Thiền Tông Việt Nam
Tâm Yếu Nhà Thiền - Ni Sư Hạnh Chiếu
Chánh Văn - Giảng Giải (tt5)

Kẻ đạt giả trong mười hai giờ học đạo không có một khoảnh khắc bỏ phế, người này dù chưa được vào, mà mỗi niệm đã là tu hành. Tầm thường nói tu hành, chẳng qua ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh. Thiền môn không thể như thế. Vì sao? Vì môn thiền định, niệm niệm cùng trí ba-la-mật bình đẳng, tất cả chỗ tự không lỗi lầm, hằng lâu bỗng có ngày tâm địa thông suốt, từ trước thảy được đầy đủ, gọi là nhất hạnh tam-muội. Người thời nay toàn là sức định, lại chẳng mở con mắt trí tuệ, có những cơ duyên ngữ cú, chỉ thành tranh luận, tâm hành sanh diệt.

Kẻ đạt giả trong mười hai giờ học đạo không có một khoảnh khắc bỏ phế, người này dù chưa được vào, mà mỗi niệm đã là tu hành. Tổ dạy kẻ đạt giả trong mười hai giờ học đạo không có khoảnh khắc buông lơi, thì dù chưa đạt đạo mà mỗi niệm là tu hành, giữ tâm miên mật không để tạp. Người chưa nhận ra được ông chủ, chưa kiến tánh, nhưng không nghĩ chuyện tầm bậy tầm bạ, không nghĩ thị phi, hơn thua. Mỗi khắc, mỗi giây thường để tâm tĩnh lặng, thì dù chưa được đạo nhưng mỗi niệm vẫn tu hành.

Tầm thường nói tu hành, chẳng qua ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh, tức là người bình thường nói tu hành để cho sáu căn thường thanh tịnh, không bị ba nghiệp thân khẩu ý lôi kéo. Cho như vậy là đủ.

Thiền môn không thể như thế. Vì sao? Vì môn thiền định, niệm niệm cùng trí ba-la-mật bình đẳng, tất cả chỗ tự không lỗi lầm, hằng lâu bỗng có ngày tâm địa thông suốt, từ trước thảy được đầy đủ, gọi là nhất hạnh tam-muội. Tu môn thiền định là mỗi niệm đều bình đẳng với trí ba-la-mật. Cho nên không chỉ thanh tịnh sáu căn là được, không chỉ làm sạch ba nghiệp là xong. Bởi ba nghiệp sáu căn yên định mới chỉ có định chứ chưa có tuệ.

Trí tuệ bình đẳng là trí tuệ nhận được tâm thể lặng lẽ nhất như. Sống được với tâm thể đó thì khi nhìn cảnh, nhìn người đều thấy tất cả tướng duyên hợp hư giả. Nơi nào cũng không lỗi lầm vì nơi nào cũng có tâm thể bình đẳng.

Nếu chúng ta sống được với trí ba-la-mật, mỗi niệm phù hợp với trí ba-la-mật bình đẳng trong thời gian dài thì có ngày tâm địa thông suốt, từ trước thảy được đầy đủ, gọi là nhất hạnh tam-muội. Do đó, chỉ một hạnh này mà đầy đủ tất cả chánh định.

Ở trong trí ba-la-mật bình đẳng, nghĩa là ở trong trí chân thật của mình. Khi tiếp duyên xúc cảnh, sáu căn là con đường để trở về Bồ-đề Niết-bàn. Nếu ta hằng ở trong cái biết thanh tịnh thì sáu căn là công cụ sử dụng diệu kỳ.

Người thời nay toàn là sức định, lại chẳng mở con mắt trí tuệ, có những cơ duyên ngữ cú, chỉ thành tranh luận, tâm hành sanh diệt. Có những người học đạo chưa thông, pháp tu chưa chứng, nghe người tu pháp khác thì lại bác bỏ. Học đạo quan trọng phải mở con mắt trí tuệ. Nếu không mở con mắt trí tuệ dễ rơi vào tranh luận, càng thêm tà kiến, không thể giải thoát.

Tu trí tuệ giải quyết mọi vấn đề rất mau chóng, đặc biệt là phiền não. Như vào nhà tối, chỉ cần bật công tắc đèn lên là sáng ngay, không phải chờ đợi lâu, không phải sáng từ từ. Như nói "một nghe ngàn ngộ" là dùng trí, chứ dùng định sẽ không ngàn ngộ được. Chúng ta tu là để được an vui giải thoát, muốn giải thoát thì phải chặt đứt mọi sợi dây trói buộc. Chỉ có chiếc gươm trí tuệ mới làm được chuyện đó.

Phật bảo tất cả chúng ta đều có chiếc gươm trí tuệ, nhưng phải dùng thường mới bén. Gươm của mình để lâu quá không dùng nên lụt nhách. Hoặc không biết cách dùng thành ra dùng bậy, thay vì chém phiền não của mình, lại quơ nhầm phiền não của người. Đó là không chịu xử mình lại đi xử người, không lo sửa đổi chuyển hóa tập nghiệp của mình, cứ mang gánh nghiệp của người. Thật đáng tiếc.

Thiền học chẳng phải việc nhỏ, chưa có cái dụng siêu Phật vượt Tổ, được rồi muốn siêu việt cũng chẳng khó. Cao Bưu Tôn Thừa Vụ biên thư hỏi tôi: "Chẳng rời ý tưởng, chẳng ở có không, thế nào là phải?" Tôi đáp: "Nếu hỏi thế nào thì chẳng phải, không hỏi thế nào cũng chẳng phải". Khách say bừng tỉnh thì thần châu tự sẵn đủ, đâu có thể dự tính làm rồi sau mới nhận.  

Thiền sư Thanh Viễn nói thiền học là một việc lớn. Khi đạt đạo rồi thì có cái dụng siêu Phật vượt Tổ. Nghe như kiêu mạn, vì chúng ta muốn vượt hơn Phật tổ. Thật ra đây chỉ là một cách nói, ý chỉ đầy đủ diệu dụng. Khi mình sống được với tâm thể, tự có đầy đủ những diệu dụng siêu thoát. Người chưa sống được với tâm thể mà muốn có dụng siêu thoát là việc không thể.

Cho nên, trong lúc chúng ta học thiền và hành thiền, quan trọng là thực tập cho được. Có hiệu dụng rồi thì làm việc gì cũng thành hiệu dụng, lợi ích cho mình và người. Thí dụ khi quậy bột làm bánh, quan trọng không phải là chúng ta suy nghĩ bánh này có ngon hay không, mà tập trung làm cho bột ngon, bột ngon tự nhiên bánh sẽ ngon.

Cũng thế, trong khi tu tập chúng ta không nên nghĩ ngợi mình tu thế này đời sau sẽ thế nào? Không biết ngày mai chết có được gặp Phật pháp hay không? Có được gặp lại thầy tổ không? Nhà Phật không khen ngợi người lo xa mà còn quở là viễn vông, trong khi đó giây phút hiện tại lại không biết. Nếu giây phút hiện tại sống tỉnh giác, chánh niệm thì ngày mai chắc chắn không khổ. Nếu hiện tại vọng tưởng lung tung thì ngày mai phải phiêu bạt lang thang.

Khi ta nghĩ về một vấn đề là nối kết những niệm tưởng lại với nhau. Trong năm uẩn, nó thuộc về hành uẩn, tức là niệm niệm tương tục. Chữ hành là một sự vận hành liên tục. Do các niệm vận hành, nối kết liên tục nên tạo thành một vấn đề. Ta cho vấn đề đó là một sự hiện hữu, rằng chuyện này thật, chuyện này vui hoặc buồn... Phật nói mỗi một niệm đã không thật, huống gì là cả một chùm niệm. Do đó những chuyện vui buồn cũng không thật. Tại sao chúng ta lại để lòng, mà đánh mất cái chân thật của mình? Rõ ràng chúng ta không ứng dụng lời Phật dạy một cách triệt để, nên không có kết quả an lạc.

Siêu Phật vượt Tổ là chuyện giải thoát khỏi vòng sanh tử, ra khỏi hai bên thánh phàm. Ở những chuyện nhỏ chúng ta không làm chủ được mình, thì làm sao nói tới chuyện đi suốt con đường Phật đạo dài lâu. Chúng ta có lý tưởng lớn, nhưng lại không biết vun bồi, chăm sóc lý tưởng đó. Ngược lại ta đã bóp chết sự sống của mình ngay trong giây phút hiện tại.

Hiện giờ chúng ta thấy mất thì giờ với những chuyện buồn vui nhỏ nhặt, nhưng thật sự nó tạo thành nghiệp lực, sẽ dẫn chúng ta đi thọ sanh. Chuyện nhỏ bỏ qua thì thành chuyện lớn. Mình hay vướng víu ở những chuyện nhỏ trong đời sống, ta không cảm thấy quan trọng. Buồn một chút, vui một chút, giận một chút, hờn một chút... mỗi thứ một chút thôi, không nhiều. Không ngờ mỗi một chút như vậy tạo thành năng lực dẫn ta đi trong trầm luân sanh tử.

