hạnh phúc an vui đến cho muôn loài, trong đó có mẹ cha. Hiếu đạo trong nhà Phật vì thế được xem như bổn phận và việc làm hàng đầu của chúng ta. 

Mục Lục