Thiền Tông Việt Nam
Tâm Yếu Nhà Thiền - Ni Sư Hạnh Chiếu
Chánh Văn - Giảng Giải (tt2)

Nếu luận người đương thời tức chẳng phải như thế. Phật đạo dài lâu, hằng chịu siêng năng lao khổ mới có thể được thành.

Người đương thời là hậu sanh chúng ta. Đối với người thời nay phải nói Phật đạo dài lâu, cần siêng năng khổ nhọc tu hành mới có thể thành tựu, chẳng phải chỉ tu bằng cách dùng chánh tri kiến thôi.

Dài suốt ba đời phàm thánh nhất như, nên nói "Phật đạo dài lâu". Chẳng khởi thấy khác, chưa từng trái bỏ. Nên nói "hằng chịu siêng năng khổ nhọc".

Ngài Thanh Viễn giải thích "Phật đạo dài lâu" là suốt ba đời phàm thánh nhất như. Chúng ta thường nghe câu "Nhất niệm vạn niên" tức một niệm muôn năm. Đây cũng là ba đời phàm thánh nhất như. Ba đời gồm có quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu phàm thánh đã nhất như thì không còn phân biệt thời gian không gian, không tất cả các thứ tướng, cũng không có phàm có thánh, ngay một niệm là muôn năm. Tại sao muôn năm? Vì phi thời gian. Ngay đó Phật đạo dài lâu. 

Chúng ta nghe dài lâu thì kẹt thời gian, nhưng dài lâu ở đây là phi thời gian. Nhận được ba đời phàm thánh nhất như ở trong một niệm là vượt qua hết thời gian và không gian. Muốn thế phải đi qua giai đoạn siêng năng cần khổ tu tập. Tu tập thế nào?

Chẳng khởi thấy khác, chưa từng trái bỏ. Nên nói "hằng chịu siêng năng khổ nhọc". Chẳng khởi thấy khác là tâm luôn thanh tịnh, không khởi niệm khác. Vậy mà chúng ta khởi tưởng lung tung. Ngay cả khi tu cũng khởi niệm: Đây là vọng tưởng cần phải đối trị, có năng sở, ta người... để đối trị. Vì vậy nên chúng ta không đi trong Phật đạo dài lâu được, không thể ở trong phàm thánh nhất như.

Khổ nhọc ở đây không phải là tu hành trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, mà thường nhớ miên mật tánh chân thật của mình. Khi thấy biết thấy, khi nghe biết nghe, khi nói biết nói, khi ăn biết ăn, khi ngủ biết ngủ, chưa từng trái bỏ như vậy, gọi là hằng chịu siêng năng, khổ nhọc.

Có một Phật tử hỏi Hòa thượng Trúc Lâm:

- Bạch Hòa thượng, tại sao tu thiền vượt qua được ba a-tăng-kỳ kiếp?

Hòa thượng đáp:

- Kinh nói muốn tu thành Phật thì phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp, nhưng nhà thiền bảo một niệm mê là chúng sanh, một niệm ngộ là Phật. Đó là tu trên lý tánh, chuyển mê thành ngộ, chuyển chúng sanh thành Phật, không cần trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp.

Tại sao kinh nói trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp? Vì đối trị mà phải trải qua như thế. Ví dụ chúng sanh có ba độc tham sân si. Bây giờ tu đối trị từng phần. Chẳng hạn đối trị tham, cơ bản có năm thứ tham: tài, sắc, danh, thực, thùy. Tài còn chia ra nội tài và ngoại tài. Nội tài là tài năng, công sức. Ngoại tài là tiền bạc của cải. Có người không tham tiền mà thích tài năng. Mỗi thứ tham phải dùng một môn đối trị. Tham danh dùng quán vô thường đối trị, tham sắc dùng quán bất tịnh đối trị v.v... Mỗi một thứ nghiệp chúng ta huân tập rất nhiều đời, bây giờ tu sửa không thể mau được. Nếu chọn tham để tu, không biết phải bao nhiêu đời mới xong. Rồi qua sân, qua si nữa. Cho nên tu đối trị phải trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp là vậy.

Bây giờ tu một niệm mê là chúng sanh, một niệm giác là Phật, tức không lập cước trên nghiệp nào hết. Bất kỳ nghiệp nào phát ra thì ta nhận biết không thật, ta sống lại với chính mình. Ở vị trí của mình thì bao nhiêu thứ đồng thời đều tan hết. Như vậy không phải vượt qua ba a-tăng-kỳ kiếp là gì?

Úc Sơn chủ ở Trà Lăng chẳng từng hành khước. Nhân dịp có một hóa chủ từ Lô sơn đến bàn việc trong tông môn, bảo Sư hãy khán công án: Có vị tăng hỏi ngài Pháp Đăng "trên đầu sào trăm thước, làm sao tiến bước?" Đăng đáp: Đại khái là ba năm.

Một hôm Sư cưỡi lừa đi qua cầu. Chân lừa lọt xuống khe hở của ván cầu, lừa ngã hất Sư té. Sư chợt đại ngộ, làm bài tụng:

Ngã hữu minh châu nhất khỏa,

Cửu bị trần lao quan tỏa.

Kim triêu trần tận quang sanh,

Chiếu phá sơn hà vạn đóa.

Dịch:

Ta có một viên minh châu,

Từ lâu bụi lấp vùi sâu.