Nhà Phật đưa ra luật nhân quả vì muốn chúng sanh tránh nhân khổ. Phật đã tu tập, đã chứng biết, những điều Ngài nói là do Ngài thấy, Ngài biết mà nói. Trong A Hàm kể, có một tiền kiếp đức Phật đã là một người con bất hiếu nên rơi xuống địa ngục. Ngài thấy một tội nhân đang đội vòng lửa cháy hừng hực trên đầu, kêu la thảm thiết. Ngài hỏi ngục tốt người đó tội gì, ngục tốt trả lời tội bất hiếu với cha mẹ. Ngài hỏi tiếp bao giờ mới hết vòng lửa ấy. Ngục tốt bảo bao giờ trên nhân gian có người bất hiếu khác xuống thay thế thì vòng lửa mới hết. Vừa nói xong, vòng lửa đó bay chụp lên đầu Ngài.

Khi vòng lửa bay lên đầu mình, Ngài mới thấy cái đau đớn thấu ruột thấu gan. Lúc đó, Ngài phát đại nguyện: "Nguyện từ đây mãi mãi về sau, tôi xin thay thế tất cả chúng sanh đội vòng lửa này. Nguyện tất cả chúng sanh trên cõi đời, đừng ai bất hiếu với cha mẹ, để không phải thọ khổ hình này". Đức Phật vừa phát nguyện xong, vòng lửa tự nhiên biến mất.

Phật nói ba nghiệp là nguyên nhân chính dẫn chúng sanh đi trong sanh tử, trong đó ý nghiệp là chính. Ý nghĩ bậy thì thân làm bậy, miệng nói bậy. Ý nghĩ lành, thân làm lành, miệng nói lành. Trong cuộc sống, ta gây tội ta biết, ta làm phước cũng ta biết. Vì vậy thọ hình không phải do ai treo cái án đó vô mình, mà tự động ta lãnh thọ án đó thôi. Khi cảm nhận mình nhiều tội lỗi, tự nhiên ta bất an. Chịu vòng lửa xoay là do tâm chiêu cảm. Vấn đề then chốt là ở chỗ đó. Thế nên không cần phải đợi xuống địa ngục chúng ta mới khổ.

Trong đời sống hiện tại nếu mình không ác ý làm khổ ai thì cảnh khổ tới chúng ta cũng nhàn. Có nhiều người lo xa, chưa khổ mà lo khổ trước. Thấy người khác thảnh thơi, nhàn tản, còn rầy "sao không chịu lo đi, đợi nước tới trôn làm sao nhảy?" Thật ra đó là cái nghiệp của mình. Nước tới trôn mình muốn nhảy cứ nhảy, người ta không muốn nhảy thì không nhảy. Không có gì cố định, tùy mỗi người. Thấy thiên hạ nhàn tản khỏe, mình không nhàn tản theo mà lại còn bực, phiền cái thân mình chưa đủ, lại còn bực phụ cái sướng của người ta, là sao? Vô lý quá!

Vì vậy phải buông xả vọng tưởng, lo quay lại với chính mình, đừng giong ruổi lăng xăng nữa. Muốn tâm lúc nào cũng bình thản, an định thì phải quên chuyện quá khứ, chẳng nghĩ tới tương lai, chỉ sống trong hiện tại. Nhận được sự hiện hữu của chính mình là sống được như tổ Trúc Lâm đã dạy "Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền". Chừng đó chuyện siêu Phật vượt Tổ là đương nhiên, không cần phải dụng công.

Cao Bưu Tôn Thừa Vụ biên thư hỏi tôi: "Chẳng rời ý tưởng, chẳng ở có không, thế nào là phải?" Tôi đáp: "Nếu hỏi thế nào thì chẳng phải, không hỏi thế nào cũng chẳng phải". 

Câu trả lời của chư Tổ đã quá rõ "Nếu hỏi thế nào là chẳng phải rồi". Có, không là rơi vào ý tưởng, nên nói hỏi thế nào là chẳng phải, chẳng hỏi thế nào cũng chẳng phải. Tại sao? Vì rơi vào hai bên. Đối với chỗ chân thật, lìa hai bên có không, phải chẳng phải. Còn khởi niệm hỏi hay không hỏi là còn hai bên, nên đều chẳng phải. 

Khách say bừng tỉnh thì thần châu tự sẵn đủ, đâu có thể dự tính làm rồi sau mới nhận. Đây là trích thí dụ trong kinh Pháp Hoa. Anh chàng say rượu có người bạn cột viên minh châu trong chéo áo. Khi anh hết say tiếp tục lang thang nghèo khổ, vì không nhận ra mình có hạt châu trong chéo áo. Tới lúc gặp lại, người bạn hỏi tại sao khổ sở thế này? Anh ta nói vì nghèo thiếu. Bạn hỏi hạt châu đâu, anh say hỏi lại hạt châu gì. "Hạt châu tôi cột trong chéo áo anh". Bấy giờ anh say mới giật mình, moi trong chéo áo thấy hạt châu còn sẵn đó. Khi anh giật mình đụng tới thì hạt châu đã sẵn rồi, không phải do làm lụng, không phải do đi tha phương, cũng không phải do hết đi tha phương mà nắn được hạt châu. Nó có sẵn, chỉ vì anh không biết nên không nhận ra.

Thế nên, khả năng giác ngộ của chúng ta cũng như trở bàn tay. Trong cuộc đời, biết bao lần chúng ta kêu "à" vì nhớ lại một điều gì đã quên, thí dụ để quên chìa khóa đâu đó, bất chợt nhớ ra "à" một tiếng, chìa khóa liền hiện ra và đi đến đó lấy. Chuyện quên mình cũng na ná như vậy, nhưng chuyện nhận ra mình không giống nhận ra chiếc chìa khóa. Vì mình không có hình tướng như chiếc chìa khóa. Chúng ta nhận ra mình bằng chính sự có mặt của mình. Và khi nhận ra rồi thì tự sẵn đủ.

Phật tổ rất thi thiết, không phải nói đến đây rồi bỏ chúng ta giữa chừng. Ngài chỉ luôn cho chúng ta biết nhận bằng cách nào, có bao nhiêu chỗ để nhận? Có đến sáu căn để nhận chứ không phải một căn. Chúng ta có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Cái biết ở mắt gọi là tánh thấy, ở tai gọi là tánh nghe, ở mũi gọi là tánh ngửi v.v... Sáu chỗ đó chúng ta thường xuyên tiếp xúc, như vậy cơ hội tràn đầy, lúc nào không nhận ra được. Tuy nói tánh này, tánh kia, nhưng thực sự chỉ là tánh biết thôi.

Vừa rồi tôi có thấy học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu đọc báo rất hay. Họ đọc bằng tay, cứ sờ lên những mặt chữ nổi là đọc nhanh y như chúng ta. Trong trường có báo tường bằng chữ nổi. Họ đứng xếp hàng cả chục người, tay sờ lên mặt chữ, mò mò rồi gật đầu cười. Chỗ nào thích thì cười ra tiếng, chỗ nào không thích thì nhăn mặt, miệng đọc lẩm nhẩm rất dễ thương.

Điều này chứng tỏ tuy mắt mù nhưng vẫn biết như thường. Chúng ta không dùng chữ thấy mà dùng chữ biết. Khả năng biết của chúng ta hỗ dụng qua lại trong sáu căn. Trở về được với tánh giác thì gọi là "Nhất tinh minh sanh lục hòa hợp", diệu dụng phi thường như vậy. Người khuyết tật vượt khó bằng năng lực của tâm. Nhờ năng lực ấy mà họ trở nên phi thường. Nếu chúng ta biết xoay về tận dụng hết năng lực của tâm, thì có chuyện gì mình không làm được.

Trước đây, có một lần Hòa thượng đã dạy "Nghịch cảnh là thắng duyên chứ không phải chướng duyên". Bởi vì cái tâm thật của chúng ta nằm sẵn nơi thân vô thường này. Đã là thân vô thường thì dư thiếu chỗ nào cũng được, miễn cái tâm chân thật bình đẳng như nhau. Người sáu căn đầy đủ có phước hơn người khuyết tật, vì dễ sinh hoạt và tu tập. Nhưng đôi khi vì thế họ ỷ lại, không nỗ lực, thành ra trở thành phóng túng buông lung, cuối cùng không tu tập bằng người khuyết tật.

Bây giờ chúng ta tập trung tâm lực để phát triển cái thật hằng hữu của mình. Nhận được rồi thì có một nguồn sống an lạc, một sức mạnh chiến thắng nghiệp lực và mọi chướng duyên. Người tu khi có nội lực thâm hậu sẽ có sức định tĩnh rất cao, trí tuệ sáng suốt, niềm tin vững chắc. Tự tin trong lời nói, trong việc làm, ngay cả trong sự thất bại. Trên đời không có sự thành công hay thất bại vì tất cả đều thuộc pháp hữu vi, đều là huyễn. Người vững tin có thể đi trên sự thành công hay thất bại như một trò chơi. Đây chính là sức mạnh của người tin tâm mình.

