Thiền Tông Việt Nam
Tâm Yếu Nhà Thiền - Ni Sư Hạnh Chiếu
Chánh Văn - Giảng Giải

Không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé là lập phần hạn. Nếu lập phần hạn tức là cái rỗng không, không bờ mé bèn bị rơi kẹt.

Giảng: 

Chúng ta hãy nhìn hư không, ai có thể cột hư không được? Nếu cột không được thì ta lấy khung gỗ đóng lại. Có khung gỗ rồi, nhưng làm sao đóng hư không vào khung gỗ, không cho nó lan ra ngoài? Không thể đóng vì hư không không có tướng. Hư không vô tri còn không thể lập phần hạn, huống gì chỗ rỗng không, không bờ mé ấy là tâm thể hằng tri hằng giác của chúng ta.

Vậy mà hết đời này sang đời khác, hết thế hệ này sang thế hệ khác, chúng sanh tự dựng lập phần hạn cho tâm mình và luôn cả tâm người. Tôi suy nghĩ như vầy, tôi có quan điểm thế này... bạn cũng giống với tôi chứ? Nếu không giống thì tôi với bạn trở thành đối nghịch. Và từ đó chiến tranh nóng chiến tranh lạnh xảy ra, khổ sở điêu đứng. Phật bảo cái giả ngã, giả tâm đó chính là nguyên nhân dẫn chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử. 

Tâm vốn không rơi kẹt ngăn ngại mà chúng ta cố làm cho nó rơi kẹt, ngăn ngại. Sau đó lại tìm cách tháo gỡ, thật là quái lạ. Mà gỡ gì được, có chỗ nào bám đâu để gỡ. Thật không sao hiểu nổi. Như vậy mà Phật tổ vẫn ráng hiểu, ráng độ chúng sanh ra khỏi cái mê lầm kỳ hoặc ấy, cho nên tạm lập bày các phương tiện tu tập, giúp mình thức tỉnh ra khỏi đại nạn u mê đó.

Chân tánh rỗng rang không có tướng, nên không thể lập phần hạn. Nếu lập phần hạn tức là cái rỗng không, không bờ mé bị rơi kẹt. Nói bị rơi kẹt là gượng nói, chúng ta tự làm cho cái rỗng không rơi kẹt, chứ nó không dính dáng gì tới sự rơi kẹt hay không rơi kẹt. Nói rõ hơn là ta tự kẹt, rồi kéo theo mọi thứ cùng kẹt.

Trong kinh Lăng Nghiêm, khi ngài A Nan được đức Phật chỉ ra bảy chỗ để nhận tâm, ngài lãnh hội rồi vui mừng vì biết bản tâm trùm khắp, không chỉ ở nơi thân. Khi nghĩ tâm ở trong cái thân nhỏ bé này, tức là đã lập phần hạn cho cái rỗng không, coi như chúng ta tự đóng khung phần rộng lớn mênh mông kia. Dù ta có lập phần hạn hay không lập thì bản tâm cũng luôn mênh mông như thế. Tuy nhiên có của mà không dùng thì thành kẻ nghèo thiếu khổ sở.

Chúng ta tự đánh mất bản tâm, mà thật ra nó cũng chẳng mất đi đâu. Chỉ có điều có mà không nhận, không dùng được thì cũng như không. Nói đánh mất là một cách nói khi còn mê, chứ thật sự bản tâm không bao giờ mất. Nó sẵn sàng, luôn luôn có mặt. Ta quay lưng thì thôi, quay lại thì có ngay. Tức thì, không tính kể thời gian.

Vì thế người hiểu không, chẳng có tưởng không.

Chữ "hiểu" ở đây được xem là "nhận". Đã nhận được rồi thì không lầm, không tưởng về Không. Đã là Không thì dựa vào đâu để tưởng? Những gì có hình tướng đôi khi ta tưởng còn không đúng, huống là cái rỗng không, không hình tướng mà khởi tưởng thì thật cách quá xa. Chúng ta biết mặt nhau mới có thể tả lại và cùng hiểu. Nhưng người chưa biết mặt mình mà bảo họ tả, dù họ có tả hay cách mấy, cũng chỉ giả tưởng mà thôi, không có thật. Người nghe càng không thể hiểu, nếu cố hiểu cũng sẽ hiểu sai. Muốn biết mặt ai đó, chỉ cần gặp để thấy là đủ. Không cần tả, cũng không cần tưởng. Tánh không cũng vậy, không thể tưởng, chỉ trực nhận.

