Thiền Tông Việt Nam
Tâm Yếu Nhà Thiền - Ni Sư Hạnh Chiếu
Chánh Văn - Giảng Giải (tt4)

Học giả thời nay chỉ lấy phương tiện của cổ nhân làm thiền đạo, không thể cùng cổ nhân đồng tham. Ví như người mạnh gánh một gánh nặng một trăm hai mươi cân, đi qua cây cầu khỉ mà chẳng run, chẳng nghiêng. Do sức gì phù trì mà được như thế? Bởi kia tinh thần thuần thục không tạp mà thôi. Kẻ vì đạo cũng phải như vậy.

Trong kinh nói: "Ví như con sư tử chụp voi nó dùng toàn lực, chụp thỏ cũng dùng toàn lực". Có người hỏi: "Toàn lực gì?" Đáp: "Toàn lực chẳng dối". Nếu thấy một mảy lông khác nơi tâm thì tự tan thân mất mạng. Cho nên người đạt đạo không có cái gì là chẳng phải, lực này rất lớn, chỉ vì vô biên ác giác xâm lấn, khiến nên lực dụng có kém. Nếu không có nhiều pháp khác, trạng khác, duyên khác, niệm khác thì tùy tâm biến chuyển tự tại vô ngại.

Học giả thời nay chỉ lấy phương tiện của cổ nhân làm thiền đạo, không thể cùng cổ nhân đồng tham. Người học thời nay lấy phương tiện của cổ nhân làm chỗ cứu cánh. Như đánh hét hoặc những ngôn ngữ cử chỉ của các bậc thiện tri thức đưa ra, đều chụp lấy rồi cho đó là cốt tủy của thiền, của đạo. Nếu như vậy thì không thể cùng cổ nhân đồng tham, tức là không thể nhận được tâm thể chân thật của mình.

Thế nên người thông minh học giỏi mà không tự sáng việc mình sẽ giống chiếc máy quay phim, chỉ chiếu cảnh cũ không có gì mới. Người nhớ giỏi nói hay mà không tu thì chỉ là nhai lại cái xác của cổ nhân. Người hiểu đạo bằng sức sống của mình, sẽ không nhớ từng lời kinh nhưng nắm được cốt tủy của kinh. Khi nói ra sẽ nói bằng ngôn ngữ của mình, rất sống động.

Chỗ này cũng xin nói thêm một trường hợp nữa, vì sao chúng ta mắc kẹt trên phương tiện của cổ nhân. Khi tham vấn thiện hữu tri thức là chúng ta ham tu, mong muốn mau tiến đạo, sáng đạo. Với người sơ cơ, công phu chưa thuần thục thì ngôn ngữ và cử chỉ của thiện tri thức đều trở thành khuôn vàng thước ngọc, mỗi mỗi đều được chú tâm, trân trọng. Nhưng vì chưa nhận được chỗ chân thật, nên cứ lạc trong rừng ngôn cú. Chính vì thế mà dễ mắc kẹt vào phương tiện của cổ nhân. Bây giờ được học hiểu rồi thì phải khéo ứng dụng tu. Đây mới là điều cần nhớ.

Ví như người mạnh gánh một gánh nặng một trăm hai mươi cân, đi qua cây cầu khỉ mà chẳng run, chẳng nghiêng. Do sức gì phù trì mà được như thế? Bởi kia tinh thần thuần thục không tạp mà thôi. Kẻ vì đạo cũng phải như vậy. Cổ nhân đã xong việc, như người gánh một gánh nặng một trăm hai mươi cân qua cầu khỉ, rất khó đi, nhưng các ngài đủ sức đảm đương, chẳng run chẳng nghiêng. Do đâu mà được như thế? Do tinh thuần không tạp. Cho nên cốt yếu là sự tinh thuần. Tinh là tinh chuyên, thuần là thuần nhất. Kẻ vì đạo cũng phải như vậy. Thế gian có câu "nhất nghệ tinh nhất thân vinh" chính là tinh thuần vậy. Làm việc gì tập trung việc đó, không tạp nhạp, nhất định sẽ thành công.

Chúng ta thì sao? Tinh thần yếu đuối, ý chí kém cỏi, trong tâm tạp nhạp, rất trái với người xưa. Con đường xuất thế luôn ngược dòng, phải gan dạ, mạnh mẽ, dốc hết toàn tâm toàn lực mới theo nổi. Chúng ta kiểm lại mình, chấn chỉnh tâm Bồ-đề, tập trung vào một việc này thôi. Đây là hoài bão cả đời, đâu thể dể duôi!

Phải nhớ chúng ta cũng đang gánh nặng, không chỉ một trăm hai mươi cân, mà là cả khối nghiệp tập nặng hàng vạn tấn, đi trên cây cầu sanh tử, còn nguy hiểm gấp vô lượng lần cây cầu khỉ. Phật nói chúng sanh đi trên con đường trầm luân sanh tử với những gánh nặng nghiệp lực từ vô thủy kiếp đến nay, chưa thể thoát khỏi. Chúng ta đang bước và phải tự định đoạt số phận của mình, không ai thay thế được. Ngay cả đức Phật là đấng từ bi vô lượng vô biên cũng không thể gánh thay. Vì đó là cái gánh trên vai chúng ta. Đôi vai gắn liền với đôi chân của mình, chớ không gắn liền với đôi chân Phật. Thế nên ta phải tự đi, làm sao qua được cây cầu sanh tử không run, không nghiêng mới an toàn. Còn run còn nghiêng thì sẽ không qua được trần luân sanh tử, chịu đau khổ nhiều đời.

Việc tu tập là giải quyết nghiệp tập của mình, cũng như gánh một gánh nặng đi trên cầu, phải nhìn dưới gót chân mà đi, không thể nhìn người dẫn đường. Thường chúng ta tôn kính đức Phật hay thầy tổ nên cứ hướng về các ngài mà quên chính mình. Chỉ cần nghe kỹ phương pháp tu hành, rồi buông hình ảnh đạo sư, thực tập ngay nơi mình. Còn một chút pháp cũng làm mờ tánh giác, khiến ta quên cái thật, chạy theo cái giả. Chạy theo phương tiện của thiện hữu tri thức là chúng ta đã mất mình.