Thiền sư không cần tất cả mọi thứ, buông bỏ tất cả mọi thứ, nên các ngài không mất gì cả, vì đâu có mà mất. Chúng ta sợ mất từng chút nên mất hết cái này tới cái kia. Hồi xưa khi mới tu, cuộc sống rất đơn giản. Năm đầu chỉ một cái thất đơn sơ, Phật ở trên, mình ở dưới, uống chung một chung trà. Dâng Phật trước rồi con hưởng ké sau. Qua năm thứ hai có thêm cái tủ với tạng kinh. Năm thứ ba thêm tủ quần áo. Năm thứ tư là nhà bếp, bàn máy. Rồi những năm kế tiếp nữa là tủ lạnh, radio... cuối cùng suốt ngày lẫn đêm ngồi canh ăn trộm, hết tụng kinh tọa thiền.

Những đồ đạc này dễ thấy, nhưng không hiểu sao chúng ta rinh vào từ lúc nào, mà chính mình cũng không hay. Luôn luôn có luật sư biện hộ bên trong tại, bị, thì, mà, là... cho nên tôi mới ra nông nỗi này. Cuối cùng đưa đến trói buộc và khổ đau. Y chang hay còn tệ hơn hồi chưa tu. Suốt cuộc đời chúng ta cứ mộng mơ đi trong mộng du, mà không chịu đi trong hiện thực. Đã say sưa như vậy thì mất đi thần châu là phải rồi.

Cuộc đời tu hành thật sự rất giản dị, nhưng vì tập nghiệp chúng sanh quá nhiều, lôi kéo bao nhiêu thứ nhiêu khê vào, thành thử ta tự biến cuộc đời thành rắc rối, phức tạp. Phật bảo chỉ cần "buông" một cái là xong chuyện, nhưng mình có chịu buông đâu. Vừa bấu vừa la "Phật ơi cứu con". Quả thật rắc rối!

Có một thiên tử hai tay cầm hai cây ngô đồng đem cúng Phật, cầu Thế Tôn chỉ dạy pháp bất tử. Phật bảo "buông". Ông buông một cây ngô đồng xuống. Phật bảo buông cái nữa, ông buông luôn cây thứ hai. Phật lại bảo buông. Ông thưa "Con chỉ có hai cây ngô đồng đã buông hết rồi, còn gì nữa đâu mà buông". Phật nói: Ta đâu có bảo ông buông cây ngô đồng. Buông thứ nhất là buông sáu căn, buông thứ hai là buông sáu trần, buông thứ ba là buông sáu thức. Ông suy nghĩ nhiều quá, tính toán nhiều quá làm sao bất tử được.

Chỉ vì mê mà ta là chúng sanh, nếu hết mê thì ta là Phật. Đã hết mê thì không bao giờ phiền não. Đức Phật ngày xưa cũng bị chửi, bị liệng cà chua, bị hàm oan đủ thứ... mà không thấy sách vở nào nói Phật phiền não. Bởi vì Ngài buông sạch.

Người lanh lợi bậc nhất, tìm tòi chẳng đến một niệm này, khó được tự thấy. Thấy đó tức phải, không riêng có lối tẽ. Tầm thường cho niệm trước là phải, lấy niệm sau soi đó, trước sau đuổi nhau, lấy tâm dụng tâm, tâm ắt thành cảnh. Cái nguyên tắc buổi đầu đã thành tâm cảnh rồi, lần lượt lại chẳng kham.

Người lanh lợi bậc nhất, tìm tòi chẳng đến một niệm này, khó được tự thấy. Thấy đó tức phải, không riêng có lối tẽ. Dù cho người lanh lợi nhất thế gian muốn suy nghĩ cho ra tâm thể cũng không bao giờ được. Vì cái đó phải dùng trực giác mà nhận. Ta học pháp để nhận lại cái hiện hữu nằm sẵn nơi mình. Cho nên già trẻ khôn dại chi tu cũng được, không luận người lanh lợi mới tu được.

Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói: "Giả sử cả thế giới này có bao nhiêu người thông minh trí tuệ như Xá Lợi Phất, cộng lại cũng không suy lường được trí tuệ của Phật." Lỗi tại suy lường. Càng suy lường càng không thấy. Vậy nên người lanh lợi nhất thế gian, muốn tìm kiếm niệm này cũng không được. Thấy đó tức phải, không riêng có lối tẽ, nghĩa là thấy thì liền thấy, không suy nghĩ tới suy nghĩ lui rồi mới thấy, mà là nhận thẳng.

Tầm thường cho niệm trước là phải, lấy niệm sau soi đó, trước sau đuổi nhau, lấy tâm dụng tâm, tâm ắt thành cảnh. Cái nguyên tắc buổi đầu đã thành tâm cảnh rồi, lần lượt lại chẳng kham.  

Khi đang tu, có người cho niệm trước ta phải rồi lấy niệm sau soi niệm trước, cứ lấy cái này soi cái kia. Thí dụ, khi chưa dấy niệm cho đó là tịnh, lúc dấy niệm cho đó là động. Lấy cái động soi cái tịnh thì cái tịnh đã thành cảnh bị soi. Niệm sau là niệm hay soi, niệm trước là cảnh bị soi. Cho nên tâm biến thành cảnh. Nguyên tắc buổi đầu đã thành tâm cảnh rồi, thì không thể cam lãnh cái chân thật của mình. Cho nên trong lúc dụng công tu phải khéo léo, dè dặt các khởi niệm.

Như hiện nay niệm sau chẳng nhận, tự không có chỗ khởi diệt, chính nơi đó là giải thoát. Niệm vốn chẳng sanh, sao lại có ý tưởng "có, không" làm lưu ngại? Một niệm ngộ tâm liền thành chánh giác, chính là nói nơi đây vậy.

Đoạn này thiền sư Thanh Viễn dạy yếu thuật của sự tu.

Như hiện nay niệm sau chẳng nhận, tự không có chỗ khởi diệt, chính nơi đó là giải thoát. Sau gọi là niệm sau? Niệm trước qua rồi, vừa muốn dấy khởi nghĩ gọi là niệm sau. Nếu mình không theo thì nó mất, vì vậy không có chỗ khởi cũng không có chỗ diệt, chính nơi đó là giải thoát.  

Niệm vốn chẳng sanh, sao lại có ý tưởng "có, không" làm lưu ngại. Niệm vốn không thật có, làm sao thật sanh thật diệt. Do đó không nên lấy ý tưởng có không làm lưu ngại. Nó chỉ là chùm bọt, do duyên khởi chợt có rồi chợt không, chẳng có nguồn gốc. Vì vậy không thể nói có, cũng không thể nói không. Nếu ta lấy có không làm lưu ngại thì tự mình rối loạn. Như hoa đốm trong hư không, không thật có, do mắt nhặm mà thấy. Chúng ta không cần dẹp hoa đốm mà chỉ lo trị bệnh mắt. Cũng vậy, ta không cần quan tâm niệm có không, chỉ hằng ở trong tánh giác.

Một niệm ngộ tâm liền thành chánh giác, chính là nói nơi đây vậy. Mê tâm là quên cái thật, chạy theo cái giả. Ngộ tâm là không theo cái giả, chỉ nhận cái thật. Cho nên ngộ tâm là trở về tánh giác, chỉ vậy thôi.

Niệm niệm không sanh, niệm niệm không tướng đồng với hư không. Chạm vật gặp duyên đều là diệu dụng Phật. Không có mảy tơ đối đãi.

Niệm niệm nếu không sanh thì đâu có tướng, như vậy là trở về tâm thể rỗng rang, đồng với hư không. Đã trở về với tâm thể thì khi chạm vật, gặp duyên liền dấy lên diệu dụng.

Thiền sư Ma Cốc, Nam Tuyền, Quy Tông ghé quán uống nước. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chung đến nói:

- Hòa thượng nào có thần thông thì mời uống trà?

Ba ngài nhìn nhau chưa nói câu nào, bà già liền bảo:

- Xem già này trình thần thông đây.

Nói xong bà nghiêng bình rót trà vào chung, rồi đi.

Khi sống được với tâm thể thì làm việc gì cũng là diệu dụng. Vì vậy Bàng Uẩn nói "Thần thông cùng diệu dụng, gánh nước bửa củi tài", gánh nước bửa củi đều là đạo, đâu phải không niệm mới là đạo. Chính mỗi niệm dấy lên, biết nó không thật là sống đạo. 

Do đó không có mảy tơ đối đãi. Không sanh, không tướng thì lấy gì đối đãi. Sở dĩ chúng ta có niệm thiện niệm ác, nghĩ tốt nghĩ xấu vì chấp nhận nó là thật, nên thấy có đối đãi. Giờ đây biết rõ nó không thật thì còn gì đối đãi.

Hạt châu trong chéo áo, riêng soi sáng khắp thế giới mười phương. Việc này mục kích liền rõ, chẳng đợi dấy ý, sau rồi mới biết. Sự nghiệp đại trượng phu này không thể chẳng thành tựu.

Hạt châu dụ cho tâm thể. Vừa nhận được hạt châu tức là nhận được tánh thật của mình thì ánh sáng soi khắp mười phương thế giới. Bởi ánh sáng của nó phá tan tất cả bóng tối vô minh, nghiệp tập ba đời đều có thể giải trừ, nên nói sáng khắp.

Việc này mục kích liền rõ, chẳng đợi dấy ý, sau rồi mới biết. Tức là ngay đó nhận ra không phải suy nghĩ gì nữa.