Tu tập tọa thiền là sự trải nghiệm, trải nghiệm liên tục, rất kỵ nói ra, trừ khi thầy bảo trình sở ngộ để được hướng dẫn thêm. Chúng ta dễ dàng kiểm tra công phu của mình qua chạm duyên xúc cảnh. Không cần phải khoe mình ngồi thiền được hai tiếng, ba tiếng. Cho dù mười tiếng mà gió thổi vẫn té là rớt. Quan trọng không phải là ngồi nhiều hay ít mà là có trí tuệ, soi kịp chiếu thủng tham sân si lấp ló vào nhà, nhất là phát hiện cái ngã luôn chực chờ soán ngôi ông chủ tâm, lật đổ thiên hạ.

Có hai cha con nọ dẫn nhau đi ăn chè. Ba mua cho con trai chè đậu đỏ theo đề nghị của con, còn ba thì chọn chè đậu xanh. Đồng ý rồi nhé, hai cha con vui vẻ ăn chè. Thấy con trai ăn ngon lành, ba đưa muỗng vào ly chè đậu đỏ thử một miếng xem sao. Con trai không nói gì. Ồ, ngon. Một muỗng nữa nhé. Con trai miễn cưỡng cho thêm một muỗng. Thuận tay ba múc thêm muỗng nữa. Con trai giãy nảy toáng lên: Tại sao ba ăn chè của con. Và nó giận ba, không thèm ăn chè nữa. Báo hại ông bố năn nỉ hết hơi và mua thêm mấy ly chè đậu đỏ nữa đền bù, vì cái tội dám động đến "ly chè của con". Thằng nhỏ đó không nhớ ly chè ấy ba mua cho con! Nó cũng không biết đạo nên phiền não là chuyện thường tình. Chúng ta xuất gia tu hành, tại sao cũng giãy nảy lên, mỗi khi bản ngã bị va chạm?

Tổ sư dạy ngồi thiền là thượng duyên nhất để định tâm, phát sinh trí tuệ, chiếu phá vô minh. Lạ thay, thiền sinh đời nay ngán nhất là ngồi thiền. Ước gì được gia giảm tụng kinh, ngồi thiền, trị nhật, hành đường... thì tu thiền sướng biết mấy? Đó cũng là lý do tại sao người thời nay tu hoài vẫn không tới đâu. Hòa thượng gọi tu như vậy là tu tài tử, tu trong sanh tử, chứ không phải tu để thoát ly sanh tử. Tâm tư vọng động vô chừng, dễ buồn dễ vui như trẻ con, dường như có lúc chúng ta đã quên mình là người xuất gia, cầu thoát ly sanh tử. Làm sao cho nhớ đây? Câu hỏi nghe như dễ mà lại khó.

Thanh quy thiền viện đã thiết lập cho mình một thời khóa quân bình nhất trong mọi sinh hoạt tu học. Ngẫm đi ngẫm lại điều hòa được thân tâm theo đúng quy chế thiền môn là điều không dễ chút nào. Người xưa nói tất cả cơ duyên đều có thể đưa ta đến với đạo, để nhận lại chính mình, nhưng ta thì bị các cơ duyên quay đến chóng mặt, không biết đâu là đường vào.

Tu tập mà vướng kẹt trên hình thức thì vô tình phá hỏng công phu. Người tu hành nghiêm túc, đúng thời khóa dễ coi thường những ai tu hành lôi thôi. Thật ra chuyện tâm linh không thể y cứ trên hình thức. Chúng ta không thể đoán định công phu và công đức của người khác được, trừ những bậc thầy tâm thông trí sáng. Có nhiều vị trong cuộc sống sinh hoạt thấy rất bình thường, không có gì vượt trội huynh đệ, nhưng đạo lực bên trong lại rất thâm hậu. Cho nên chúng ta không nên xem thường ai hết, giữ tâm cung kính đối với tất cả mọi người là hay nhất. Đây là gương hạnh của Bồ-tát Thường Bất Khinh.