Ngày xưa tăng Pháp Đạt lễ Lục Tổ mà đầu không sát đất. Tổ hỏi tại sao như vậy. Pháp Đạt trả lời vì đầu chứa đến ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa. Tổ hỏi tăng tên gì? Trả lời tên Pháp Đạt. Tổ liền hạ một ngữ: "Ông tên Pháp Đạt mà chưa từng đạt pháp. Ông tụng kinh Pháp Hoa mà đầu nặng như vậy, đủ biết bị Pháp Hoa chuyển, chứ chẳng phải ông chuyển Pháp Hoa".

Thế nên đạo lực phải tinh thuần, không tạp. Sở dĩ chúng ta tu tập chẳng tới đâu là vì tính chất tạp này. Mình có tật tham, cái gì cũng muốn biết, muốn học, muốn làm. Thích đủ thứ tạp nhạp, cuối cùng không chuyên cái nào hết. Người ta thì "nhất nghệ tinh nhất thân vinh", còn mình bá nghệ tinh nhất thân sình!

Nghiệp lực là thói quen, chúng ta có thói quen phóng ra ngoài. Lúc ngồi thiền bó tay bó chân như vậy mà vẫn phóng như thường, huống gì khi làm việc. Bây giờ phải tập điều phục con trâu hoang này, đến bao giờ người đâu trâu đó thì mới yên.

Kinh Pháp Cú có câu chuyện thế này. Chú Sa-di Tăng Hộ vừa là cháu, vừa là đệ tử của Trưởng lão Tăng Hộ. Một hôm, có vị trưởng giả thấy chú dễ thương nên đem hai cái y đến cúng dường, nói:

- Tôi có hai y, một dài một ngắn, nếu chú muốn đắp liền thì chọn cái ngắn. Nếu muốn để dành mai kia có y đẹp đắp thì chọn cái dài. Tùy chú được quyền chọn.

Chú Sa-di nghĩ mình còn nhỏ chẳng cần đắp y đẹp, nên chọn cái y dài để cúng dường cho thầy. Trên đường mang y đến cho thầy, chú nghĩ thầy sẽ vuốt đầu khen đệ tử có hiếu thế này thế nọ, nên rất vui sướng. Không ngờ chú vừa dâng y, thầy bảo:

- Con hãy cất lấy, ta đủ y rồi không nhận nữa.

Chú chưng hửng thưa:

- Con chắt chiu, hăm hở đem y này cúng dường cho trưởng lão. Nếu con đắp thì đã chọn cái y nhỏ rồi.

Thầy nói:

- Ta nhận tấm lòng của con, nhưng ta đã đủ y rồi, không thể nhận nữa.

Trong luật Phật chế, nếu tỳ-kheo đã đủ y không nhận nữa. Chú nói:

- Thầy có thể cho y cũ giữ y mới, chuyện đó được mà.

Thầy lại nói:

- Nhưng y cũ của ta còn dùng được. Ta đã bảo ta không thể nhận. Thôi con hãy cất nó đi.

Chú sa di đang đứng hầu quạt thầy bắt đầu giận, mặt chuyển sang không vui, trong bụng nghĩ: Hồi đó cậu thương mình nên mình mới theo cậu tu. Bây giờ cậu không thương nữa thì mình hoàn tục. Nếu hoàn tục tiền đâu mà về, phải bán y này. Nhưng về nhà sẽ bị mẹ rầy nên không về. Chú tính mua một con dê cái nuôi. Rồi lại sợ nó buồn bỏ đi nên phải kiếm về thêm một con dê bạn. Thế là chúng sẽ đẻ một bầy dê con. Chuyến này lời to. Bán bớt dê con mua nhà ở cho đàng hoàng. Sống một mình buồn lắm nên kiếm một người vợ. Hai vợ chồng sanh ra một thằng nhóc dễ thương. Ngày thôi nôi sẽ dẫn con đi mua đồ. Vợ vừa ẵm con vừa cầm đồ, chú giúp ẵm phụ. Vợ giãy nảy không chịu nhất định ôm con, bảo chú đẩy xe. Hai bên giằng co qua lại, chợt vuột tay thằng bé rớt xuống đất.

Lúc này giận quá chú đập vợ và mắng "đàn bà hư". Ngay khi ấy nghe tiếng "ái dà" của thầy: "Vợ con không ăn cú này, mà bể cái đầu của lão tăng rồi". Chú sa di giật mình, thì ra thầy đã biết chú nghĩ gì từ nãy đến giờ. Thầy biết nhưng không ngờ chú gõ vợ nhanh quá, nên đỡ không kịp. Bấy giờ Tăng Hộ hoảng sợ, liền quỳ mọp sám hối. Chú sa di tuy cầm quạt đứng tại chỗ nhưng đã cưới vợ, sinh con, tạo nghiệp, cuối cùng cái nghiệp này giáng xuống đầu sư phụ.

Khi chúng ta ngồi im chưa hẳn là yên đâu, đôi khi đó là lúc lẫy lừng nhất. Tâm giong ruổi rất xa, từ quốc độ này sang quốc độ khác, từ đời này sang đời khác, từ một ông Tăng Hộ bảy tuổi lại có cả bà vợ và một đứa con trai. Phật nói chúng sanh điên loạn đi mãi trong trầm luân sanh tử, không biết lúc nào mới ra. Chúng ta tu hành mà tạp nhạp không tinh thuần thì sẽ giống chú tiểu Tăng Hộ này vậy. 

Trong kinh nói: "Ví như con sư tử chụp voi nó dùng toàn lực, chụp thỏ cũng dùng toàn lực". Có người hỏi: "Toàn lực gì?" Đáp: "Toàn lực chẳng dối". Nếu thấy một mảy lông khác nơi tâm thì tự tan thân mất mạng.

Sư tử dù bắt chuột, thỏ hay voi đều phải dùng toàn lực. Người tu cũng vậy, khi đi đứng ngồi nằm, trong mọi trường hợp mỗi phút giây đều dùng toàn lực. Nghĩa là sống với tâm thể hoàn toàn, lúc nào cũng làm chủ được mình, không bị niệm khác chen vào. Nếu để nghiệp khác chen vào tức đã tan thân mất mạng.