Sáng nay bụi sạch sáng ngời,

Soi thấu sơn hà vạn đóa.

Do nhân duyên này nên Sư chẳng đi tham học nữa. Xong việc. Đây chính là vượt qua ba a-tăng-kỳ kiếp trong nhà thiền.

Nhận ra viên minh châu nơi mình thì sáu căn đều sáng, vì nó có công năng chiếu phá sơn hà vạn đóa. Đây gọi là hiểu đạo tức đi đường chim. Đi đường chim thì thích lắm nhưng té một cái là tan xương. Thế nên, Tổ dạy siêng năng khổ nhọc là nhớ. Lúc nào cũng siêng nhớ. Nhớ gì? Nhớ là chúng ta có cái thật, đừng theo các trần bên ngoài. Bước đầu phải nhớ như vậy, sau khi đã quen thì buông cái nhớ, để tánh thật nhậm vận tự nhiên.

Chúng ta thực tập âm thanh đến lỗ tai mình chỉ nghe, mà không phân tích gì cả. Như người ta nói lời nặng nề, mình nghe rất rõ lời ấy, tâm không phiền não, thì ngay đó đã diệt được tham, sân, si; đã giải thoát mà cũng không nghĩ mình giải thoát. Đó là sống với tánh thật của mình.

Nếu ta không sống trên tánh giác thì phải tu đối trị. Như nghe nói "chị là con bò" thì phừng lên, lửa sân bốc rồi mà nhờ biết tu nên không cho nó cháy. Quán nhẫn nhục từ bi. Tự nói "nhịn". Nuốt giận xuống, phải yêu thương như ông bà cha mẹ mới được, không yêu thương như vậy thì nhịn không nổi đâu. Chỉ chuyện này thôi mà đã cực rồi, nhưng đâu phải vậy là qua luôn. Nó sẽ tiếp diễn trở lại. Thời gian quán chiếu kiểu này so với dùng tánh nghe để nghe thì xa lơ xa lắc, phí sức mà kết quả không bao nhiêu. 

Tu như chư tổ dạy thì nhẹ nhàng, không dụng công, không phân tích, không cố gắng, không ráng thương. Thương như vậy mệt lắm. Tánh thật thì không thương cũng không ghét, sống bình thường an nhiên. Nhận ra chỗ này thì hiểu vì sao thiền tông dạy tu trực chỉ, vượt qua ba a-tăng-kỳ kiếp.

Có người nói tu thiền rất khó, phải là đại căn cơ mới tu nổi. Thật ra vì ta không quen và không dám nhận thôi. Tu cách nào cũng phải tập từ đầu, cũng phải chịu khó sửa đổi thói quen thất niệm. Thiền sư nói cái dở nhất của chúng ta là không dám nhận. Chính vì không dám nhận, nên kéo theo cái lỗi lớn là tự ti mặc cảm, không tin mình có khả năng tu hành thành Phật. Mặc cảm này quá lớn, nên trong biết bao nhiêu kinh điển, đức Phật phải nói tới nói lui rất nhiều lần là "tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật!" Vậy mà mình cũng chưa dám tin.

Tâm trạng mặc cảm rất có hại, ngoài đời hay trong đạo cũng vậy, người mang mặc cảm rồi thì không làm được gì hết. Như người ta nói chuyện bình thường, không có ý khinh chê mình, nhưng do mặc cảm riêng mình nghĩ khác, tự buồn tự rút lui, mất cơ hội tiến lên. Cho nên tâm trạng mặc cảm tự ti là do tưởng tượng mà ra. Đã tưởng tượng thì chắc chắn là không đúng rồi. 

Chúng sanh yếu đuối cho rằng mình không có khả năng kiến tánh nên đi vòng. Đi vòng thì lâu và mệt. Cho nên tự ti mặc cảm là một loại si. Người hay sân ta sợ đụng tới là họ cháy, rồi đốt mình cháy luôn. Người hay buồn thì sao? Thiên hạ cũng né, chớ sao. Giống như sân hay la thì si hay buồn. Mình nói gì cũng buồn, nên nín luôn cho khỏe. Cả hai dạng sân và si đều làm cho mình khổ và người khổ. Sống mà người ta phải né mình, chứng tỏ bản ngã bọc kín quá, rào kẽm gai nhiều vòng, tạo một sự ngăn cách lớn với mọi người.

Chính vì tâm niệm yếu đuối của chúng sanh mà chư Phật, chư Tổ, các bậc thiện hữu tri thức phải phương tiện dìu dẫn từ từ, tạo ra 84.000 pháp môn để đối trị 84.000 thứ phiền não của chúng sanh. Nắm tay dẫn thẳng mình sợ. Phật ơi, đừng đụng đến con, để con đi từ từ! Vì thế, người nhát khó tiến đạo được. Thấy như hiền, không dám nói gì ai nhưng thật sự là bảo thủ, nhu nhược, sợ tổn thương. Hiểu như vậy để chúng ta kiên quyết trừ bỏ tập nghiệp tệ hại ấy, huynh đệ cùng nâng đỡ tu tiến. 

Hòa thượng Trúc Lâm nói người hiền quá tu không được, lanh quá tu cũng không được, phải là người bản lĩnh dám làm, dám chịu, dám cọ xát cho lớp bản ngã tróc ra mới tu được. Bị người này vùi, kẻ kia dập mà vẫn không móp méo đạo tâm, mới là hành giả thứ thiệt. 