Sự nghiệp đại trượng phu này không thể chẳng thành tựu. Nếu nhận ra được như vậy là thành tựu sự nghiệp của đại trượng phu.

Nếu muốn cầu phải, liền có pháp chẳng phải làm chướng ngại; muốn cầu đắc niệm, là lý do trước sau đều thất niệm. Ngày đêm không tự tại, muốn hợp đạo cũng không có mảy nào để hợp. Càng gấp càng không hợp, bệnh tại chỗ lấy một bỏ một. Không khéo dụng tâm chẳng được yếu thuật, mờ mịt không hiểu, mỗi ngày cách đạo càng xa.

Nếu muốn cầu phải, liền có pháp chẳng phải làm chướng ngại; muốn cầu đắc niệm, là lý do trước sau đều thất niệm, còn có tâm cầu còn chẳng được. Vừa dấy niệm liền là hai bên nên bị chướng ngại. Như muốn làm cho niệm yên, vừa nghĩ đã bị cái niệm yên làm loạn rồi. Cho nên không cần nó yên, chỉ biết nó hư giả không thật, không theo thì nó tự yên. Lục Tổ đâu chẳng nói niệm dấy lên liền giác, giác liền là Phật. Cho đến hằng hà sa số niệm dấy lên đều giác thì thành hằng hà sa số Phật. Vì vậy không sợ niệm khởi chỉ sợ giác chậm.

Ngày đêm không tự tại, muốn hợp đạo cũng không có mảy nào để hợp. Càng gấp càng không hợp. Chúng ta tu là để hợp với đạo, nhưng đạo chính là mình thì hợp cái gì? Chỉ không theo vọng thì đạo hợp, càng cầu hợp càng cách xa đạo.

Như gương đã tự sáng, nhưng do chúng ta để bụi bám lâu nên quá trình lau chùi cũng lâu. Nếu không lau chùi sẽ không nhận được ánh sáng của gương. Tuy nhiên, khi ánh sáng hiện ra rồi, ta phải biết ánh sáng này có sẵn. Nếu ánh sáng không có sẵn cho dù mình có chùi hết bụi, gương cũng không sáng. 

Cũng thế, Phật tánh đã có sẵn nhưng vì nghiệp tập chúng ta quá dày, nên khi tu là bỏ nghiệp tập, chứ không phải cầu Phật tánh. Cho nên chúng ta chỉ có buông, buông, buông... chứ không thêm gì khác. Khi nhận được cái thật rồi, cũng không nói nhờ bỏ cái giả mà được cái thật.

Bệnh tại chỗ lấy một bỏ một, tức là lấy chân bỏ vọng. Đa số chúng ta thường than thở tu mà vọng hoài thật khổ nên muốn cầu chân hết vọng. Bây giờ chỉ ngay nơi vọng, biết thể vọng vốn là chân, vậy cầu chân làm gì? Càng cầu càng lầm, lại không có chỗ được.

Không khéo dụng tâm chẳng được yếu thuật, mờ mịt không hiểu, mỗi ngày cách đạo càng xa. Người không khéo dụng tâm chẳng được yếu thuật, mờ mịt không hiểu, mỗi ngày cách đạo càng xa. Yếu thuật ở đây là không theo vọng cũng không theo chân. Khi đi đứng nằm ngồi, vừa dấy niệm liền biết nó là bóng dáng không thật. Chỉ cần lặng lẽ biết, chứ không theo thì tự nó hết. Đây là yếu thuật đơn giản mà kết quả lại rất tốt.

Nhiều vị mới tu hăng hái lắm, nhưng tu một thời gian dụng công hết nổi, đối cảnh phiền não, nhìn thấy ở đâu cũng rắc rối nên mệt, nghỉ tu. Thật ra, do chúng ta tu sai nên bị tẩu hỏa nhập ma, chứ yếu thuật của việc tu rất đơn giản. 

Nếu an tọa tinh thần, chẳng nhọc tự biện biệt. Đại sư Đạt-ma bảo ông Dương Huyễn Chi rằng:

Cũng chẳng bỏ trí mà gần ngu,

Cũng chẳng bỏ mê mà đến ngộ.

Đạt đại đạo chừ quá lượng,

Thông Phật tâm chừ vượt bậc.

Chẳng cùng phàm thánh đồng hành,

Siêu nhiên gọi đó là Tổ.

Nếu an tọa tinh thần thì chẳng nhọc tự biện biệt, tức tinh thần được vững vàng, an trú. Chữ an tọa là ngồi yên, nhưng tinh thần thì không ngồi không đứng. Tinh thần không có hình tướng. An tọa ở đây là nói tâm định tĩnh yên ổn, thì không nhọc tự biện biệt.

Dương Huyễn Chi hỏi tổ Đạt Ma thế nào là đạo? Tổ đáp chẳng bỏ trí mà gần ngu, chẳng bỏ mê mà đến ngộ. Trí với ngu, mê với ngộ là một cặp đối đãi. Bây giờ chẳng bỏ bên này cũng chẳng nhận bên kia, ở chỗ chân thật thì không còn sự chọn lựa, không còn thủ xả, nên nói chẳng bỏ trí mà gần ngu. Chỉ ngay cái ngu mà biết ngu là trí, ngay cái mê biết mê là ngộ. Người biết được như vậy thì đạt đại đạo.

Ở đây ngài muốn nói chỗ rốt ráo không có hai bên, không cần biện biệt, chọn lựa. Thấy liền thấy, nhận liền nhận, rất hồn nhiên. Đạt đại đạo chừ quá lượng, người đạt đại đạo thì không có hạn lượng, ngằn mé.

Thông Phật tâm chừ vượt bậc, thông được tâm Phật thì vượt tất cả thứ lớp, ngôi bậc, không bị các hình thức câu thúc, gò bó. Chẳng cùng phàm thánh đồng hành, người vượt khỏi hai bên phàm thánh, siêu nhiên gọi đó là Tổ.

Ông Dương Huyễn Chi hỏi tổ Đạt Ma thế nào là Tổ, ngài Đạt Ma đáp Tổ là một vị sống rất tự tại, không bị cột trói bởi ranh giới nào, khuôn vức nào. Người siêu nhiên, vượt ngoài tất cả gọi là Tổ.

Chẳng chấp bỏ một bên, đến một bên. Phải biết rõ ràng rành rẽ, rõ ràng tác dụng, nhận thẳng hội lấy, chuyển phàm thành thánh, điểm sắt thành vàng. Cần yếu được lối tắt, không thể chẳng như thế mà nghiên cứu. Chỉ e người chạy theo hai đầu, một đã chẳng thành, hai lại chẳng phải. Chẳng biết huyền chỉ, luống nhọc niệm tịnh. Nhị thừa do đoạn phiền não mà được chứng đạo, gọi là tu thiên lệch. Chẳng bằng ứng niệm liền hóa thành vô lượng, hiểu biết ấy rất nhanh chóng.

Theo cách nghĩ thông thường, chúng ta tu tập là sửa đổi dần dần. Như trước đây mình nóng giận, nhờ tu sửa từ từ, bây giờ cũng có giận nhưng không dữ dằn như trước. Đó là quan niệm tu tiến của những người bình thường. Thiền gia thì không như vậy.

Chẳng chấp bỏ một bên, đến một bên. Phải biết rõ ràng rành rẽ, rõ ràng tác dụng, nhận thẳng hội lấy, chuyển phàm thành thánh, điểm sắt thành vàng. Nghĩa là đừng cho đây là hy vọng để tìm chân, đây là mê để tìm ngộ. Chỉ ngay nơi vọng biết chân, ngay nơi mê biết ngộ. Cho nên có bài kệ:

Tạc nhật Dạ-xoa tâm,

Kim triêu Bồ-tát diện,

Dạ-xoa dữ Bồ-tát,

Bất cách nhất điều tuyến.

Dịch:

Hôm qua tâm Dạ-xoa,

Bữa nay mặt Bồ-tát,

Dạ-xoa cùng Bồ-tát, 

Không cách một đường tơ.

Tác giả bài kệ là một tay đồ tể ngộ đạo. Đồ tể thì cùng hung cực ác, không xúc động trước sự thống khổ của chúng sanh nên mới cầm dao giết con này con kia. Vậy mà ngộ đạo buông dao viết bài kệ như thế. Chỗ này không phải học mà nhận ra được, cũng không thể lý giải, chỉ có tu chứng mới biết.

Nhận thẳng hội lấy, chuyển phàm thành thánh, điểm sắt thành vàng. Chuyện tu từ từ đối với thiền gia không có. Tu như thế là chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, còn tổ sư dạy ra khỏi sanh tử, nên còn nghiệp là chưa được. Nhận từ đâu? Từ ngay sáu căn, nên nói nhận thẳng. Từ thấy nghe, xúc chạm mà nhận ra mình có tâm chân thật, không chạy theo các nghiệp trần, lập tức chuyển phàm thành thánh, diệu dụng vô ngần. Điểm sắt thành vàng nghĩa là diệu dụng. Người sống được với chính mình thì có diệu dụng khó nghĩ lường. Cũng lời nói đó, hành động đó, ánh mắt đó, nụ cười đó nhưng đem lại niềm vui cho mọi người thì gọi là "điểm sắt thành vàng".