Tổ sư nói bản tâm không phải chỗ để tưởng mà là thể nhập, là mạch sống. Nhận được như thế thì sống an lạc, giải thoát, ra khỏi mọi trói buộc. Vui nhất trên đời! Cái tưởng không thật mà thường làm cho người ta khổ điêu đứng. Như mình đang vui vẻ bỗng huynh đệ cho hay mình có tên trong danh sách lên quả đường sáng mai thì tâm tư bất an. Chuyện gì đây? Thế là tha hồ tưởng, tha hồ vẽ. Ta tự băm cái tâm ra nhiều mảnh, thêu dệt đủ thứ vọng tưởng, hồi hộp, lo sợ, phiền não. Sáng ra mới hay mình không có tên trong danh sách lên quả đường. Một thông báo nhầm lẫn. Thiệt là đất bằng dậy sóng. Cũng tại bình thường chẳng chịu nhận ra "mình là ai", cứ chạy theo vọng tưởng. Đã có nhiều vị muốn bỏ chùa đi, chỉ vì hiểu lầm mà thôi.

Tổ sư bảo sống với bản tâm là ai nói sao nghe vậy, không cần thêm bớt chút tư tưởng nào trong đó. Như nghe người ta nói mình ngu như con bò, ta chỉ cần nghe rõ "ngu như con bò" là được rồi. Không cần biết tại sao họ nói mình ngu, tại sao không như con trâu con mèo mà là con bò... Nghe như vậy thì sẽ rớt hết tất cả các con. Chẳng con nào chui được vào bụng để ta phải chịu tức cành hông. Đó chính là ở trong thinh sắc mà vượt ngoài thinh sắc.

Chúng ta thường không thực tập được như thế. Nghe một người chê chưa buồn lắm, hai người chê cảm thấy hơi hoài nghi về mình, đến người thứ ba thì có thể tin mình ngu dốt từ trong căn cốt, sang người thứ tư phán cho một câu nữa là thối Bồ-đề tâm. Mình không có duyên với Phật pháp, xin hẹn kiếp sau! Đang tu học bình thường tự nhiên tâm ma trỗi dậy lấn át tâm Phật, khiến đạo lực yếu dần, yếu dần, đến mức không tu được luôn. Thật đáng tiếc quá.

Một lần nghe nói "mày ngu", ta nghe rõ một lần. Hai lần nghe nói "mày ngu", ta nghe rõ hai lần. Ba lần nghe nói "mày ngu", ta nghe rõ ba lần. Chứng tỏ tánh nghe tinh anh, nên vui chứ. Ai cấm ta nghe như vậy! Không vui, không buồn, không có gì phải dụng công. Chỉ tại mình không chịu nghe thế thôi. Chuyển một đường gươm, dẹp ngàn thế trận. Ai dám đương đầu? Chỉ cần thực tập một chút xíu vậy thôi là tu ngon lành. Sướng vô cùng mà tại sao mình quên làm thế nhỉ?

Thiền nhân sống thanh thản, không làm phiền ai cũng không ai làm phiền mình. Đơn giản vậy thôi mà có một uy đức khiến người kính sợ. Ta nghe hai chữ tổ sư là ta đã thấy sợ rồi, chứ đừng nói tới gần. Như Hòa Thượng Trúc Lâm rất hiền nhưng chúng ta một mực kính sợ. Vì sao? Vì Ngài có đôi mắt ngó ngay nhìn thẳng, đôi tay nghe sao hay vậy, không thêm bớt xen tạp, nên ngoại ma không thể xâm lấn, khiến uy đức càng thêm tỏ rõ, làm cho tâm ta kính sợ và quy ngưỡng.

Nếu dùng ngôn ngữ diễn tả tâm, trọn chẳng được tâm, chẳng dùng ngôn ngữ diễn tả tâm cũng chẳng được tâm.

Nếu dùng ngôn ngữ diễn tả tâm trọn chẳng được tâm. Vì ngôn ngữ là pháp sanh diệt, không thể lấy cái sanh diệt diễn tả cái không sanh diệt.