Toàn lực là không được tự dối mình. Hai chữ tự dối rất hay. Khi người khác dối mình, ta nhận ra được, nhưng chính mình dối mình thì khó nhận ra lắm. Do đó trong khi chúng ta không dụng được toàn lực, vì đã tự dối mà không hay. Những suy tư, nghĩ tưởng tế nhị làm ta tưởng mình đã được chỗ chân thật. Đó là tự dối.

Ngồi thiền có thể nhận ra chỗ chân thật nhưng cũng dễ bị gạt. Trạng thái yên tỉnh không có vọng tưởng dễ làm ta lầm đó là bản tâm chân thật. Biết có vọng tưởng hay không vọng tưởng mới là tâm. Cũng như tánh của nước là ướt, chứ không phải tướng trong hay đục. Chỗ này không khéo, ta sẽ tự dối. Thế nên, trong lúc ngồi thiền phải toàn lực, không để một chút tạp niệm dấy lên.

Dù sao đi nữa, khi tọa thiền mà tâm không vọng tưởng vẫn khỏe hơn có vọng tưởng. Như nước trong dễ dùng hơn nước đục. Nếu chưa nhận được bản tâm thì sự yên tỉnh vẫn tốt hơn tâm lăng xăng. Quan trọng đừng lầm là được. Trong lúc tu phải cẩn thận, nên nhớ mọi thứ cứ tự nhiên là tốt. Tâm chân thật vốn sẵn có, không cần suy nghĩ, không cần giữ gìn, tự nó lưu xuất. Nếu do cố gắng mà nhận được coi chừng rơi vào tự dối. Trong bài kệ hô thiền có câu "còn có tâm tìm, toàn chẳng biết".

Nói thế có thể chúng ta bối rối, như vậy tu chi cho mệt. Thật ra tu mới không mệt, không tu mới mệt. Vì tu là xả bỏ, không kẹt chấp, trong tâm rộng rãi mênh mông, không vướng bận điều gì. Người biết tu không bao giờ nghĩ mình tu. Chỉ những vị chưa biết tu mới kẹt hình thức, cho rằng phải thế này thế kia... thành ra càng dễ phạm lỗi tự dối.

Cho nên người đạt đạo không có cái gì là chẳng phải, lực này rất lớn, chỉ vì vô biên ác giác xâm lấn, khiến nên lực dụng có kém. Nếu không có nhiều pháp khác, trạng khác, duyên khác, niệm khác thì tùy tâm biến chuyển tự tại vô ngại.

Ác giác là hiểu biết không đúng. Các vọng tưởng suy nghĩ tính toán là giác ác. Hoặc khi ta được chút yên tỉnh, rồi tự cho mình đã giác ngộ, như thế cũng gọi là ác giác xâm lấn. Niệm suy nghĩ tính toán theo từng cảnh từng việc mà hiện bày. Tuy chỉ là tâm vọng tưởng mà có thể chế được những thứ phi thường như bom nguyên tử, phản lực cơ. Huống nữa chúng ta sống với tâm chân thật thì lực dụng biết chừng nào.

Vì vậy ở đây ngài Thanh Viễn nói nếu không có nhiều pháp khác, trạng khác, duyên khác, niệm khác thì tùy tâm biến chuyển tự tại vô ngại. Sở dĩ mình không được tự tại vô ngại là vì bị các pháp, các trạng thái, các duyên, các niệm khác chi phối. Nếu không có các thứ này thì tâm thể chuyển biến tự tại vô ngại. Bấy giờ ta làm gì cũng đúng, nói gì cũng đúng, im lặng cũng đúng. Còn có một chút khởi niệm là không đúng.

Đạo chẳng cần khởi cầu, cầu đó liền mất đạo. Sự không ở chỗ dung, dung thì sự có. Chẳng cầu chẳng dung là đạo cùng sự hội, thì sự nào mà chẳng phải đạo. Ví như có kẻ mắt sáng vào trong kho báu mà không biết phương tiện là không có đèn đuốc soi sáng, vào trong liền bị đụng u đầu, trầy tay. Như thế gọi là hang độc, chứ chẳng phải kho báu.

Đạo chẳng cần khởi cầu, cầu đó liền mất đạo. Sự không ở chỗ dung, dung thì sự có. Chữ đạo ở đây là chân tâm, chỗ rốt ráo ấy không có khổ cầu. Những gì cầu mà được đều thuộc pháp sanh diệt. Lấy một nhân sanh diệt để có quả không sanh diệt là chuyện không tưởng, không bao giờ được. Tương tự như ta gieo hạt ổi mà lại muốn quả xoài, điều này không bao giờ có. Đạo có sẵn, không do khởi niệm, cầu đó liền mất đạo vì cầu là khởi niệm. Cho nên chỉ dừng vọng niệm, đừng cho nó chen vào thì đạo hiện tiền, chứ không đâu xa.

Sự không cần nhọc nhằn tiêu dung, tiêu dung thì sự có. Lúc đầu học đạo, chúng ta quán các pháp không thật, để không lầm chấp những thứ không thật, vượt thoát mê khổ. Tuy nhiên, các pháp vẫn có trong nhân duyên giả tạm, chúng ta không thể phủ nhận sự hiện hữu của nó.

Các pháp nhậm vận tùy duyên, mình không kẹt chấp cũng không từ bỏ. Cho nên ở đây nói sự không ở khổ dung, dung thì sự có. Chúng ta dùng trí tuệ nhìn thẳng, không cần bảo dung hay tiêu dung, vì các pháp vốn vô thường.

Thí dụ chúng ta không thích người nào đó, mỗi khi thấy họ mình đâm ra bực bội. Bởi thế mình cố tránh, thành ra người đó luôn xuất hiện trong tâm. Giờ đây chỉ cần nhìn thẳng vào sự thật tức thì tự nó sẽ tiêu dung. Nghĩa là biết rõ người cảnh đều duyên hợp, không thật. Đã không thật thì muốn nó mất để làm gì, tự nó sẽ mất thôi. Đó là dùng trí tuệ nhìn thẳng vào sự thật. Nên nói Chẳng cầu chẳng dung là đạo cùng sự hội, thì sự nào mà chẳng phải đạo. Thật là thanh thản, thống khoái.