Tu đối trị cũng cực lắm, chứ đâu có sướng. Khi phiền não dấy lên, cứ phải dùng pháp này quán chiếu, pháp kia quán chiếu cho nó bớt. Bớt rồi nó lại hiện lên, hiện lên lại phải quán chiếu. Thế nên, tùy căn cơ hành giả thích hợp pháp tu nào thì theo pháp môn đó, không thể nói pháp nào hơn pháp nào. Pháp nào cũng phải tu thôi. Thế gian có câu "Trăm hay không bằng tay quen". Rất đúng. Chúng ta tu pháp nào thấy tiến thì cứ tu pháp ấy, lâu dần thuần thục sẽ đạt kết quả tốt đẹp. Đừng có nay tu pháp này mai đổi pháp khác, tu như vậy mất thời gian cuối cùng chẳng đi tới đâu.

Phật đã bảo chúng ta có cốt Phật, bây giờ khẩn trương phát huy cái đó, nhất định sẽ thành tựu. Trong đạo tràng, có những vị mới tu nhưng cũng có những vị đã tu lâu năm, quan trọng là an vui hay không an vui, chứ không phải là tu lâu hay không lâu. Một ngày an vui là một ngày sống đạo, một ngày không an vui là một ngày sống đời, mặc dù mang hình thức xuất gia.

Tột cùng không có pháp khác, nên nói "mới có thể được thành". Đây là việc của đại trượng phu.

Tột cùng không có pháp nào khác, tất cả các pháp đều quy về tâm mình thôi. Đây là việc của đại trượng phu, nói thế là ta cảm thấy vui rồi. Chúng ta nên khẳng định năng lực thức tỉnh sẵn có nơi mình, để không phải cam chịu thân phận yếu hèn. Có hai câu thơ:

Hãy giăng bắt phụng hoàng lưới diệu,

Chớ nuôi phận chim chóc chí hèn.

Hãy ngẩng lên bầu trời xanh thẳm, để thấy được trời cao đất rộng. Không ai có thể cấm mình ngẩng đầu lên, trừ khi ta không muốn. Lầm lũi chi dưới đầm lầy tăm tối, để rồi than thở chưa bao giờ thấy ánh thái dương. Nghĩa là chúng ta phải tu cho tốt thì mới có niềm vui, mới thấy Phật đạo dài lâu. Đó là bậc đại trượng phu.

Người không biết đi hỏi, liền y nơi đó mà đáp. Chẳng biết bèn tự hỏi thì ông muốn đáp cho ai? Người không biết đáp, liền y lời nói khởi kiến giải. Chẳng biết bèn tự đáp thì ông có chỉ thú gì? Cho nên nói: "Thảy là ông, khéo xem, khéo xem".

Ở đây phân ra hai trường hợp, một trường hợp cho người hỏi và một trường hợp cho người đáp.

Người không biết chính mình mà đi tìm đạo bên ngoài, đi hỏi thiện hữu tri thức thì người được hỏi cũng không nắm rõ, cứ theo lời người hỏi mà đáp. Hỏi tới đâu đáp tới đó, trúng trật gì chẳng biết. Đó là trường hợp không biết mà đi hỏi người khác.

Đến người chẳng biết bèn tự hỏi mình thì muốn đáp cho ai? Khi tự hỏi thì người được hỏi là ai? Là mình. Như vậy mình đáp là đáp cho ai? Cũng cho mình. Đã không biết mà đáp thì làm sao đúng. Thế nên, người học đạo không nên khởi tư vấn, thấy được thì thấy, không thấy được thì thôi, chớ lưỡng lự hỏi tới hỏi lui. Chỗ chí đạo không thể suy tư nghĩ tưởng, càng suy tư nghĩ tưởng càng cách xa đạo.

Trường hợp thứ hai là người đáp. Người không biết đáp, y lời nói khởi kiến giải, tức là người không nhận ra được mình, nghe câu hỏi liền chạy theo câu hỏi. Thí dụ hỏi tâm ở đâu? Người không hiểu sẽ trả lời tâm ở đây, tâm ở kia... càng nói càng sai. Do không biết mà khởi kiến giải, thành thử sai lại càng sai.

Chẳng biết bèn tự đáp thì ông có chỉ thú gì? Trường hợp người khác đáp theo kiến giải của họ thì đáp sai. Bây giờ mình tự hỏi rồi tự đáp, cũng không biết đúng sai. Như vậy đâu được chỉ thú gì, tức chẳng có manh mối chi.

Cho nên nói: Thảy là ông, khéo xem, khéo xem. Ngay nơi chính mình khéo nhận hay khéo xem, chứ không đặt vấn đề cho ai. Đặt vấn đề là phóng ra, khéo nhận là quay vào. Khéo xem là không phóng tới, không chạy ra ngoài, ngay cả chạy theo vọng tưởng của mình cũng không được. Nếu mình tự hỏi rồi tự đáp, nghĩa là tự chia mình ra làm hai. Đang từ cái nguyên chẻ ra làm hai, tất nhiên là sai rồi. Khéo nhận lại là không hướng ra ngoài, ngay nơi mình thầm nhận.