Chẳng dùng ngôn ngữ diễn tả tâm cũng chẳng được tâm. Tại sao? Chẳng dùng ngôn ngữ tức là nín lặng. Nói và nín là một cặp đối đãi, cũng thuộc sanh diệt. Đã là sanh diệt thì không thể diễn tả được tâm không sanh diệt. Tâm vượt lên trên nói và nín. Đôi khi nói vẫn đúng, mà nín vẫn sai, tùy chỗ dụng tâm của người đã đạt đạo hay chưa đạt đạo. Người ngộ đạo rồi thì không sợ nói, cũng không ngại nín. Chúng ta chưa ngộ nên nói nín gì cũng sợ, càng sợ lại càng mắc kẹt.

Cho nên thiền sử, ngữ lục của thiền sư vô cùng phong phú, nếu không nói là nhiều nhất trong tạng Luận của nhà Phật. Các ngài lập bày phương tiện để tháo gỡ những lầm chấp của học nhân. Học nhân càng nhiều mê chấp thì phương tiện cũng càng nhiều. Hòa thượng Trúc Lâm từng dạy chúng ta buông vọng, trở về nhận lại tánh biết chân thật của mình. Ngài dùng ngôn ngữ chỉ dạy chúng ta phản quan tự kỷ, tuy nói phương tiện mà thật ra chẳng có phương tiện nào cả. Nhìn thẳng, nhận thẳng. Vậy thôi.

Vì ngôn ngữ vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Không ngôn ngữ cũng vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được.

Chỗ này khó đây. Ngôn ngữ không diễn tả được tâm vì ngôn ngữ thuộc sanh diệt. Bây giờ lại nói ngôn ngữ vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Câu này dường như mâu thuẫn với câu trước, phải không? Không phải mâu thuẫn, mà là sâu hơn một chút. Ngôn ngữ vốn là tâm, y như sóng vốn là nước thì không thể nào lấy nước tả nước được. Nước là nước. Tâm là tâm.

Ngôn ngữ từ tâm mà có, cũng như sóng vốn từ nước mà có. Khi sóng lặn thì trở về với nước. Cũng thế, khi trở về tánh Không, ngôn ngữ chính là tâm thể, cho nên diễn tả nó không được. Sóng là dụng của nước, ngôn ngữ là dụng của tâm. Tâm chân thì ngôn ngữ là dụng của tâm. Tâm chân thì ngôn ngữ chân, tâm vọng thì ngôn ngữ vọng. Khi nói chuyện này, chuyện kia mà chúng ta chưa làm chủ được thì ngôn ngữ có thể làm dậy sóng ba đào. Khi làm chủ được tâm thì ngôn năng tải đạo, công đức từ đây phát sanh. Vì vậy trong kinh Lăng Nghiêm nói tu về Thiệt căn có tới 1.200 công đức.

Không ngôn ngữ cũng vốn là tâm nên diễn tả nó vẫn không được. Tâm là chủ, nói từ tâm thì nín cũng từ tâm. Cho nên nói nín đều thuộc về tâm. Đã là tâm thì không thể diễn tả được. Chư Phật, Bồ-tát nói nín động tịnh thảy an nhiên. Chúng ta nói nín động tịnh gì cũng dao động liên miên. Các ngài nói nín từ chân tâm, nên phát ra diệu dụng như hằng sa. Chúng sanh nói nín từ vọng tâm, ba nghiệp tham gia khuấy nhiễu, phiền não theo đó phát sanh, tạo nghiệp đi trong các cõi.

Nói ngôn ngữ sanh diệt là nói trên tướng sanh diệt, nói ngôn ngữ không sanh diệt là nói trên thật tánh không sanh diệt của các pháp. Hiểu như vậy thì không thấy mâu thuẫn.

Các thứ hội đến đều không khế hợp với tự tâm. Thượng Tổ bảo "thầm khế hội mà thôi". Nếu như nơi đây mà chưa đạt đạo thì chỉ không vọng niệm là được.

Các thứ hội đến đều không khế hợp với tự tâm, có hội tức là có hiểu. Thường người ta nói tôi hiểu bạn, hiểu bài... nghĩa là hiểu về một đối tượng hay vấn đề nào đó ngoài mình. Tâm là mình. Nếu hiểu được tâm thì tâm trở thành đối tượng ngoài mình rồi. Điều này không thể được. Cho nên nói các thứ hội đến đều không khế hợp với tự tâm.