Ví như có kẻ mắt sáng vào trong kho báu mà không biết phương tiện là không có đèn đuốc soi sáng, vào trong liền bị đụng u đầu, trầy tay. Như thế gọi là hang độc, chứ chẳng phải kho báu.

Thường thường đường vào kho báu có rất nhiều hầm bẫy trở ngại. Phải khai thông những trở ngại đó thì mới vào được tận bên trong. Nếu chỉ nghe nói rồi đâm đầu đi đại, không có phương tiện thì sẽ bị u đầu, sẩy trán hoặc bị nhiễm độc. Lúc đó không tin đây là kho báu mà cho là hang độc, liền thối lui.

Trường hợp người tu tập lâu năm mà không có niềm vui, lại thấy nhiều phiền não chướng ngại, đó là bị nhiễm độc. Chúng ta nói xuất gia tu hành mà trên thực tế học và hành không đi đôi với nhau. Học buông mà tâm vẫn chấp, học thiền định trí tuệ mà tâm bất định, lăng xăng với chuyện được mất hơn thua. Có người còn chẳng chịu học Phật pháp, cứ cạo tóc ở chùa cho là xuất gia tu hành. Như vậy làm sao nhận được kho báu chân tâm, làm sao có an lạc.

Tham sân si chính là ba loại kịch độc, người tu không khéo vẫn bị nhiễm như thường. Phật dạy dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu, phá tan cội gốc vô minh, nhận ra tánh Phật nơi thân năm uẩn giả hợp là nhận ra kho báu, bằng không thì đi mãi trong trần lao sanh tử, tức là đi trong hang độc.

Người trí vào kho cầm theo đèn đuốc soi sáng, thấy các thứ báu mặc tình lượm lấy, lượm báu đi ra. Người tu trong mười hai giờ phải dùng trí sáng, chớ để sáu trần đụng chạm đến.

Người trí vào kho cầm theo đèn đuốc soi sáng, thấy các thứ báu mặc tình lượm lấy, lượm xong đi ra. Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nên biết chúng ta ai cũng có kho báu. Nhưng mình không có đèn đuốc soi sáng nên vào trong kho liền bị đụng u đầu, sẩy tay.

Thế nên, quan trọng là phải khéo, tức có phương tiện thiện xảo. Chuyện tất cả chúng ta có Phật tánh ai cũng biết, nhưng nhận được hay không mới là điều đáng nói. Trong lúc tu, bao giờ cũng có những cái chướng chung quanh, nếu không đầy đủ trí tuệ, dũng lực là chúng ta qua không nổi.

Thường khi mới tu, chúng ta rất hăng say, tinh tấn, dũng mãnh. Thời gian sau gặp nghịch duyên mà đạo lực còn yếu nên chán nản. Thế là u đầu, sứt trán, thối Bồ-đề tâm, không muốn tu nữa, mất niềm tin nơi chính mình và Phật pháp. Người thời nay đa số ở dạng này. Hồi xưa, ta lý tưởng cuộc sống trong đạo, vì nghĩ người đời mới gian dối, dữ dằn; người tu hiền lành, thật thà, dễ thương. Thế nhưng sống chung với nhau một thời gian, thấy có một số vị chứng nào tật nấy, mọi thứ nguyên hình, bấy giờ ta bật ngửa.

Thật ra, những người như thế chư tổ gọi là phóc cư sĩ tức cư sĩ trọc đầu, chớ không phải người tu. Người thật tu không như thế. Chúng ta không nên lầm lẫn chỗ này mà đánh mất đạo tâm. Uổng lắm! Cho nên đi tu phải chọn thầy chọn chỗ, nơi nào có học có tu thì ở, không thì đi. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thông cảm, trong quá trình chuyển hóa, cần có thời gian. Không phải nói tu là thành Phật ngay.

Phật nói Ta-bà là cõi uế trược. Người cạo tóc rồi vẫn là chúng sanh chứ đâu đã là Phật, nhưng vì thiếu trí tuệ nên ta lầm. Tất cả đều từ một chữ lầm mà ra. Ta lầm người đó là thánh, vì vậy khi thấy họ có tật ta lại nghĩ ông thánh này biến thành phàm. Thật sự ông ta chưa bao giờ làm thánh. Đây là lý do vì sao các vị cư sĩ tập sự xin xuất gia ở công quả trong chùa thật lâu. Để họ nhìn thấy hết mọi chuyện rồi quyết định có nên tu hay không. Nếu thấy không tu được thì thôi, không ai ép buộc. Còn thấy tu được thì sau này không nên than phiền mình bị lầm lẫn.

Như thiền sinh trong thiền viện cũng ngủ gục, cũng buồn, cũng vui, cũng bệnh tật đau yếu... Phật tử nào thông hiểu dám tu thì theo, không dám cứ thôi. Thế Tôn bảo: Như Lai không bắt các ông tin ta. Các ông hãy đến để nghe, nghe để suy nghĩ, suy nghĩ để ứng dụng. Nếu thấy có lợi lạc thì tu theo, không có lợi lạc thì thôi.

Con đường dẫn tới kho báu quá dễ dàng thì đồ đạc trong đó không còn quý nữa, vì ai cũng vô được, cũng lấy được. Vật khó lấy mà lấy được mới quý. Cũng thế, khi tu chúng ta không đủ bản lĩnh, niềm tin, trí tuệ thì sẽ ngã gục, đừng hỏi tại sao. Đó là cái ngã gục bình thường. Người này đụng người kia, người kia chạm người nọ là để tác thành cho nhau, để chúng ta thấy ai có đèn, ai không đèn. Có đèn mời đi tiếp, không đèn thì lui.