Chỗ này rất quan trọng. Mê và ngộ không cách một đường tơ, bởi vì trở về bản tâm thì không hai, làm gì có cách? Như khi chúng ta thấy cái bát dơ và cái bát sạch, bát có dơ sạch nhưng cái thấy không dơ sạch. Người đồ tể khi chưa nhận ra tâm tánh thì có tướng lành dữ, nhưng đã nhận ra tâm tánh rồi thì đâu còn tướng lành dữ, chỉ có tâm chân thật không hình tướng. Nên nói Dạ-xoa và Bồ-tát không cách một đường tơ. Thế nên Phật nói "mê là chúng sanh, giác là Phật", không có chuyện từ từ, vì đó là chỗ phi thời gian không gian.

Chuyện tu tập nói dễ mà hành khó. Trên lý thì nói thượng thừa nhưng trên thực tế, chúng ta té chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt. Hồi nhỏ, chúng tôi đã từng tranh nhau một thúng phân bò mà phiền não mấy ngày trời. Vì sao? Vì cơ bản chúng ta chạy theo cảnh mà quên mình. Cả đời chúng ta giong ruổi dù chỉ ở chùa, chớ không đi đâu. Giong ruổi trong tâm. Cứ hướng theo người, cảnh hoặc sự việc do đó không nhận thẳng hội lấy. Thành ra thiền sư Minh Chánh tặng cho hậu sanh hai câu thơ đau điếng:

Chẳng biết bản lai vô nhất vật,

Công phu luống uổng một đời ai.

Cần yếu được lối tắt, không thể chẳng như thế mà nghiên cứu. Chỉ e người chạy theo hai đầu, một đã chẳng thành, hai lại chẳng phải. Cần yếu được lối tắt là thấy thẳng. Nếu muốn nghiên cứu chỗ tột thì phải ngay thấy thẳng đó mà nhận, đừng chạy theo hai đầu. Nếu chạy theo hai đầu, bỏ vọng cầu chân, chân không thành chân, vọng không hết vọng. Như vậy một không thành, hai chẳng phải, cái nào cũng không xong.

Chẳng biết huyền chỉ, luống nhọc niệm tịnh. Người không biết được yếu chỉ mầu nhiệm này, cứ nhọc nhớ về tịnh thì càng nghĩ tịnh lại càng không tịnh. Vì tịnh là cái không suy nghĩ, vừa suy nghĩ là động rồi. Nhiều người nói tâm yên nhưng thật sự vẫn còn động. Yên là ít dao động, ít suy nghĩ, ít vọng tưởng như xưa, chứ chưa nhận ra được cái thật của mình. Chúng ta tu nếu chỉ lập cước trên năm tháng, trên trình tự chuyển hóa, cho đó là công phu thì chưa được, cần phải tiến lên, chuyên sâu hơn nữa. 

Nhị thừa do đoạn phiền não mà được chứng đạo, gọi là tu thiên lệch. Nhị thừa chứng đạo mà Phật còn chê, gọi là tu thiên lệch, vì chưa nhận ra chân tâm. Hàng Nhị thừa cho rằng dùng phương tiện đoạn được phiền não là chứng đạo, mà không biết còn phiền não để trừ tức còn có hai. Cho nên được đạo chỉ là đạo một bên, chưa phải cứu cánh.

Chẳng bằng ứng niệm liền hóa thành vô lượng, hiểu biết ấy rất nhanh chóng. Ứng niệm liền hóa thành vô thượng, là ngay niệm đó liền hóa thành vô thượng, hiểu biết ấy rất chóng. Nói chóng chứ thật sự là phi thời gian. Ứng niệm là ngay mỗi niệm, niệm nào cũng được, không nhất thiết niệm thiện hay niệm ác, nếu chúng ta thức tỉnh thì ngay đó liền thành vô thượng. Vì sao? Vì khi đã thức tỉnh thì niệm đâu còn, chỉ có một tâm hằng biết nên nói vô thượng. Đó là yếu thuật từ trước tới nay, thiền sư nào cũng nói như thế. Chúng ta khéo nhận thì việc tu hành nhẹ nhàng mà kết quả lại cao.

Bây giờ chúng ta phải làm sao đừng chạy theo cảnh, thấy cảnh liền nhớ tánh giác. Lúc ngồi thiền, vọng tưởng vừa dấy lên, chỉ cần thấy, không chạy theo, không nói buông, tự động vọng tưởng lặng. Nếu vọng tưởng không lặng cũng không quan tâm, chỉ biết là được. Vọng tưởng là bóng dáng tiền trần khởi trong tâm nên có chuyện lặng, chứ như bình bông trước mắt, ta nhìn thấy nó bằng tánh thấy, chẳng lẽ nó phải lặng! Tánh thấy, tánh nghe, tánh biết không dính dáng gì tới sự sanh diệt các pháp.

Hay ở chỗ là các pháp không lặng mà mình vẫn không chạy theo. Như thị. Vì thế chư Phật mới sử dụng vọng tưởng, chớ nếu cứ biết là nó lặng, biết là nó lặng, chắc Phật Bồ-tát không làm việc được. Cho nên Hòa thượng Trúc Lâm nói như ngỗng chúa uống sữa chừa nước, vọng tưởng lên chỉ cần biết là đủ rồi.

Khi nhìn thấy bình bông chúng ta có sợ nó không? Dĩ nhiên là không. Vậy tại sao mình lại sợ vọng tưởng? Bình bông không khác gì vọng tưởng, cả hai đều là trần. Bình bông thuộc sắc trần, vọng tưởng thuộc pháp trần. Bình bông là trần cảnh bên ngoài, vọng tưởng là pháp trần tức bóng dáng của các trần lưu lại trong tàng thức. Thấy bình bông trực tiếp ta còn không sợ, huống chi bóng dáng của bình bông mà lại sợ.

Thế nhưng khi tu thiền sinh lại rất sợ vọng tưởng. Tại sao chúng ta sợ? Vì mất mình, chạy theo vọng tưởng. Tu mà còn sợ như vậy thì cố gắng thế mấy vẫn sai tông chỉ, càng tu càng nhọc nhằn. Ngay cả thanh tịnh cũng chỉ là một trạng thái gượng ép, chứ không tự nhiên. Tánh thấy, tánh nghe, tánh biết túc trực thường xuyên, bình bông hay vọng tưởng khi có khi không. Một cái thật, một cái giả. Mình nhận cái thật, còn cái giả đâu cần quan tâm mà sợ hay không sợ.

Hòa thượng nói một vị tu sĩ thấy sắc không dám nhìn là vì còn dính nên mới sợ, sợ nhìn rồi gỡ không ra. Như vậy là đã dính từ lúc không dám nhìn. Tại sao? Vì còn lầm nó nên mới dính. Pháp tu này khi nhận được yếu thuật thì ứng dụng rất nhẹ nhàng, hồn nhiên. Tóm lại, càng gần chỗ chân thật càng đơn giản, nếu rắc rối thì không phải chỗ chân thật.

Các thiền sư khi tu không ngại cảnh. Chúng ta còn ngán cảnh là vì dụng công chưa tới. Phải nhận ra được cái thật của mình thì đường tu vừa nhanh chóng vừa nhẹ nhàng. Người chưa nhận được thì đành đi đường đèo. Đường đèo lắm quanh co mà lâu tới nhà, cứ vòng núi ngoạn mục chơi cho vui. Khi gặp quý cụ lớn tuổi, Hòa thượng Trúc Lâm thường hỏi: Lúc này có niệm Phật không? Dạ có. Ờ, mấy cô ráng niệm Phật nghe. Đó là đi đường đèo, vì Hòa thượng biết các cụ già đi đường chim sợ té. Tùy duyên, tùy căn cơ Ngài giáo hóa, không cố định pháp nào cả.

Người tu hành khi gặp phiền não khởi thì phải làm sao? Cổ nhân nói: Chỉ dùng chánh tri kiến trị nó. Tôi thì chẳng thế, chỉ dùng phiền não trị nó. Nhìn lại phiền não này, liền chẳng thấy có phiền não. Tại sao? Phiền não không thể lại trị phiền não, như lửa không thể tự đốt lửa, nước lại chẳng ướt nước, vì thể tánh đồng một, không thể được hiện bày. Đây rõ vọng tưởng vốn không, chẳng cần trừ đẹp. Nếu khởi trí đoạn trị, đè dẹp, lại thành dụng tâm khác. Có đối đãi là bị hai cảnh lôi quanh, dù có được cũng cong vạy phần hạn. Người tu hành phải đi đường thẳng tắt là trên hết. Cổ nhân nói: Kiếp hỏa từng đem không hơi thổi, chẳng nhọc công lực liền đó hết. Đó là ý này vậy. 

Người tu hành khi gặp phiền não khởi thì phải làm sao? Cổ nhân nói: Chỉ dùng chánh tri kiến trị nó. Tôi thì chẳng thế, chỉ dùng phiền não trị nó, nhưng ngài Thanh Viễn thì không như thế, ngài dùng phiền não để trị phiền não. Lúc đó trong tay đang có gậy phiền não thì lấy ngay gậy này mà đập.