Tại sao Ngài dạy đoạn này? Vì có hai hạng học nhân. Một loại là lúc nào cũng thích đa văn, quảng bác, tham cứu rất nhiều thiện tri thức mà không nhận định được đâu là đúng, đâu là sai, cả một đời giong ruổi cuối cùng không được lợi ích gì. Đây là cái gương từ ngàn xưa đến bây giờ. Biết bao nhiêu người đã lăn lóc trong các hội, các đạo tràng mà đến cuối cuộc đời vẫn không được bình an.

Nếu ta ở trong pháp hội đó an vui, ít phiền não là tu đúng pháp. Ngược lại, ở trong pháp hội đó mà thấy tu tập không tiến, một phần do pháp, một phần do cách thực tập của mình, thì biết ta tu không đúng pháp. Nếu cả đạo tràng ai tu cũng vui vẻ ngoại trừ mình thì biết đây là lỗi của mình. Ta sửa lại, bắt đầu sửa từ mình trước. Nếu cả đạo tràng đều bất an thì biết do vị hướng dẫn không đúng, ta nên tìm học nơi khác. Đó là hạng thứ nhất.

Thứ hai là hạng người rất tự phụ, xem thường thiện hữu tri thức, không thích hỏi ai cả. Khi đã học đạo lâu năm, có vị nói: "Tôi nghe kinh hoài, băng nào mà không nghe, nghe riết ngán luôn. Bây giờ chỉ lo tu, chứ không nghe gì nữa!" Nói thì như vậy nhưng khi chạm duyên xúc cảnh lại không làm chủ được, tham vẫn tham, sân vẫn sân, si vẫn si. Đây là người không biết mà tự hỏi, vì cho mình đã biết nên tự xét nét, tự trả lời. Điều này rất dễ sanh tà kiến, vì nếu hiểu không đúng sẽ hành không đúng. Người này không hỏi ai nữa hết, vì luôn đinh ninh mình nghĩ đúng, không ai có khả năng trả lời được. Như vậy là hết thuốc chữa rồi.

Cả hai hạng người trên đều bị Tổ quở không được. Nếu chẳng biết mà tự đáp thì không có chỉ thú gì cả. Nếu chưa sáng tỏ mà cứ loay hoay với mình, cho rằng mình đã thành tựu thì rất nguy hại. Nên phải khéo léo, từng bước, từng bước dè dặt.

Khi tu hành chúng ta phải khiêm tốn học hỏi. Tuy nhiên đừng lao lự nhiều, đừng tính toan nhiều và đừng mang tư tưởng tự ti hoặc tự tôn thì dễ tu. Mình đã chọn thầy, chọn pháp tu rồi, tức là tin tưởng thầy và thích hợp với pháp đó. Cứ theo thầy hướng dẫn mà tu. Chúng ta ở đây tu thiền theo sự hướng dẫn của Hòa thượng Trúc Lâm, Hòa thượng dạy phản quan tự kỷ bổn phận sự, nghĩa là quay lại xem xét mình là việc bổn phận chính. Nhận rõ như thế thì chúng ta cứ việc quay lại nơi mình thôi, đừng lăng xăng giong ruổi đâu nữa hết. Quyết một lòng như vậy, chắc chắn sẽ có kết quả tốt đẹp.

Học đạo, tu đạo có gặp chướng duyên mới tiến. Hành đạo càng gặp chướng duyên nhiều hơn nữa, mới thử thách được công hạnh của người hành đạo có tròn đầy không. Do đó, mỗi ngày học đạo là mỗi ngày ta đối diện với cảnh duyên bên ngoài, mỗi ngày học hỏi, mỗi ngày cọ xát. Học đạo không phải chỉ học chữ nghĩa thôi, ngồi trên lớp là nháp, cọ xát với thực tế mới thật. Tự khung mình lại trong ốc đảo của bản ngã thì biết bao giờ mới thoát khỏi tù ngục tự thân.

Trong kinh Lăng Nghiêm, tôn giả A Nan hỏi Phật cái gì dẫn chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử? Cái gì dẫn chúng sanh tới Niết-bàn an lạc, giải thoát? Đức Phật trả lời chính sáu căn của ông. Sanh tử hay Niết-bàn đều từ đó mà ra. Phật đã nói như vậy mà bây giờ chúng ta không ngay nơi sáu căn nhận lại mình, thì làm sao giác ngộ giải thoát. Thật ra chúng ta rất lạ đời. Bụng muốn giác ngộ giải thoát, nhưng chân lại bước theo luân hồi sanh tử. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần là chỗ bắt đầu dấn bước, chỗ ta khẳng định bước chân của mình. Phóng tới thì trôi lăn, trở về thì yên ổn.

Ta thường sợ gặp những cú sốc mà quên rằng chính nó là cơ hội để ngộ đạo. Bởi vì sốc là sáu căn tiếp xúc với sáu trần, ngay đó quay lại, nhận ra chỗ của mình. Thường cảnh trái ý nghịch lòng dễ làm cho chúng ta thức tỉnh. Cảnh thuận ý đẹp lòng hay làm người ta mụ mẫm, khó ra. Như ngài Lâm Tế nếu không bị tổ Hoàng Bá đập cho ba gậy như trời giáng thì sẽ không có giây phút đại ngộ nơi chỗ Đại Ngu. Tổ Quy Sơn nếu không nện cho Hương Nghiêm Trí Nhàn một câu: "Ông ở chỗ tiên sư rất thông minh lanh lợi, hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, vậy thử nói cho ta một câu trước khi cha mẹ chưa sanh", thì ngài đâu bế tắc đến nỗi phải bỏ lên núi, để có được phút ngộ đạo huy hoàng sau này.