Tại sao chúng ta bật ngửa? Vì thiếu trí, vì không nhìn được thực chất của mình và muôn pháp. Ngoài đời mình đau khổ vì bất như ý, bất mãn, bức xúc... nói chung là không được đáp ứng theo nhu cầu mong muốn. Bây giờ vào chùa để được thỏa mãn bản ngã, nhưng lại không được nên tiếp tục bất như ý. Vậy là mình đã si mê từ bên ngoài vô tới chùa, không đổi miếng nào hết. Thế mà bảo là tu, chịu nổi không? Nhờ gặp nhiều chướng duyên chúng ta mới thấy mình có trí tuệ, nhẫn lực, ý chí hay chưa. Trải qua mọi thử thách, thuận nghịch mà vẫn đầy đủ niềm tin thì đây mới là đạo tâm chân thật.

Người tu trong mười hai giờ phải dùng trí sáng, chớ để sáu trần đụng chạm đến. Nói đi nói lại, trí dụng là quan trọng nhất của người tu thiền hay tu Phật. Nếu ta thắp lên được ánh sáng trí tuệ thì bao nhiêu bóng tối lui tan, ta mới có thể đẩy lùi những chướng ngại trên đường tu.

Chỗ này Hòa thượng Trúc Lâm dạy:

Có hai hạng người tu. Thứ nhất, như người tọa thiền đếm hơi thở. Ngày ngồi sáu giờ đêm sáu giờ, như vậy đêm ngày mười hai giờ. Khi ngồi cố gắng đếm hơi thở, nhớ số rõ ràng nghiêm chỉnh, nhưng vẫn không thấy người và cảnh duyên hợp như huyễn. Do đó gặp việc không như ý thì vướng mắc, phiền não. Như vậy dụng công nhiều nhưng đối với đạo còn xa.

Hạng thứ hai, ngồi thiền ít hơn nhưng nhìn sự vật bằng trí Bát-nhã, thấy rõ tất cả các pháp đều do duyên hợp không thật. Biết mình giả cảnh cũng giả, nên không có việc gì bận tâm hay quyến luyến, buông bỏ một cách dễ dàng. Như vậy dụng công ít mà kết quả nhiều, bởi vì có trí tuệ. Từ đó chúng ta thấy rõ kết quả sự tu hành qua thí dụ người cầm đèn sáng vào kho báu và người không cầm đèn vào kho báu.

Chúng ta hãy kiểm nghiệm xem mình có trí tuệ chưa? Ngày đêm sáu thời tụng kinh hoặc ngồi thiền mà không quán chiếu, tuy có công phu nhưng gặp cảnh thuận dễ xao xuyến, gặp cảnh nghịch dễ sanh phiền não. Trái lại, nếu mỗi ngày gặp việc, mỗi lúc đối cảnh chúng ta đều dùng trí Bát-nhã để quán chiếu thì sẽ ít phiền não, tâm an ổn. Chớ để sáu trần đụng chạm đến mình. "Không đụng" ở đây không phải là không tiếp xúc, mà là tiếp xúc nhưng không chạy theo đó, không bị nó cuốn đi.

Thuở xưa Thượng tọa Vĩnh cùng Từ Minh đồng từ giã Phần Dương, mà Vĩnh chưa tột chỗ diệu kia. Vĩnh theo Từ Minh hai mươi năm, trọn chưa an lạc. Một hôm, ngồi quanh lò lửa đêm khuya, Từ Minh lấy đũa gắp than, gõ trên than gọi:

- Thủ tọa Vĩnh!

Thủ tọa Vĩnh bèn quát:

- Dã hồ tinh. 

Từ Minh bèn chỉ Vĩnh bảo:

- Kẻ khờ! Lại thế ấy đi!

Vĩnh do phương tiện này được cứu cánh, song vẫn bảo theo nhau. Từ Minh ở đâu thường ra thưa hỏi. Những câu Từ Minh hỏi, chúng không thể đối được. Vĩnh tới Từ Minh liền gật đầu hứa khả.

Đây gọi là liều thuốc không bệnh. Học giả đương thời khó nhận được yếu chỉ kia, huống là bọn tri kiến hội giải ở đời sau, do đâu nhận lãnh được việc ấy? Được đó phải như Vĩnh, cho thuốc phải như Từ Minh thì mới nên vậy.

Thiền sư Thanh Viễn dẫn câu chuyện của Thủ tọa Vĩnh và ngài Từ Minh, cả hai đều là đệ tử của thiền sư Thiện Chiêu. Ngài Từ Minh đã ngộ đạo còn Thủ tọa Vĩnh vẫn chưa ngộ. Khi ngài Từ Minh đi các nơi hoằng hóa, Thủ tọa Vĩnh cũng đi theo. Ngót hai mươi năm như vậy vẫn chưa ngộ đạo triệt để.

Vào một buổi tối mùa đông, hai ngài ngồi quanh lò sưởi, thiền sư Từ Minh lấy đũa sắt gắp than rồi gõ trên hòn than gọi: "Thủ tọa Vĩnh!" Tưởng ngài Từ Minh đùa nên Thủ tọa Vĩnh liền nói: "Dã hồ tinh!" Ý muốn nói đừng lừa tôi, vì dã hồ tinh là con vật hay lừa người. Từ Minh bảo "Kẻ khờ!" là chê Thủ tọa Vĩnh chưa giải quyết xong việc của mình, chưa thấy đạo cứu cánh nên gọi kẻ khờ. Từ Minh nói tiếp "Lại phải thế ấy đi", Thủ tọa Vĩnh ngay đó liền ngộ.

Ngài Từ Minh dạy phải thấy đạo bằng trí tuệ. Người biết dùng trí tuệ, nhân nơi Phật pháp nhận được cái sẵn có của mình. Bao nhiêu kinh Phật lời Tổ đều chỉ lẽ thật đó. Khi thủ tọa Vĩnh nhận ra ý chỉ của ngài Từ Minh, biết và hằng sống với trí tuệ của mình, thì chưa cần nói đã hợp với thầy.