Thí dụ mình nổi sân, bây giờ làm sao để trị? Không cần lấy cái gì khác, chỉ cần tìm xem cái sân, cái phiền não ở đâu, hình dáng ra sao. Ngay đó thấy sân, phiền não không thật. Tìm lại cội nguồn thì nó không có nên tự tan hoại, nghĩa là lấy nó trị nó. Như ngài Huệ Khả thưa với tổ Đạt Ma: "Tâm con không an, xin Hòa thượng an tâm". Tổ Đạt Ma bảo: "Đem tâm ra ta an cho". Huệ Khả tìm hoài không thấy, nên thưa: "Con tìm tâm không được". Tổ Đạt Ma bảo: "Ta đã an tâm cho ngươi rồi". Không cần đem pháp khác dạy an tâm, chỉ cần quay lại tìm tâm bất an xem nó ở đâu, tìm không thấy thì nó tự an. Đó cũng là yếu thuật chung của nhà thiền.

Tại sao? Phiền não không thể lại trị phiền não, như lửa không thể tự đốt lửa, nước lại chẳng ướt nước, vì thể tánh đồng một, không thể được hiện bày. Đây rõ vọng tưởng vốn không, chẳng cần trừ đẹp.

Phiền não xuất phát từ vô minh chấp ngã. Vô minh là tối, đã tối thì đâu còn sáng để trị tối. Nếu xét sâu hơn, phiền não tánh Không. Khi nổi phiền não, chỉ cần đưa nó về tánh Không thì phiền não tự lặn, đâu có gì để trị. Cho nên nói phiền não không thể trị phiền não. Ngài giải thích thêm: Thí như lửa không thể tự đốt lửa, nước không thể làm ướt nước, vì thể tánh là một, đâu thể trừ diệt nhau. Đây rõ phiền não vốn không, chẳng cần trừ dẹp. Nhìn ra được thật tướng các pháp là không thì tâm tự thanh tịnh, không phải khởi phiền não để trừ dẹp gì cả. 

Nến khởi trí đoạn trị, đè dẹp lại thành dụng tâm khác. Khởi trí đoạn trừ, dè dẹp lại là một dụng tâm, niệm niệm đuổi nhau, càng thêm rối rắm. Tu như ngài Thanh Viễn dạy rất khỏe, không phí sức mà mau an lạc.

Có đối đãi là bị hai cảnh lôi quanh, dù có được cũng cong vạy phần hạn. Tu trong đối đãi thì chưa đi đến được chỗ rốt ráo, vẫn còn tâm phân biệt, nên nói hai cảnh lôi quanh. Như hàng A La Hán tuy đã thành tựu thánh quả, nhưng các ngài ngán sợ sanh tử, ưa thích Niết-bàn nên vẫn bị Phật quở, ở đây Tổ nói dù có được cũng cong vạy phần hạn.

Người tu hành phải đi đường thẳng tắt là trên hết. Cổ nhân nói: Kiếp hỏa từng đem không hơi thổi, chẳng nhọc công lực liền đó hết. Khi trái đất đến thời kỳ hoại, kiếp hỏa nổi dậy, khắp quả đất đều cháy rụi, mọi loài đều tiêu tan. Người tu đường tắt cũng vậy, chẳng nhọc công lực liền đó hết. Nghĩa là khi ánh sáng trí tuệ đầy đủ, tự động các phiền não, vọng tưởng lặng hết, không cần phải đuổi dẹp, chẳng nhọc công lực mà chúng tự tan biến.

Có khi ngồi tĩnh tọa tâm niệm chạy lăng xăng, hoặc lúc gặp việc hoàn toàn mất hết, đều bởi chưa được thân chứng. Bởi rơi vào hai, vào ba, đến sanh lầm lẫn lần lượt mất sạch. Cổ nhân nói: "Động tĩnh chẳng hai, chân vọng chẳng hai." Ngài Duy Ma nói: "Rõ tất cả pháp đều vào pháp môn bất nhị". Nếu nhận lãnh yếu chỉ này thì muôn cái động tự tịch diệt. Như mắt không đến sắc, sắc không đến mắt, tiếng chẳng đến tai, tai chẳng đến tiếng, mỗi pháp đều như thế. Nguyên là kho công đức của tự tâm, nên không thể lấy bỏ. Người khế ngộ đến đâu mà chẳng có lợi, đây chính là Na-già đại định.

Có khi ngồi tĩnh tọa tâm niệm chạy lăng xăng, hoặc lúc gặp việc hoàn toàn mất hết, đều bởi chưa được thân chứng. Ngồi tĩnh tọa mà tâm niệm chạy lăng xăng thì đâu thể gọi là tĩnh tọa, mà là ngồi vọng tưởng hay ngồi phiền não.

Hoặc lúc gặp việc hoàn toàn mất hết, lúc gặp việc hoàn toàn mất hết tự chủ đều bởi chưa được thân chứng. Ngồi vọng tưởng thì chỉ có thân chứng vọng tưởng, làm sao thân chứng được chỗ an vui chân thật.

Bởi rơi vào hai, vào ba, đến sanh lầm lẫn lần lượt mất sạch. Chúng ta không chỉ rơi vào hai, vào ba, mà còn trăm ngàn cho tới vô lượng nên sanh lầm lẫn, lần lượt mất sạch, tức là mất hết kho báu nhà mình. Chúng ta cả ngày chạy theo cảnh. Thấy mưa chạy theo mưa, nắng chạy theo nắng, gió chạy theo gió, mây chạy theo mây, người chạy theo người... thành thử mất sạch là đúng rồi.

Cổ nhân nói: "Động tĩnh chẳng hai, chân vọng chẳng hai." Ngày Duy Ma nói: "Rõ tất cả pháp đều vào pháp môn bất nhị". Nếu nhận lãnh yếu chỉ này thì muôn cái động tự tịch diệt. Động tĩnh chẳng hai, chân vọng chẳng hai, vì tánh nhất như. Khi động biết động nguyên thể là Không, tức lặng ngay cái động. Khi vọng biết vọng không thật, vọng lặng xuống tức là chân. Như vậy động và lặng chẳng hai, chân vọng nào cách biệt.

Ngài Duy Ma nói: "Rõ tất cả pháp đều vào pháp môn bất nhị". Nếu nhận lãnh yếu chỉ này thì muôn cái động tự tịch diệt. Vì sao? Vì tánh thật của các pháp là Không. Khi thấy được như thế thì cái động tự tịch diệt.

Như mắt không đến sắc, sắc không đến mắt, tiếng chẳng đến tai, tai chẳng đến tiếng, mỗi pháp đều như thế. Tổ sư thì "trọn ngày nghe mà chưa từng nghe, trọn ngày thấy mà chưa từng thấy" tức là mắt không đến sắc, sắc không đến mắt... Còn chúng ta thấy liền dính nên bị vướng mắc, trói buộc.

Hồi trước có lần nghệ sĩ Bạch Tuyết ghé Linh Chiếu vào giờ chỉ tịnh. Huynh đệ chúng tôi đang ngủ ngon, nhưng có vị còn làm việc nên phát hiện ra cô. Thế là không cần kiểng báo thức, chị em chuyền tai nhau nhỏ thôi là toàn chúng bật dậy. Ni sư trụ trì khen: Giỏi quá ha, bữa nay không ai nướng thêm phút nào. Phải chi ngày nào nghe kiểng thức chúng, mấy huynh đệ cũng được như vậy thì tốt quá!

Thế là cô ngó qua mình ngó qua, cô ngó lại mình ngó lại, dù cô không hề biểu mình làm như vậy. Lúc đó không biết ai mới thật sự là người đóng tuồng. Nghệ sĩ hay tu sĩ? Thật buồn cười. Mình tự nguyện đi theo, tự nguyện vướng mắc, tự nguyện trói buộc rồi kêu Phật gỡ giùm con! Phật bảo: Không có lẽ ấy vậy. Đây chỉ là một đơn cử thôi. Trong cuộc sống chúng ta còn nhiều trói buộc hơn thế nữa, lạ đời hơn thế nữa. Cái khổ này gọi là cái khổ của người kẻ vừa ăn cắp vừa la làng. Thật là kỳ cục.

Mỗi pháp đều như thế. Nguyên là kho công đức của tự tâm, nên không thể lấy bỏ. Tâm không duyên theo sắc theo tiếng thì sắc là kho công đức, tiếng cũng là kho công đức. Khi chúng ta khế ngộ được như vậy thì ở đâu cũng trong Na-già đại định.

Bấy giờ không có pháp nào đến với pháp nào, mắt thấy sắc tâm thanh tịnh, tai nghe tiếng tâm thanh tịnh... đó là kho công đức của tự tâm. Ta thấy như thật thấy, nghe như thật nghe, các pháp thoải mái không bị chúng ta bóp chết. Mình thì thương hay ghét gì, các pháp cũng không thở được với mình, do vậy không có kho công đức của tự tâm.

Khi khế ngộ được như vậy rồi thì ở đâu cũng trong Na-già đại định. Sống trong đại mộng vẫn là Na-già đại định.