Do đó nên nhớ đất mềm dễ lún, đất cứng vững chân. Người xưa nói "địa du cố, mộc du cương", nghĩa là đất càng khô cây càng cứng. Khi ngồi thiền buồn ngủ, phải có một gáo nước lạnh tạt vào mặt ta mới tỉnh, đưa nước ấm áp vô là ngủ thêm. Chúng ta cần có duyên trắc trở để ngộ đạo, sao lại sợ? Thế nên ở trong đạo tràng thì đừng sợ tu không được, đừng sợ té. Té là nhân duyên chứ không hẳn là chướng ngại. Khi căn tiếp xúc với trần, hãy vui vẻ đón nhận với tâm tỉnh thức là con đường Niết-bàn mở ra, bằng ngược lại thì cửa địa ngục đón mời.

Phật bảo người có lỗi biết sửa lỗi, đó mới là người đáng quý. Không có lỗi thì hay, nhưng gần gũi để chúng ta học tập thì người có lỗi mà biết sửa, có thể hướng dẫn mình được, vì ta thường hay mắc lỗi lầm. Nếu một người sạch bách, không chút lỗi lầm sẽ không thấu hiểu được chúng sanh đang lăn lộn trong cõi trần lao. Chư huynh đệ muốn làm thiện hữu biết thông cảm và dìu dẫn cho người sau thì nên là người biết vươn lên từ lỗi lầm.

Hoặc có người bảo: Từ trước cổ nhân, Phật tổ chỉ bày ngôn giáo, lưu bố thế gian mỗi mỗi phân minh, cớ sao đều nói là "tự mình", đâu không phụ lòng từ bi của Thượng tổ, chư thánh nhọc nhằn dạy bảo?

Đoạn này đưa ra câu hỏi rất hay. Chúng ta tu học theo Phật, biết giáo lý và quy y Tam bảo. Tam bảo gồm có Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Rõ ràng kinh điển và tăng ni từng hướng dẫn dạy dỗ chúng ta hiểu Phật pháp, biết tu hành. Như vậy là các bậc thánh xưa, chư Phật, chư tổ đều chỉ bày ngôn giáo lưu bố khắp thế gian, cớ sao ở đây lại lại nói "tự mình". Như vậy là phủ nhận công ân giáo hóa của Phật pháp và thiện hữu tri thức. Nếu không có sự giáo hóa của các ngài thì chúng ta cũng không có ngày hôm nay.

Đáp: Tôi thuận theo tông thú của Phật tổ, chính ông tự cô phụ chớ tôi đâu có cô phụ. Nếu nói có sở thuyết tức là chê bai Phật tổ, ông chớ nên làm người rốt sau đoạn hạt giống Phật. Nếu chẳng nơi mình biết trở về, thì việc làm đều thành hư ngụy. Dù ông nhớ được như hà sa, hiểu được như trần mặc, nơi mình nào có ích gì?

Trả lời: Tôi thuận theo tông thú của Phật tổ, chính ông tự cô phụ chớ tôi đâu có cô phụ. Tôi thuận theo tông thú của Phật tổ mà nói, bảo "tự mình" cũng là nói theo Phật tổ, chứ không phải nói theo ý tôi. Ông nghi là ông phụ lòng từ bi của chư thánh trước, chứ tôi không phụ. Như vậy Ngài khẳng định điều Ngài nói cũng là điều Phật tổ nói.

Chúng ta vẫn còn nhớ trước khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, Ngài đã nói với toàn thể tứ chúng "suốt 49 năm Như Lai chưa từng nói một câu". Lời nói đủ minh chứng cho ý ở đây.

Nếu nói có sở thuyết tức là chê bai Phật tổ, ông chớ nên làm người rốt sau đoạn hạt giống Phật. Trong kinh Kim Cang nói: Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết. Bây giờ phải làm sao, thế nào cũng không được. Nếu nương vào kinh giải nghĩa thế này, thế kia thì ba đời chư Phật oan. Bởi vì không thể lấy ngôn ngữ sanh diệt để nói tới chỗ bất sanh bất diệt. Tuy nhiên, nhờ sự dạy dỗ của Phận nên chúng ta mới biết điều đó, nên cũng không được rời Phật nửa bước mà nói càn nói gở. Nếu ai dám nói những điều trong kinh Phật không hề nói là ma nói. Ông chớ nên làm người rốt sau đoạn hạt giống Phật. Như vậy phải làm sao?

Chỗ này càng nhớ Phật ta càng kính thương Phật. Càng kính thương Phật ta càng hiểu Phật. Càng hiểu Phật ta càng hiểu mình. Càng hiểu mình ta càng kính nhớ Phật. Nghĩa là sao? Càng nhớ tới Phật thì càng kính thương và tri ân Ngài, nhờ Ngài mà chúng ta được như vầy, chớ không thì giờ này con tần tảo buôn gánh bán bưng ở đầu đường xó chợ nào rồi. Phật đã đưa tay cứu vớt một đời chúng con.