Người sống được với trí tuệ chân thật thì đi đứng nằm ngồi đều hợp với đạo. Cho nên chỉ cần thấy thủ tọa Vĩnh là thiền sư Từ Minh gật đầu. Vì vậy khi đã học hiểu, chúng ta phải dùng trí tuệ phá tan phiền não. Nếu chỉ biết lấy công phu tụng kinh, tọa thiền mà không biết dùng trí tuệ quán chiếu ngôn ngữ hư giả, người cảnh hư giả thì gặp việc trái ý rất dễ nổi sân. Muốn tu giải thoát phải đặt trí tuệ lên trên.

Cho nên thiền sư Thanh Viễn nói được đó phải như Vĩnh, tức là người nhận được yếu chỉ phải nhanh như thủ tọa Vĩnh. Cho thuốc phải như Từ Minh, nghĩa là biết người chưa được, còn đang nghi ngờ thì tạo phương tiện cho người sạch hết nghi ngờ. Hai bên đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Trong nhà thiền nói:

Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm,

Chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ.

Ở chỗ ồn được thì chợ xóm biến thành núi rừng, phiền não biến thành Bồ-đề, chúng sanh thành Chánh giác. Câu nói này người mới học đạo đều nói được, hiểu được, có một thứ thấy biết bình đẳng, đến khi buông tâm thì phàm thánh vẫn là hai như xưa, cái dụng giữa lặng và động khác nhau. Thế là càng biết rõ giải hội này cần phải có chỗ an ổn mới được một vị, không nên gắng hội.

Nhà Phật thường tuyên dương hạnh viễn ly là hạnh tịch tĩnh. Người ưa thích chốn vắng vẻ tu hành là tốt, nhưng nếu chỉ lựa chọn nơi vắng vẻ, lánh xa chỗ ồn ào, vậy là còn thích cái này chán cái kia, còn đối đãi cũng chưa được. Cho nên, ở chỗ ồn mà tâm thanh tịnh thì phiền não cũng biến thành Bồ-đề, chúng sanh cũng thành Chánh giác.

Câu nói này người mới học đạo đều nói được, hiểu được, nhưng chưa thành được. Nên đối với chỗ chân thật bình đẳng, chưa từng biết qua, vẫn thấy phàm thánh, thị phi, bỉ thử... Đối với người xong việc, động tịnh đều là diệu dụng, các ngài tùy duyên ứng dụng tự tại vô ngại. Người chưa liễu ngộ như chúng ta động và tịnh gì cũng không dùng được.

Thế là càng biết rõ giải hội này cần phải có chỗ an ổn mới được một vị, không nên gắng hội. Hội đây nghĩa là hiểu, ngộ. Người giải hội do học hoặc nghe thiện tri thức nhắc nhở mà lãnh hội được, vì thế cần phải có một chỗ an ổn lâu dài mới thuần nhất. Không nên gắng hội, như chúng ta chỉ hiểu năm ba phần nhưng cứ làm như hiểu được hết, gọi là gắng hội.

Ta học đạo, hiểu đạo nhưng chưa sống được với đạo, nên trên bước đường tu tập chưa đủ niềm tin, đứng trước mọi hoàn cảnh đều lo sợ. Các bậc tổ sư khi đã đại ngộ rồi không sợ chi cả, cứ tu thôi. Không sợ không có nghĩa là không bị nạn hoặc không trả quả. Có hết, nhưng các ngài chấp nhận trả, đủ sức để trả.

Chúng ta thì khác, sợ bất thần nghiệp tới, mình đỡ không nổi. Đối với đường đời ta sợ đã đành, với đường đạo cũng sợ luôn. Học hiểu lờ mờ, hành trì chẳng biết đúng sai. Hồi còn học trung học, chúng tôi học môn vậy lý và hóa học, thuộc lòng bài vở. Nhưng bước vô phòng thí nghiệm, bắt đầu đưa chất này vào chất kia, lại là một chuyện mới lạ hoàn toàn. Thuộc bài không có nghĩa là làm thành công một thí nghiệm. Phải đưa đúng chất nào trước chất nào sau, đưa sai thứ tự là hỏng, có khi bị bỏng tay, trầy da. Chỉ khi nào lý thuyết và thực hành đều thuần thục thì mới vững tâm.

Việc tại thế còn như vậy, huống chi việc xuất thế, nếu không thực hành làm sao hiểu nổi. Đi tu là để dứt khổ đau. Phật pháp không giúp chúng ta gầy dựng tương lai theo thế pháp, không có địa vị, không có cơ ngơi, không có sự nghiệp. Chúng ta chọn môn này là để dứt hết danh vọng, địa vị, sự nghiệp, tiền tài và khổ đau. Người đời cầu đủ thứ nhưng những gì họ cầu rồi sẽ mất. Chúng ta không cầu gì hết, nhưng chính điều này lại là cái rất lớn lao.

Thế nên, chúng ta học không phải chỉ để hiểu Phật pháp, mà để giải quyết vấn đề sanh tử. Đức Phật Thích Ca đi tu không phải để nghiên cứu cho vui một triết lý trong cuộc sống. Ngài đã sống chết với con đường của mình, để giải quyết vấn đề sanh tử. Khi giải quyết được rồi, ngài chỉ lại chúng ta con đường ấy. Nếu chúng ta chỉ học pháp trên lý thuyết mà không cất bước, hoặc một bước tới mười bước lui thì cũng không bao giờ giải quyết được vấn đề sanh tử.

Gần đây nhiều người lấy vấn đáp làm gia phong thiền gia, chẳng rõ việc của người xưa, một bề chạy theo ngọn ngành không biết trở lại, thật là quái lạ! Người xưa vì mê mà hỏi, chỗ hỏi cầu chứng nhập, được một lời, nửa câu, đem làm việc nghiên cứu phát minh khiến cho thấu triệt, không giống người thời nay hỏi loạn, đáp bừa rồi cười đùa.

Gần đây nhiều người lấy vấn đáp làm gia phong thiền gia, chẳng rõ việc của người xưa, một bề chạy theo ngọn ngành không biết trở lại, thật là quái lạ! Tổ muốn nói cái bệnh của người đương thời, phần nhiều lấy vấn đáp làm gia phong. Tức là cứ tranh nhau hỏi đáp, đáp càn đáp bướng miễn sao trấn áp được người kia, kẻ lanh lợi xem như hiểu sâu. Tổ ngạc nhiên "thật là quái lạ".