Hòa thượng Trúc Lâm nói: Tâm yếu không có hình tướng, chính nó mới thật là mình. Những thứ lâu nay người ta quen chạy theo, cho rằng tôi hiểu thế này thế kia... là những cái bị hiểu, không phải mình. Rõ ràng như vậy. Người nào cho rằng mình hiểu được tâm, tức không hiểu gì hết, vì tâm là cái không thể hiểu. Đây là chỗ tâm yếu.

Thượng Tổ tức tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo: Thầm khế hợp mà thôi. Nếu như nơi đây mà chưa đạt đạo thì chỉ không vọng niệm là được. Ở trên còn nói hiểu, tới đây không cho hiểu luôn, mà gọi là thầm khế hợp. Tại sao? Tại vì tâm là cái không thể hiểu, nhưng không phải không có, nên nói thầm khế hợp. Các thiền sư khi nhận được tâm thì "À" một tiếng, xong việc. Khế hợp rồi trực diện, không hỏi tới hỏi lui, không nghi ngờ gì cả. 

Ai nhận được thì tốt, nhận chưa được thì dần dần sẽ nhận được. Cái đó là mình, nó có mất đi đâu mà sợ. Như chúng ta đang nghe pháp, chỉ cần âm thanh phát ra tới đâu nghe tới đó là đủ, không cần khởi suy nghĩ để hiểu. Chỉ cần nghe rõ. Tổ đã bảo người chưa đạt đạo chỉ cần không vọng niệm là được. Như thế cũng là tốt lắm rồi. Đơn giản vậy thôi mà mình làm không xong là tại thói quen phóng tâm, khởi vọng tưởng không dừng được.

Chúng ta ngồi thiền có khi vọng tưởng thật nhiều, ta quở thì nó lặng. Trạng thái ấy thật yên tĩnh, mình cảm nhận rất rõ sự yên tĩnh này. Đây chính là chỗ không vọng niệm của người chưa đạt đạo ở giai đoạn ban đầu. Hòa thượng Trúc Lâm dạy công phu sâu hơn thì tiến tới thường biết rõ ràng. Có vọng biết có vọng, không vọng biết không vọng, không khởi niệm theo vọng, cũng không khởi niệm trừ vọng. Bấy giờ vọng tự lặng. Biết chính là tâm. Tự nhiên như vậy. Thực tập theo sự chỉ dạy của Hòa thượng, công phu nhẹ nhàng mà kết quả lại cao.

Ta không sợ vọng tưởng vì vọng tưởng không phải là mình, mà nó cũng không ngoài mình. Nó từ bất giác mà ra. Một khi trở về được tánh giác rồi thì vọng tự lặn. Cho nên hành giả chỉ cần trở về tánh giác thường biết rõ ràng là đủ. Khi ta chưa điều phục được thì vọng là giặc. Khi ta đã điều phục được thì nó là diệu dụng. Các bậc thánh nhân làm chủ được vọng, sử dụng vọng tưởng một cách thiện xảo, lợi ích vô lượng chúng sanh.

Những ngày đầu mới tu, chúng tôi ngồi thiền rất sợ vọng tưởng, tu hoài mà không hết vọng tưởng. Nói đúng hơn là ngồi đè vọng, chớ không phải biết vọng. Như người cầm cây búa trên tay, vừa thấy vọng tưởng là nện "xuống nè". Vọng tưởng từ tâm, niệm trừ vọng tưởng cũng từ tâm. Lấy tâm nện tâm, nên càng tu càng mệt. Đó là do không nắm vững pháp tu. Dụng công nhọc mà không có kết quả. Hôm nào ngồi thiền ít vọng tưởng mừng lắm, nghĩ mình tu tiến. Thật tội nghiệp. Hòa thượng Ân sư nhắc nhở quan trọng nhất là Biết. Tâm yếu ở chỗ này.

Thật ra trạng thái không vọng tưởng thì yên tĩnh, khỏe. Tuy khỏe nhưng không phải là mình vì nó sanh diệt. Không vọng tưởng hay có vọng tưởng đều là tâm sanh diệt. Ngay đó thầm nhận lại tánh biết mới là chính yếu. Như trong hay đục không phải là tánh của nước, nó là tướng của nước. Ướt mới là tánh của nước. Trong hay đục gì thì nước cũng ướt, tánh ấy vẫn nguyên vẹn dù nước ở bất kỳ tướng trạng nào. Cũng vậy, có vọng tưởng hay không vọng tưởng thì tâm vẫn luôn Biết. Đây mới là chỗ cần nắm vững khi dụng công tu thiền.