Do nhớ ân nên kính thương. Do kính thương nên chúng ta gần gũi tìm hiểu. Gần Phật ở đây là gần với giáo hóa của Ngài. Từ đó tìm hiểu học tập mà hiểu Phật. Hiểu Phật là hiểu được hoài bão, hạnh nguyện, lời giáo huấn của Ngài. Khi ta thật sự hiểu Phật mới biết Phật muốn gì. Ngài chỉ vì một đại sự nhân duyên duy nhất là thị hiện ra nơi đời để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Thế thôi. Cho nên hiểu Phật tức là phải hiểu lấy mình. Hiểu mình tức là nhận ra mình có Phật. Nên nói càng hiểu mình ta càng nhớ Phật, chính là nhớ ông Phật của mình.

Chúng ta tạm nói theo kiểu phàm phu tục tử vậy đi, chứ bây giờ nói kiểu nào cũng không đúng, cũng trở thành người đoạn hạt giống Phật. Thì tội. Tất cả những gì chư Phật nói ra đều vì phá tan mọi kiến chấp mê lầm của chúng sanh, đưa họ trở về chỗ chân thật không kiến chấp. Bây giờ chúng ta lại trên mỗi câu mỗi lời đều vướng mắc thì thật là cô phụ Như Lai. Nói "tự mình" để chúng ta trở về với chính mình. Thế thôi. Phủ nhận công ân hay không phủ nhận công ân là cũng tự mình.

Thật ra, người nhận được thấu đáo đạo lý Phật dạy sẽ không nghi như vậy. Ở đây chư tổ tạm đặt nghi vấn để giải nghi cho những người chưa thấu triệt, giúp họ tăng trưởng niềm tin để tiến đạo. Trong bài thơ Về quê, Hòa thượng Trúc Lâm có viết: Về quê rồi tình nghĩa thiếu chi. Chỉ sợ ta không "tự mình" về quê được thôi, nếu tự mình về được rồi thì càng nhớ ân Phật tổ, chớ đâu dám phủ nhận. Người tu nhớ ân và đền ân Phật không như người thế gian. Đền ân chư Phật là ân chẳng đền, giáo hóa chúng sanh là đền ân Phật.

Người sáng được việc rất hàm ân thầy tổ, chư Phật. Nếu có thái độ ngang hàng với thầy là người mới học. Thay vì phá chấp thì lại kẹt ở chỗ phá chấp, nên lại sai lầm hơn. Người tu thiền phải rất thận trọng, dè dặt chỗ này.

Chư Phật nói đủ mọi pháp là vì chúng sanh có nhiều thứ bệnh, các ngài từng bước trị liệu, chỉ muốn chúng ta hết bệnh. Thế nên trong kinh Pháp Hoa nói, trước Phật lấy ba thừa dẫn dụ chúng sanh tu tập, nhưng cuối cùng chỉ nói một Phật thừa mà thôi. Đó là gì? Là không có gì để nói.

Thiền mà tổ nói ở đây là tối thượng thừa thiền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Tóm gọn lại một điều, cái gì không thể nói, không thể diễn tả, không thể hình dung, đó là chỗ chân thật. Phật sợ chúng ta kẹt trên hình thức, ngôn ngữ thì không nhận ra được chỗ thật, nên Ngài bảo ta không nói gì hết. Chư thánh đã khổ công dạy dỗ để cho ta đừng kẹt, sao bây giờ ta lại kẹt?

Có lần Hòa thượng nói "Tôi nói pháp như lẫn vậy! Cứ nói tới nói lui hoài một điều". Tại sao ngài phải nói đi nói lại? Vì cứ mỗi lần nói, ta hiểu câu trước thì kẹt câu sau. Hoặc nói câu sau là nhằm mở bày cho câu trước, nhưng ta lại không biết. Vì vậy phải nói hoài, nếu không nói thì chúng ta lại kẹt.

Lúc Hòa thượng cho tôi đi dạy, tôi khổ tâm lắm. Hồi nhỏ trên lớp học, tôi nghe Thầy giảng qua rồi thôi, không chú ý ghi nhớ, vì học như vậy rất khỏe. Hòa thượng bảo đi dạy, tôi tưởng Ngài nói vui, nên cứ nhìn Thầy hoài. Sau khi thấy Hòa thượng nghiêm mặt, tôi hoảng sợ chạy về moi lại kinh điển, lúc đó mới thật sự học.

Khi mở sách ra học mới vui. Vì xem sách ít thì hiểu, nhưng xem nhiều lại không hiểu gì hết. Người ta nói nhiều và nhiều người nói nên họ nói ngược nhau. Mình càng đọc càng tẩu hỏa nhập ma. Cuối cùng đóng hết sách vở, định tâm nhớ lại lời thầy tổ đã dạy bao nhiêu năm qua, mình hiểu và ứng dụng tới đâu thì nói tới đó. Nguyện Phật độ con!

Người đã thấu đạt đọc gì cũng hiểu, còn mình chưa thấu đạt nên đọc gì cũng chẳng hiểu. Tất cả đều lệ thuộc sách vở mà phải nhớ, cố nhớ. Khi lên lớp, lỡ quên một chữ là đi hết nguyên bài, tại vì cái tội mắc kẹt ở bài. Những ngày đầu đi dạy, tôi thầm than thà bị bắt đánh ba roi còn sướng hơn là lên lớp! Mình tu hành để được thoải mái mà sao bây giờ phải khổ thế này. Ba ngày trước khi lên lớp tôi đã bất thường, đi đâu cũng ngó một chỗ, đứng đâu cũng ngó một chỗ. Tôi học bài. Trước khi lên lớp, đừng ai hỏi gì tôi hết, chờ khi xuống lớp rồi hãy nói chuyện, bấy giờ tôi mới bình thường trở lại.