Đời này sanh ra liền tự nhận là người học đạo, vì đời trước từng gieo trồng căn lành, bởi có cội gốc liền biết phát tâm, cũng biết khởi nghi, ngay nơi mình mà tầm cứu, lại phiền não chướng mỏng yếu, có nhân có duyên, nên người này dễ được hóa độ.

Khi chúng ta sanh ra đời, chưa có ai khuyên bảo mà tự phát tâm mộ đạo. Đây là đã từng gieo trồng căn lành đời trước, nên ngày nay ra đời mộ đạo sớm, chứ không phải ngẫu nhiên.

Lục Tổ ngày xưa là một tiều phu đốn củi, không biết chữ. Khi nghe khách tụng kinh Kim Cang, bỗng nhiên tâm địa rỗng rang như đã quen biết lâu đời. Từ đó có động lực thúc đẩy Ngài về sắp xếp việc gia đình, lo cho mẹ già, rồi tìm nơi đang giảng kinh Kim Cang để nghe. Nếu Ngài không có túc duyên thì sẽ không bao giờ có chuyện đó.

Chúng ta còn trẻ, chưa có gia đình mà đã sớm đi tu, chắc chắn đời trước có gieo trồng căn lành với Phật pháp. Quý vị có gia đình rồi xuất gia, tuy có gieo duyên với Phật pháp, nhưng cũng gieo duyên với thế gian. Gieo duyên với thế gian, phải gặp gỡ nhau để trả, trả xong rồi mới được đi con đường mình mong muốn.

Nếu không có nhân duyên học đạo chúng ta sẽ không có niềm vui trong đạo. Chúng ta gieo duyên gì thì đời sau chắc chắn sẽ theo duyên đó. Vì thế không sợ đời sau ra đời mình không gặp Phật pháp, nếu đời này miên mật công phu thì đời sau cũng siêng năng tinh tấn tu hành. Hiện nay, có nhiều em nhỏ nghe kinh nói lý giỏi hơn cả người lớn, mà không phải do chúng ta dạy. Đó là do túc duyên. Điều này chứng tỏ đời trước đã có tu.

Tu tập là một chuyển hóa lớn ngay hiện đời và luôn cả đời sau. Phật tử mỗi khi gặp thất bại, lại điện thoại cám ơn quý thầy cô, báo tin mừng con vừa trả thêm một món nợ. Ngày trước gặp trường hợp như vậy, không có giáo pháp là đã quỵ rồi. Giáo pháp đã nâng cuộc sống của họ, giúp họ có thể sống tiếp tục và ngày càng giảm bớt lệ thuộc vật chất. Thế thì, Phật pháp không nhiệm mầu là gì? Học Phật để chúng ta có một niềm tin vững chắc, có được sự phấn chấn trong lúc tu hành.   

Bởi có cội gốc liền biết phát tâm, cũng biết khởi nghi. Khởi nghi có hai trường hợp. Thứ nhất, nếu không tu thoại đầu, nghe pháp không hiểu liền khởi nghi. Nhờ khởi nghi nên hỏi, nhờ hỏi nên giải nghi, nhờ giải nghi nên hiểu đạo sâu sắc hơn. Khởi nghi như thế là do có chủng duyên với Phật pháp. Người nghe Phật pháp mà không quan tâm sẽ không bao giờ nghi. Nghe lỗ tai này lọt qua lỗ tai kia, sao cũng được, hiểu cũng được, không hiểu cũng được, đó là không có duyên sâu với Phật pháp.

Thứ hai, là cái nghi của người tu khán thoại đầu. Đây là người có duyên với thoại đầu mới có thể khởi nghi tình, thuộc về lãnh vực chuyên tu. Chúng ta không tu thoại đầu, nên không lạm bàn chỗ này.

Cả hai trường hợp trên đều do có gieo trồng chủng duyên với Phật pháp nên mới như thế.

Ngay nơi mình mà tầm cứu, lại phiền não chướng mỏng yếu, có nhân có duyên, nên người này dễ được hóa độ. Nhờ phiền não chướng mỏng yếu, khi có nhân duyên người này dễ được hóa độ.

Nếu người chưa huân tập tâm này thì chánh tín chẳng sanh, dù có nghe cũng chẳng sanh nghi, chỉ như gió thổi qua tai, khuyên dạy lại sanh tâm sân hận phỉ báng thì có duyên gì mà được hiển này. Do đó, nên trong ngàn người muôn người chỉ có được một, hai người mà thôi.

Người nhân duyên mỏng, phước ít dù nghe chỉ dạy cũng không thức tỉnh, không biết hối cải mà còn nổi giận, phỉ báng Phật pháp. Cho nên nói người không có duyên đời trước, bây giờ khó giáo hóa. Bởi không giáo hóa được nên họ không có duyên hiển bày tâm thể. Do vậy trong ngàn muôn người chỉ có một hai người nhận được tâm thể, đâu phải ai cũng nhận được, ai cũng có duyên lành.

Nếu người tự hiểu tạo kế sống, thâu thập được đầy đủ thì đời đời từ đây mà đi, lần lượt sáng suốt nhạy bén, lại không thối thất công đức, một đời hơn một đời, vào khuôn vức của chư Phật, thường cùng sự tương ưng, dù sanh trên trời, cõi người cũng chỉ như thế, có đối đầu với ngũ dục, bát phong và tất cả cảnh giới đều cùng lý phù hợp, chẳng đi trong tam đồ, chỉ một vị bình đẳng chánh tri kiến, lại còn việc gì. 

Nếu người tự hiểu mình có Phật tánh, biết tạo kế sống, tức sống lại với tâm chân thật thì có đầy đủ diệu dụng. Từ chỗ thấy đạo mà đi, lần lượt mỗi đời mỗi đời đều tiến lên, không bao giờ lui sụt. Dù ở trong hoàn cảnh nào, gặp bất cứ việc gì người ấy cũng sống phù hợp với đạo. Hoặc gặp bát phong, ngũ dục đều vượt thoát, không rơi trong tam đồ, hằng sống bằng chánh tri kiến bình đẳng.

Người tu phải gan dạ thấy rõ việc đó, tin chắc việc đó, hằng sống trong đó, đừng bị những lý luận hay lời xuyên tạc làm lung lay. Ngay đời này, từ chỗ mình nhận được mà đi, lần lượt sáng suốt nhạy bén, không thoái thất công đức một đời hay hơn một đời, mỗi đời sẽ tiến hơn một chút. Đời này được năm phần công đức thì đời sau được sáu phần, rồi đời sau nữa được bảy tám cho đến khi nào viên mãn mới thôi.

Sống bằng chánh tri kiến bình đẳng, đâu còn việc gì khác. Từ trước đến giờ chúng ta đã đi qua nhiều đoạn, những chỗ tâm yếu mà thiền sư Thanh Viễn đã nhắc đi nhắc lại. Đến đây Ngài nhắc nhở chúng ta đã gặp nhau trong hội này, ắt là có duyên từ đời trước. Đã có duyên với nhau thì phải thông cảm rồi giúp đỡ, hỗ trợ nhau tu tập.

Chúng ta cùng một lý tưởng, gặp nhau trong hình thức người tu, chứng tỏ là duyên tốt. Lâu lâu có những bất đồng nho nhỏ, đó chỉ là những thứ không đáng kể so với nhân duyên Phật pháp lớn lao. Vậy nên, không có lý do gì chúng ta lại vì cái nhỏ bỏ cái lớn. Hãy cùng nhau sách tấn đi trên con đường Phật đạo dài lâu, để được giác ngộ giải thoát.

Phật dạy trong các loại hương thì hương đức hạnh ngược gió bay xa. Người đức hạnh là người hiền lành, có nếp sống tu tập vững chãi, có đạo đức, không để ý chuyện của người, chỉ lo chuyện của mình. Tôi tròn việc của mình cũng chính là an ổn cuộc sống mọi người chung quanh. Luôn phản chiếu lại mình, thấy lỗi liền sửa, đối với người bằng tấm lòng vị tha. Được như vậy thì đời này đã tu, đời sau sẽ tu nhiều hơn. Nếu đời này tu hồi 19 tuổi thì đời sau rút lại còn 9 tuổi, đời này tu lúc 9 tuổi thì sau tu từ trong bụng mẹ.

Như ngài Pháp Loa từ trong thai mẹ đã phát hào quang. Mẹ Ngài mang thai những lần trước đều là gái nên bà chán ngán. Đến khi mang thai Ngài, bà phá thai vì sợ lại là gái nữa. Bà phá đủ cách nhưng không thành. Thai nhi ở trong bụng mẹ, mỗi tối trong nhà đều phát hào quang, đó là do chủng tử tu chiêu cảm nên vậy.

Thiền sử ghi lại Ngũ tổ Hoằng Nhẫn là hậu thân của Tài Tòng đạo giả. Tài Tòng tuổi đã già, mặc dù tu rất lâu nhưng chưa triệt ngộ. Khi gặp Tứ tổ Đạo Tín, chỉ nghe một câu nói liền cảm thấy có duyên, muốn theo làm đệ tử. Ông thưa: "Con gặp Ngài muộn quá, bây giờ phải làm sao?" Tứ Tổ bảo: "Nếu ông chuyển thân ngay thì ta chờ". Sau đó Tài Tòng mất và tái sanh vào nhà một cô gái giặt lụa bên bờ sông. Đến 11 tuổi, vừa gặp tổ Đạo Tín đã mừng rỡ và xin theo xuất gia tu hành, sau trở thành Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.