Giai đoạn đầu Hòa thượng sợ chúng ta chưa quen nên Ngài dạy "Biết vọng không theo". Thật sự không theo là để tâm yên tĩnh. Từ yên tĩnh nhận ra tánh Biết. Một khi công phu thuần thục Hòa thượng sẽ dạy tiến lên. Cho nên về sau Ngài nhấn mạnh pháp tu "Biết có chân tâm". Với thiền sinh những chỗ này vô cùng quan trọng, cần chín chắn thực tập để không sai lệch.

Sở dĩ chúng ta vọng tưởng nhiều là do mình đã huân tập quá lâu đời, cộng thêm thói quen chạy theo nó, không điều phục được con trâu hoang ấy. Chúng ta tu cực không phải vì nguyên tắc khó mà vì thói quen thâm căn cố đế. Tổ Tăng Xán nói "Chí đạo vô nan". Chỗ tột của đạo không khó, mà khó vì ta không quen với chỗ tột ấy. Ta không quen đi thẳng, ta thích chạy lòng vòng, mặc dù biết chạy lòng vòng mệt hơn đi thẳng!

Nếu người biết là vọng niệm, tác ý dừng nó là vì thấy có vọng niệm. Người biết có vọng niệm, tác ý liền quán sát khiến thấy chánh lý, cũng thấy có vọng niệm. Biết vọng nguyên là đạo mới không vọng.

Nếu người biết là vọng niệm, tác ý dừng nó là vì thấy có vọng niệm, nếu biết là vọng niệm rồi tác ý dừng, đó là một loại vọng niệm. Có tác ý là có dao động, không phải cái thật. Cái thật không có tác ý.

Người biết có vọng niệm, tác ý liền quán sát khiến thấy chánh lý, cũng thấy có vọng niệm. Biết có vọng niệm liền khởi quán sát nó là vọng tưởng không thật, không theo, hoặc vọng tưởng từ đâu ra... Quán sát như vậy cho vọng lặng, gọi là quán sát khiến thấy chánh lý, nhưng Tổ bảo đó cũng là vọng niệm. Bởi vì còn quán chiếu là còn năng sở, còn đối đãi, không phải chỗ chân thật. Tâm chân thật không có đối đãi.

Học tới chỗ này, đôi khi chúng ta đâm ra hoang mang, chẳng lẽ từ trước đến giờ mình quán chiếu để phá vọng là sai. Không phải sai, mà là chưa tới. Quá trình tu tập trải qua nhiều giai đoạn. Muốn tiến lên nấc thang cao hơn thì phải qua nấc thang thấp, bỏ nấc thang thấp bước lên nấc thang cao. Như ta đi trên một lộ trình dài, phải qua nhiều phương tiện. Hết xe đạp sang xe máy. Bỏ xe máy qua ô tô. Hết ô tô lên máy bay... Tuy xả bỏ giai đoạn đầu, nhưng không có nghĩa là phủ nhận sự cần thiết và giá trị của nó trong từng giai đoạn. Hiểu như vậy mới không khinh suất, dè dặt cẩn trọng trong công phu tu tập.

Nếu không có những ngày tháng Hòa thượng dạy "vọng tưởng không thật, không theo" thì ngày nay chúng ta cũng khó tiến lên những bước kế tiếp. Tu thì phải tiến nhưng cẩn thận giữ gìn từng bước đi. Vững chắc, đừng để té. Lỡ té thì đứng lên đi tiếp, không có gì phải nản.

Biết vọng nguyên là đạo mới không vọng. Đây là chỉ thẳng tâm yếu, tức chỉ thẳng đạo vậy. Tại sao biết vọng nguyên là đạo? Vì vọng lặng thì trở về tánh Không. Tánh không là thật tánh. Thật tánh tức là đạo.