Tôi thưa với Hòa thượng:

- Bạch Thầy, nếu thật sự dạy học mà khổ như vầy, xin cho con đổi nghề.

Ngài bảo:

- Cứ thử một thời gian nữa xem sao, không được thì đổi.

Hòa thượng hỏi kiểu cách tôi dạy như thế nào? Tôi thưa là học thuộc lòng. Ngài hỏi pháp đâu mà học? Tôi thưa ở trong sách. Bởi vì tôi thường hay lo là đoạn kinh ngắn, nếu không tìm thêm tài liệu bên ngoài thì không có gì để nói, nên phải soạn và học thuộc lòng. Ngài hỏi tiếp, suốt mười mấy năm qua, Thầy đã dạy con những gì? Tôi thưa dạy pháp. Ngài hỏi tôi có hiểu không? Tôi thưa có chỗ hiểu, có chỗ không. Ngài nói:

- Nếu như con đã không hiểu thì bây giờ có học lại cũng không hiểu. Con đã không hiểu thì nói ra ai mà hiểu. Thầy nói cho con biết, pháp không có ở trong sách, pháp ở nơi con. Cứ bình thường, hiểu sao nói vậy. Con không nên có tư tưởng phải soạn một bài pháp thật chỉn chu. Trước khi lên lớp vẫn dò kinh cẩn thận, nắm vững ý kinh. Sau đó thanh thản lên lớp. Giảng hết đoạn kinh rồi mà không biết nói gì nữa thì cứ đọc đoạn tiếp theo. Không có gì để nói thì dạy một buổi hết một bản kinh cũng được, miễn sao thấy thoải mái, đừng khổ tâm là được. Cần dẫn thí dụ thì cứ nói một cách tự nhiên. Đoạn nào quên, thật tình thưa với đại chúng là mình quên. Quan trọng đừng sai ý chánh của kinh là được. 

Và kể từ đó đến nay, tôi đã y theo lời dạy của Hòa thượng mà cùng học với ni chúng, cũng như quý Phật tử tất cả những bản kinh tôi đã được học với Hòa thượng lúc trước. Trong lòng vô cùng cảm kích tri ân công đức huấn dục và chỉ vẽ tận tình của Ân sư. Thật là "không thầy đố mày làm nên".

Từ chuyện này có thể liên hệ đến mọi việc trong cuộc sống của chúng ta. Mình kẹt chỗ nào sẽ rớt chỗ đó, thích chỗ nào là rớt chỗ đó. Cứ bình thường thì không sao, cả đời bình thường là cả đời không rớt. Cuộc sống càng tự nhiên càng dễ chịu. Mỗi khi chúng ta quan trọng cái gì, tự nhiên sẽ làm hư cái đó. Cứ nghĩ mình không đáng gì trong cuộc đời, chỉ là hòn bọt giữa biển cả, hạt cát trong sa mạc. Thế là khỏe.

Nếu chẳng nơi mình biết trở về, thì việc làm đều thành hư ngụy. Dù ông nhớ được như hà sa, hiểu được như trần mặc, nơi mình nào có ích gì?

Hòa thượng Trúc Lâm dạy: Nếu chúng ta không trở về nơi chính mình thì những việc làm như gõ mõ, tụng kinh, niệm Phật... là những thứ bên ngoài, tất cả đều hư ngụy. Chánh yếu cốt phải trở về mình. Như chúng ta ngồi mà mong thấy Phật, thấy hào quang là mong những tướng bên ngoài, đó là hư ngụy. Chạy theo hư ngụy là tà.

Khi sống lại với chính mình, ta thấy vui vì không lo âu, không bực bội điều gì. Lúc nào tất bật chạy theo công việc, ta thấy lăng xăng, mệt nhọc. Vì mình có chủng tử Phật, nên ngày nào nuôi dưỡng, chăm sóc, tươi tắm hạt giống đó, nó nẩy nở xinh tươi thì chúng ta sẽ thấy an vui liền. Càng cảm nhận được sự nhiệm mầu của Phật pháp, chúng ta càng tăng trưởng niềm tin để tu tập.

Khi hạt giống Phật nở ra thì bốn tâm vô lượng cũng rộng mở: từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm. Tất cả đều trổ ra, vì đó là năng dụng của tâm. Trong lòng không ghét giận ai nữa, thương mến huynh đệ và sẵn sàng giúp đỡ khi chị em cần. Rõ ràng đó là từ bi hỷ xả. Nếu tâm bao dung, lòng độ lượng tự nhiên ta tươi mát liền. Bình thường mình có hạt giống đó nhưng không tưới tắm, để nó khô héo. Vì vậy, lửa sân, lửa phiền não lấn át thiêu rụi. Nên nói khi biết trở về thì việc làm nào cũng tốt, còn không biết trở về thì làm việc nào cũng dễ trở thành hư ngụy.

Trên bước đường tu tập, nếu chưa tới nơi, ta cứ nghĩ tu tập để tịnh hóa thân tâm mình trước. Khi ta tịnh hóa được mình thì cũng tịnh hóa cho người. Chỉ cần ta không phiền não thì đã có biết bao người được vui theo. Một người đang giận thì từ trường của họ sẽ làm cho thiên hạ nóng lên. Ai đến gần cũng thấy nóng nên họ né. Vì vậy điều phục được mình chính là đem niềm vui đến cho người.