Hòa thượng Trúc Lâm dạy: Có nhiều người đến hỏi đạo để vấn nạn hoặc đùa chơi, chúng ta tùy đối tượng mà đáp. Giả sử người đến hỏi đạo để hơn thua, chúng ta nên im lặng, chịu làm kẻ dốt. Nếu hỏi để đùa chơi thì chúng ta càng không nên nói. Chỉ trả lời cho những người hỏi vì muốn giải nghi để tu hành.

Người tu thời nay thì có cái quái lạ khác. Hồi mới đi tu rất đơn giản. Tuổi nhỏ bao giờ cũng đơn giản, lớn lên một chút bắt đầu phức tạp, có vấn đề. Cho nên, người tu không khéo sẽ trở thành "hóa xà niêng". Như người ngậm ngãi vào rừng tìm trầm, ngải thấm lâu mà chưa có trầm hóa giải, tự nhiên sẽ hóa xà niêng. Tôi không biết xà niêng là con gì, nghe nói nó rất kỳ, người không ra người, ngợm không ra ngợm, tức là quái dị.

Người tu nếu không sống đạo cũng thế, rất quái dị. Không khó chịu như ngoài đời, nhưng cũng không dễ chịu chút nào, lưng chừng không biết đường dò, nên gọi là hóa xà niêng. Mới vô chùa, mình đứng chót danh sách, nên gặp ai cũng xá chào, làm việc gì cũng khép nép cẩn thận. Ai kêu cũng dạ, ai biểu cũng làm, rất dễ thương. Thời gian sau, số chúng tăng dần, đẩy mình lên từ từ khoảng giữa danh sách. Lúc đó đi đâu về mình chỉ cần chào lớp lớn thôi, lớp giữa ngang hàng khỏi chào. Đến khi lớn hơn nữa, mỗi khi đi đâu về mình chỉ chào quý ni sư lãnh đạo, huynh đệ ngang lứa không còn, bên dưới là đàn em. Bấy giờ chẳng những mình không chào ai, mà còn nhìn coi ai không chào mình! Có vấn đề rồi đó.

Chúng ta đi ngược lại với hoài bão của chính mình, tu để cái ngã mỗi ngày nhỏ đi, nhưng không ngờ bây giờ mỗi ngày nó lại lớn lên. Đoạn trên, Tổ bảo "toàn lực là chẳng dối", nhưng chúng ta lúc nào cũng tự dối, nên chưa bao giờ toàn lực. Chúng ta tu là để chặt hết tất cả những dây mơ rễ má của ngã và ngã sở, để trở về cái bao la vô tận, không có gì đeo mang. Lúc nhỏ ta ít nghĩ về mình, khi lớn lên lại nặng về mình. Rõ ràng việc tu mất hiệu lực.

Vì sao? Vì ta không mở ra mà gút lại, nên trở thành khó hơn. Ngày xưa còn nhỏ dễ thương, lẽ ra lớn lên tu nhiều hơn phải dễ thương hơn, cởi mở hơn, sao lại khó hơn? Quái lạ! Người ta chào hay không chào mình là chuyện của người ta, chuyện của mình là tỉnh sáng, rõ biết. Chỉ vậy thôi. Sao lại vô cớ vì một nhân duyên không dính líu gì tới mình mà lại sanh phiền não? Thế nên biết bản ngã là cái thòng lọng siết chặt tuệ mạng của chúng ta.

Người có trách nhiệm hướng dẫn đồ đệ thì khác, cần chỉ vẽ hướng dẫn oai nghi tế hạnh cho thế hệ kế thừa. Khi hướng dẫn mà không khó chịu về những sơ xuất của học trò, mới thật là người có tâm từ bi, không phải vì bản ngã mà nhắc nhở. Nếu ta không có trách nhiệm mà khó chịu khi gặp những cảnh duyên bất như ý, đó là tác phẩm của bản ngã. Cần phân biệt rõ để tu tập, không phải rơi vào lỗi tự dối.

Trong đạo pháp, càng lớn thì "ta" phải càng nhỏ. Người nhỏ trọng ta là vì đạo đức chứ không phải vì sự bắt buộc. Khi sống chung với nhau, phát hiện ra một vài tập khí xấu, tâm nảy sanh bất kính. Thế là ta không kính trọng nữa, tâm ngã mạn phát sanh, nuôi lớn thêm tập khí xấu. Thật là sai một ly đi một dặm.

Cuộc đời tu hành của chúng ta là cho chính mình, chứ không phải cho đối tượng bên ngoài. Tại sao ta phải phục hay không phục đối tượng bên ngoài mới tu được? Vô tình chúng ta tự làm cho mình mất đi tín tâm ban đầu, mất cả đức khiêm cung mà lẽ ra phải luôn được nuôi dưỡng. Trong kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Thường Bất Khinh không thượng đường, không mũ mão trang nghiêm long trọng, Ngài chỉ là một người bình thường, đi bất cứ nơi đâu, gặp bất cứ ai đều đảnh lễ và nói: "Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật". Đó là gương hạnh hết sức khiêm cung.

Giai thoại giữa Lục tổ Huệ Năng và ngài Thần Hội cũng cho chúng ta một bài học lớn về điều này.

Có một tiểu tăng lên là Thần Hội ở Tương Dương, con nhà họ Cao, mười ba tuổi, từ chùa Ngọc Tuyền đến tham lễ. Tổ hỏi:

- Tri thức từ xa nhọc nhằn đến lại đem được cái gốc đến chăng? Nếu có gốc thì nên biết được Ông chủ, thử nói xem?

Thần Hội thưa:

- Lấy vô trụ làm gốc, thấy tức là chủ.

Tổ bảo:

- Ông Sa-di này đâu nên nói như thế.

Thần Hội liền hỏi:

- Hòa thượng tọa thiền lại thấy hay chẳng thấy?

Tổ cầm gậy đánh ba gậy hỏi:

- Tôi đánh ông đau hay chẳng đau?