Chúng ta quen phân biệt vọng là hư, chân là thật, tách ra làm hai rõ ràng. Đó là khi mê sống theo pháp đối đãi. Tỉnh ngộ rồi thì không thấy như thế nữa. Thiền sư Huyền Giác nói "vô minh thật tánh tức Phật tánh", nghĩa là tánh thật của vô minh là Phật tánh. Tánh thật của vọng là chân tánh. Trở về chân là trở về tánh Biết. Biết vọng thì vọng tự lặng. Nó lặng rồi thì ngay đó thanh tịnh, chỗ nào có vọng hay không vọng? Do đó ngài Thanh Viễn nói biết vọng nguyên là đạo. Chỗ này cần phải thể nghiệm trong công phu, không phải trên lập luận, cũng không thể tưởng về nó. 

Cho nên người đạt đạo không sở đắc. Người phát ý cầu đạo thì còn có sở đắc.

Vọng lặng xuống tức là chân thì còn cái gì mà được, nên nói không sở đắc. Không sở đắc thì làm sao cầu. Không có mình, không có đạo để đạt, không có ngôn ngữ diễn đạt, nhưng có cái Biết. Chỗ này ngày xưa Bàng Công nói: Khó, khó. Bà Bàng bảo: Dễ, dễ. Cô con gái Linh Chiếu thì: Chẳng phải khó, chẳng phải dễ. Bởi lẽ chỗ ấy tự nhiên như vậy. Biết chừng nào chúng ta mới cùng hòa khúc hát vô sanh như họ Bàng thuở xưa!

Chúng ta tu sửa là vì lỡ sai nên sửa lại, nguyên bản vốn không sai. Chỗ chân thật vốn không hư ngụy, trở về chỗ ấy là về với chính mình, không có thêm bớt gì nữa. Cho nên Tổ bảo:

Chỉ không có cầu gì khác. Biết không mê vọng gọi đó là thấy đạo.

Nếu phát ý cầu đạo, hiểu được đạo hoặc nhận đạo... tất cả đều có năng sở, chỉ không cầu gì khác là yên ổn. Tuy nhiên, rốt ráo cũng không đặt vấn đề cầu hay không cầu, vì đạo không phải là chỗ đối đãi.

Biết không mê vọng gọi là thấy đạo. Người thấy đạo là ngay nơi tâm mình khi đi đứng nằm ngồi nói nín đều tỉnh biết rõ ràng, không cầu gì khác. Cầu tức là bệnh. Cái biết không mong cầu, không mê vọng, gọi là đạo. Thấy đạo là gượng nói, vì thấy được là nó ở ngoài mình. Ở đây chẳng biết phải nói thế nào, nên ngài tạm nói như vậy. Đó là vì thiền sư muốn chỉ chỗ tâm yếu cho chúng ta thể nghiệm.

Người thời nay nói thẳng tất cả đều là đạo. Cũng ví như kẻ ngồi bên mâm cơm, nói ăn mà bụng vẫn đói, vì chưa từng ăn. Người chứng đạo thì bặt năng sở, chẳng còn riêng có huyền lý.

Người thời nay nói thảy đều là đạo, như kẻ ngồi bên mâm cơm, nói ăn mà bụng vẫn đói, vì chưa từng ăn. Chúng ta mở miệng ra nói đủ thứ, nào là tánh thấy, tánh nghe, tánh biết... Nói rất giỏi, nói như hiểu đạo, nhưng thật ra chưa từng trải nghiệm, chưa từng sống với đạo. Ngài Thanh Viễn biết người thời nay thích chạy theo hình thức bên ngoài, ít chịu quay về tu tập, nên đã có những lời nhắc nhở rất thiết thực.

Như người ngồi bên mâm cơm nói ăn mà bụng vẫn đói, vì chỉ nói chứ không ăn. Trong khi có nhiều người không nói mà ăn nên được no bụng. Rõ ràng quan trọng là ăn chứ không phải nói. Như người đếm tiền trong ngân hàng, cả ngày đếm bạc triệu nhưng là tiền của người ta, không phải tiền của mình nên nghèo vẫn nghèo. Cũng thế, chúng ta nói đạo rất hay nhưng cảnh tới đau khổ vẫn đau khổ, là vì nói đạo. Đạo nhân chân thật không nói gì mà đối cảnh luôn an nhàn. Bất kỳ cảnh nào các ngài cũng vui vẻ hoan hỷ, không làm khổ người khác, cũng không ai làm khổ được các ngài.