Cho nên nói dù ông nhớ kinh Phật tổ dạy nhiều như cát sông Hằng, hiểu lý nhiều như bụi mực thì nơi mình nào có ích gì? Chính Phật đã từng trách ngài A Nan: "Dù ông đa văn, học thuộc lòng ba tạng kinh của chư Phật, không bằng một ngày thực hành tu để thấy đạo". Nếu một ngày chúng ta tu, sống thật với chính mình quý hơn thuộc lòng ba tạng kinh.

Như tôi đã kể việc mình học bài để chuẩn bị lên lớp thật cực nhọc mà chẳng có kết quả bao nhiêu. Bởi vì đó là nhai lại cái xác của cổ nhân. Nhai càng nhiều thì càng mệt. Đối với bản thân không lợi ích, vì phải đầu tư để nhớ chuyện của người xưa nên quên chuyện của mình. Đã thế lại còn sợ quên bài nữa, trong khi chuyện của mình thì tự nhiên, nhớ gì nói ấy. Ngài Thanh Viễn nhắc nhở chúng ta dù nhớ kinh Phật như hà sa, hiểu lý như bụi mực mà quên mất mình thì cũng không có lợi ích gì. Hòa thượng Trúc Lâm có hai câu thơ để đời về việc này:

Một bài tâm kinh học hoài không thuộc,

Con đường độc hành đi mãi không cùng.

Lời thơ bình dị mộc mạc mà sâu sắc thâm thúy vô cùng. Những chiều chủ nhật Hòa thượng sang Linh Chiếu nằm võng chơi, Phật tử vây quanh, chúng tôi đứng kế đó mà đâu có ai thèm ngó. Dù Ngài nói chuyện rất bình thường nhưng lại có sức thu hút mãnh liệt với mọi người. Đó là vì Ngài sử dụng cuốn sách tâm của mình, nên rất sinh động. Chúng ta không dùng sách tâm, chỉ vay mượn chuyện của người này người kia, mới nghe thiên hạ thấy thích, nhưng nghe riết đâm chán.

Như đức Phật, đối với vị thầy chứng được Phi tưởng Phi phi tưởng xứ là số một, nhưng Ngài vẫn bỏ vì điều đó không đáp ứng được yêu cầu của Ngài là giải quyết vấn đề sanh tử. Tại sao ta sanh ra? Chết rồi đi về đâu? Làm sao để chấm dứt luân hồi sanh tử? Không ai giải quyết được cho Ngài. Ông thầy chứng gì thì chứng, mà không đáp ứng được nhu cầu của đức Phật, giỏi thế mấy Ngài cũng bỏ. Khi ngồi dưới cội Bồ-đề, chứng được tam minh lục thông, Thế Tôn giải quyết được ba vấn đề đó bằng thần túc thông, thiên nhãn thông và lậu tận thông. Thế là yên. Từ đó về sau Ngài không tìm kiếm gì nữa, chỉ dùng trí tuệ sẵn có của mình đến với chúng sanh, giúp họ trở về với chính họ.

Cho nên nói "Đem cái nghe nhớ lại lời chư Phật, sao chẳng nghe lại tánh nghe, cầu Phật có tướng ở bên ngoài cùng ông đâu có dính dáng gì". Có một vị tôn túc bảo: "Nay ta đáp ông có một câu cũng chẳng khó, nếu ông ngay một câu mà tiến được vẫn còn đôi phần so sánh. Nếu ông chẳng hội, lão tăng thành vọng rồi".

Đem cái nghe nhớ lại lời chư Phật, sao chẳng nghe lại tánh nghe, cầu Phật có tướng ở bên ngoài cùng ông đâu có dính dáng gì. Chúng ta cứ chạy bên ngoài tìm Phật mà không nhớ lại, nghe lại tánh thật. Cầu Phật bên ngoài như vậy đâu có dính dáng gì tới mình.

Nay ta đáp ông có một câu cũng chẳng khó, nếu ông ngay một câu mà tiến được vẫn còn đôi phần so sánh. Nếu ông chẳng hội, lão tăng thành vọng rồi. Ngài Thanh Viễn dẫn lời cổ đức bảo: Ta đáp cho công một câu không khó, nếu ông ngay câu đó mà tiến được thì vẫn còn một chút so sánh. Tại sao? Vì còn nương phương tiện, tức còn kẹt trên câu nói của thiện tri thức, chưa phải tự mình xông thẳng vào đất Như Lai. Đó là nói tiến được. Huống là ông không hội thì lão tăng trở thành hư vọng. Nếu ông không tiến được thì lời nói của ta hoàn toàn không có giá trị. Như thế uổng cho lời nói của ta, mà cũng uổng cho công phu của ông.

Chư tổ rất tránh nói, tại sao? Vì chúng ta hay kẹt. Xả được điều trước thì lại kẹt điều sau, nên tốt hơn hết là không nói. Trong nhà thiền, thà là không hiểu chứ không để hiểu lầm, vì vậy các ngài không chịu nói. Tìm Phật mà hướng tâm ra ngoài thì không dính dáng gì hết, do đó phải tự mình vươn lên, tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, tự nhận ra được ông Phật của mình. 

Mục Lục