Tất cả các pháp đều có duyên, không phải tự nhiên. Vậy nên, chúng ta không thể coi trọng hay xem thường bất kỳ ai. Dù người ấy tu lâu hay mới tu. Vì có thể đời này tuy trẻ nhưng đã tu từ những đời trước, nếu nhìn theo tuổi tác mà đoán công phu sẽ không đúng. Dòng luân hồi rất dài, ngày hôm nay ở đây chúng ta trẻ, không có nghĩa là trẻ mãi mãi, mà đã từng già trong quá khứ. Bây giờ là con, hồi trước là cha mẹ hay ông bà của nhau. Thế nên, trong vòng luân hồi sanh tử không thể nói ai lớn hơn ai, ai nhỏ hơn ai.

Sanh tử không thể chẳng sợ, phải rõ một đoạn tình ngụy sanh tử này mới được an lạc không gì hơn.

Sanh tử không thể chẳng sợ, tức là không thể giỡn ngươi với sanh tử. Phật bảo chúng sanh sanh đi tử lại vô số lần, mỗi lần như vậy nước mắt chảy nhiều hơn nước biển, nên không thể không sợ sanh tử.

Phải rõ một đoạn tình ngụy sanh tử này mới được an lạc không gì hơn. Tình ngụy sanh tử tức là tâm sanh tử hư giả. Thường chúng ta cho sanh tử là thật nhưng với người thấy đạo, sanh tử chỉ là giả dối không thật, vì thế thân tâm tự nhiên an lạc.

Trong kinh Lăng Nghiêm nói nếu người tình nhiều tưởng ít thì đi xuống, còn người tưởng nhiều tình ít thì đi lên. Như vậy tình nhiều thì trôi lăn dài lâu trong sanh tử. Chúng ta nghĩ sanh tử có thật, không biết nó chỉ là tình ngụy. Ở đây Tổ muốn nói cho chúng ta biết sanh tử vốn không thật, đừng chạy theo nó nữa. Không theo nó thì được an lạc, chấm dứt sanh tử.

Thân tâm là mối lụy. Thân như gông cùm, phải biết chỗ thân đi đến. Tâm như khỉ vượn, phải biết chỗ tâm khởi diệt. Hai cái này từ chỗ nào mà đến đi khởi diệt? Ắt thân tâm tròn sáng, trong ngoài nhất như mà thôi.

Vì sao nói thân tâm là mối lụy? Vì thân như gông cùm. Khi nó bệnh hay sắp hoại diệt làm cho chúng ta đau khổ bức bách khó chịu, muốn sống không được muốn chết cũng không xong. Nếu biết chỗ đi đến của thân, chỗ khởi diệt của tâm thì thân tâm được tròn sáng.

Chúng ta đã từng học rất nhiều điều Phật, tổ dạy. Thân này từ tứ đại mà có. Tứ đại là đất, nước, gió, lửa. Tứ đại hợp thành thân, trải qua một vòng sanh, lão, bệnh, tử rồi diệt. Tứ đại trả về cho tứ đại. Ngay khi thân này đang sinh hoạt, đang tạm có cũng thuộc về tứ đại. Qua ba chặng, trước khi có thân, đang khi có thân và sau khi mất thân, tứ đại vẫn là tứ đại. Như vậy thân này có chút nào là của chúng ta không? Không có. Trước khi có thân vô phần, đang khi có thân vô phần và sau khi mất thân cũng vô phần.

Đến phần tâm. Tâm chúng ta có hai phần: vọng tâm và chân tâm. Ở đây đang nói vọng tâm. Tâm như khỉ vượn, phải biết chỗ tâm khởi diệt. Tâm như khỉ vượn vì luôn lăng xăng bay nhảy, vậy chỗ khởi diệt của nó ở đâu? Không có chỗ khởi diệt. Chỉ cần biết nó không thật, thì nó tự mất.

Như khi mắt bị nhặm ta thấy hoa đốm trong hư không. Hỏi hoa đốm từ đâu có, đáp từ mắt nhặm mà có. Câu nói này nếu xét kỹ lưỡng thấu đáo thì không đúng. Vì con mắt nhặm có sanh được hoa đốm không? Nếu có, hoa đốm phải từ mắt nhặm bay ra. Điều này không có. Cho nên hoa đốm chỉ là ảo ảnh từ con mắt nhặm mà thôi, nó không thật có. Cũng vậy, khi hỏi vọng tưởng từ đâu mà có? Nó cũng chỉ là ảo tưởng từ tâm bất giác mà có, không nguồn gốc, không thật. Đã là vọng thì không có chỗ nơi nào cả.

Chúng sanh lăn lộn trong sáu đường cũng từ tâm bất giác mà ra. Biết được chỗ khởi diệt của nó vốn như huyễn, vọng tâm là những suy nghĩ phân biệt, được lập cước trên những bóng dáng của các trần, ta không lầm chạy theo nó nữa thì hết khổ sanh tử. Khi chúng ta nhớ lại những chuyện vui hay buồn là ôn lại các hình ảnh cũ khi năm căn tiếp xúc với năm trần. Tất cả đều đã qua đi mà mình lấy lại để buồn vui thì quả thật mê mờ. Như thế, thử hỏi làm sao chúng ta không nhổ cho được.

Trên nguyên tắc tu dễ, nhưng trên thực tế lại không dễ, vì mình quen chạy theo tâm khỉ vượn. Muốn quay lại với chánh pháp phải là người có trí tuệ, ý chí, bản lĩnh. Cho nên Tổ nói trên ngàn muôn người mới được một hai người biết tạo kế sống dài lâu.

Biết sanh tử như mộng huyễn, không có chỗ khởi diệt thì thân tâm tròn sáng, trong ngoài nhất như mà thôi.

Vả lại, tâm là ở trong thì thân ở ngoài, thân là trong thì vật là ngoài. Quốc sư bảo: "Thân tâm nhất như, ngoài thân không thừa". Thế thì không thấy có sanh tử chống lại ý mình, nên gọi là đại đạo giải thoát. Cho nên hay khiến người thấy nghe đâu chẳng được chẳng thoát, ý tưởng đâu chẳng được chẳng dứt, vật cảnh đâu chẳng được chẳng dung thông, lại còn nghi ngờ ư?

Nếu chúng ta cho tâm ở trong, thân ở ngoài hoặc cho thân ở trong, vật ở ngoài thì có hai lớp trong ngoài đối đãi nhau nên cũng là bệnh. Thấy ngoài thân có vật chúng ta khởi phân biệt, dấy niệm là sai.

Quốc sư bảo thân tâm nhất như, ngoài thân không thừa. Thân tâm nhất như ở đây là thân tâm bất sanh bất diệt, không phải thân tâm sanh diệt. Nó không hình không tướng, không có khuôn vức giới hạn, nên nói ngoài thân không thừa. Không thừa cũng không thiếu, tròn đầy thái hư.

Chỗ này, Hòa thượng Trúc Lâm dạy: Khi vọng niệm khởi lên, mình biết không thật thì nó tự tan, tự lặng. Đối với tất cả sự vật hiện hữu, chúng ta không khởi tâm phân biệt thì thân tâm nhất như.

Thế thì không thấy có sanh tử chống lại ý mình, nên gọi là đại đạo giải thoát. Sanh tử chỉ là sự tan hợp giả dối của tứ đại cho nên người đạt đạo không thấy có sanh tử. Không thích sanh tử cũng không sợ sanh tử, do đó sanh tử đâu chống lại ý mình, gọi là đại đạo giải thoát.

Cho nên hay khiến người thấy nghe đâu chẳng được chẳng thoát, ý tưởng đâu chẳng được chẳng dứt, vật cảnh đâu chẳng được chẳng dung thông, lại còn nghi ngờ ư? Cho nên hay khiến người thấy nghe thoát thấy nghe, dứt bặt ý tưởng, vật cảnh dung thông, lại còn có gì nghi ngờ ư?

Chúng ta đã học xong tác phẩm Chỉ tâm yếu cho người tu thiền của thiền sư Thanh Viễn Phật Nhãn, một tác phẩm rất chuyên về tu thiền. Ngài chỉ dạy rõ giáo nghĩa cũng như công phu hành trì, pháp tu thẳng tắt, đơn giản. Từ đó chúng ta nhận lại kho báu của mình, được nguồn an lạc vô tận.

Điều mong mỏi của Tổ sư đối với chúng ta không phải học để hiểu cho thật giỏi hoặc học để biết nhiều tác phẩm, mà làm sao sống được với tâm chân thật, ngõ hầu ngay hiện đời được giải thoát. Nếu đời này chưa xong thì đời sau tiếp tục hoàn thành sự nghiệp trí tuệ của mình. Sau đó noi gương Phật tổ, dấn thân vào đời, giáo hóa chúng sanh, giúp cho muôn loài cùng được giác ngộ giải thoát.

Đó là mục đích cứu cánh của đạo Phật.

Mục Lục