Thần Hội đáp:

- Cũng đau cũng không đau.

Tổ bảo:

- Tôi cũng thấy cũng chẳng thấy.

Thần Hội hỏi:

- Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?

Tổ bảo:

- Chỗ thấy của tôi là thường thấy những lỗi lầm nơi mình, không thấy phải quấy tốt xấu của người khác, ấy là cũng thấy mà cũng chẳng thấy. Ông nói cũng đau cũng chẳng đau là thế nào? Nếu ông chẳng đau thì đồng như cây đá, nếu ông đau thì đồng với phàm phu, tức khởi sân hận. Ông về trước thấy và chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sanh diệt, lại chẳng thấy tự tánh mà dám đùa với người.

Thần Hội liền lễ bái sám hối. Tổ lại nói:

- Tâm ông nếu mê chẳng thấy thì hỏi thiện tri thức để tìm đường, còn tâm ông nếu ngộ tức tự thấy tánh, y pháp tu hành. Ông tự mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì tự biết há thay cái mê cho ông, nếu ông tự thấy cũng chẳng thay được cái mê cho ta. Sao chẳng tự biết tự thấy mà hỏi ta thấy cùng chẳng thấy.

Thần Hội lại lễ hơn một trăm lạy, xin sám hối tội lỗi, rồi siêng năng hầu hạ bên cạnh Tổ không rời.

Câu chuyện quá hay và quá đủ để chúng ta biết phải tu hành như thế nào. Người xưa để lại rất nhiều gương sáng, thế mà chúng ta dùng chẳng được bao nhiêu. Nghiệm lại như thế để ta buông xuống cái ngã và ngã sở nặng nề. Bồ-tát còn phải hạ mình khiêm cung với chúng sanh, chúng ta là phàm phu sao lại quên mình như thế?

Người xưa vì mê mà hỏi, chỗ hỏi cầu chứng nhập, được một lời, nửa câu, đem làm việc nghiên cứu phát minh khiến cho thấu triệt, không giống người thời nay hỏi loạn, đáp bừa rồi cười đùa.

Người mê muội không hiểu biết nên mới hỏi đạo, được tôn sư hay thiện hữu tri thức nói cho một câu, nửa câu liền nghiền ngẫm câu đó để phát minh việc lớn. Người xưa hỏi đạo là như vậy, chứ không giống người thời nay hỏi loạn, đáp bừa rồi cười đùa.

Người nói thiền nhiều là thiếu chất thiền, người đã đủ thì không cần nói. Vì vậy, Tổ dạy chúng ta tránh cái bệnh mượn lời hỏi đáp của người xưa để đùa cợt, mà không chịu tu tập. Hồi nhỏ chúng tôi ở Linh Chiếu lại có một cái tội hay sử dụng thiền ngữ vì quá thích, chớ không có ý cười đùa với tổ sư. Do vậy khi làm việc, chị em thường xổ thiền, gọi là khẩu đầu thiền, rồi vui cười với nhau. Nhờ vậy vơi bớt những nhọc nhằn của thời gian đầu thiền viện nghèo thiếu kham khổ. Tuy nhiên, Hòa thượng nghe được liền rầy, nên dần dần chúng tôi không dám nói nữa.

Bữa đó nhằm ngày cấy lúa, toàn chúng đi ruộng. Hàng ngày tôi được phân công làm rẫy, ráng gánh đôi nước đã là kỳ công lắm rồi, nói chi tới chuyện gánh mạ lội ruộng, nhất là đường đê đầy cỏ mắc cỡ. Trưởng ruộng là dân miền tây, rất giỏi. Chị gánh mạ đi thoăn thoắt, lâu lâu ngoái lại thấy tôi cứ tuột xuống bờ đê, mạ đổ tứ tung, lượm tới lượm lui hoài. Nhìn vào đôi dép đầy sình của tôi, chị nói: "Chưa thấy ai đi ruộng mà mang dép, trông dị hợm quá. Liệng đôi dép đi, thảy vô thúng mạ đó. Đi ruộng mà làm như đi dạ hội".

Tôi tháo đôi dép bỏ vô thúng mạ, nhưng cứ sợ đôi dép rớt nên vừa đi vừa canh chừng đôi dép. Mấy chị ở trước lại thắc mắc vì sao tôi đã bỏ dép mà vẫn đi lâu vậy. Nhìn ra sau, thì ra tôi lại lượm dép. Chị bảo "xỏ dép vô tay đi cho lẹ". Tôi làm theo, nhưng đi tới một đoạn nữa thì tôi đứng lại. Trưởng ruộng gọi "Hạnh Chiếu, sao không đi nữa?" Tôi trả lời "Mắc cỡ, làm sao đi!" Chị để gánh mạ của chị xuống, đi như bay ngược về phía tôi, quảy gánh mạ của tôi lên vai, chị nói "Tu hành mà còn mắc cỡ cái gì".

Tôi hỏi chị làm sao để đi chân không trên gai mắc cỡ. Chị đáp: "Hãy nhìn dưới gót chân mà đi!" Tôi nói là từ nãy tới giờ chưa bao giờ tôi nhìn dưới gót chân mà đi. Chị liền bảo "Quên người, quên cảnh mà đi". Tôi nói "quên luôn cái chân" và bay xuống ruộng cái rầm. Chiều về tới thiền viện, mắc cỡ đâm đầy chân, chị em xúm nhau gỡ phụ. Vừa gỡ vừa cười nói: "Thế nào là nhìn dưới gót chân mà đi? Ba cân gai".

Thời đó đúng là thời oanh liệt, nhắc lại cứ như huyền thoại. Cuộc sống cực khổ mà vui. Qua được thời gian khó, mấy chị em trưởng thành hơn, niềm tin nơi đạo pháp ngày càng kiên cố, đạo tâm vững vàng. Hòa thượng từ trên núi xuống thăm và dạy học thường xuyên. Ngài đào tạo tinh thần mãnh tiến cho tăng ni. Mỗi lần xuống Ngài đều ra thăm ruộng, cùng cấy gặt với tăng ni, nên giáo dưỡng được chúng tôi như ngày hôm nay.

Mục Lục