Có hai trường hợp gặp cảnh không dao động. Thứ nhất, người an lạc do thấy đạo, đối duyên xúc cảnh an lạc, không lăng xăng bất an, không làm khổ người khổ mình. Thứ hai, người do gàn bướng gặp cảnh trơ trơ bất động. Ai nói gì cũng không thèm nghe, ai khổ mặc ai, họ vẫn vui vẻ bình thường. Người cứng như thế là do cố chấp theo kiến giải của mình, chứ không phải bất động do thấy đạo. Thái độ gàn bướng ấy làm cho người khác khó chịu thì đó là nhân khổ, không thể nào có kết quả an vui. Nhìn vào thấy như họ không khổ nhưng thật sự bên trong âm ỉ phiền não. Người này cho rằng cái thấy của mình là đúng nên không chịu nghe ai. Chấp ngã như thế là gốc của si mê. Nuôi dưỡng tập nghiệp này càng nhiều thì gốc si mê càng lớn, chuốc họa về sau, đi vào những con đường xấu.

Hiểu như thế chúng ta mới thấy giá trị của việc tu học thật cần thiết. Học Phật giúp cho chúng ta mở thông trí tuệ, hướng tới một đời sống an lạc cho mình và mọi người. Đó là sống đạo. Thật ra sống đạo là sống hết sức bình thường, nhưng có sự tỉnh thức. Quan trọng ở chỗ tỉnh thức.

Có câu chuyện thiền sư Đạo Ngộ và ngài Sùng Tín. Khi ngài Sùng Tín phát tâm tu, thiền sư Đạo Ngộ cho làm thị giả và hứa sẽ chỉ tâm yếu. Ngài Sùng Tín hầu hạ ba năm mà không được nghe chỉ dạy tâm yếu. Nóng lòng, ngài bèn thưa:

- Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu. 

Thiền sư Đạo Ngộ bảo:

- Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu.

- Ngài chỉ dạy ở chỗ nào?

- Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?

Ngài Sùng Tín cúi đầu lặng thinh giây lâu. Thiền sư Đạo ngộ bảo:

- Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.

Ngay câu nói đó, ngài Sùng Tín khai ngộ.

Ngài Thanh Viễn nói người chứng đạo thì bặt năng sở, chẳng còn riêng có huyền lý. Không đối đãi năng sở, không thấy lý huyền diệu riêng. Ngay nơi mình thấy đạo chứ không cần tìm kiếm bên ngoài, không cần suy nghĩ riêng tư. Chúng ta tu là tu cho mình, không cần người khác hiểu cũng không cần hiểu thứ gì khác bên ngoài. Tổ đã bảo đạo nằm ngay trong mọi việc nhật dụng bình thường.

Chỗ tầm thường nhật dụng như khi thấy sắc là lúc chứng, khi nghe tiếng là lúc chứng, khi uống nước, ăn cháo là lúc chứng, mỗi mỗi đều bặt năng sở.

Tựa đề tác phẩm chúng ta học là "Chỉ tâm yếu cho người tu thiền", cho nên mỗi lời Tổ nói ra đều là tâm yếu. Thấy nghe, ăn uống, ngủ nghỉ... tóm lại nơi sáu căn và mọi sinh hoạt đều có thể hiển thị tâm yếu. Quan trọng là mình có thực tập đúng như lời người xưa chỉ dạy hay không?

Chúng ta đi tu là vì ngán sợ cuộc sống thế gian khổ nhiều hơn vui. Người đời hay nói khổ tâm, cũng có khổ thân nhưng ít hơn khổ tâm. Vì vậy đi tu để an tâm, như tổ Huệ Khả với Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma cầu pháp an tâm vậy. Ngài Huệ Khả đã đi tu lâu rồi mà vẫn bất an. Chúng ta cũng bất an nên rất tha thiết được bình an.

Ta không muốn gây cấn, không muốn buồn phiền, nhưng hoàn cảnh cứ khiến gặp hết chuyện này đến chuyện nọ. Ta chỉ muốn yên ổn, chỉ mơ ước một đời sống bình dị nhưng không được. Tất cả những khắc khoải đó đưa mình đến với đạo. Vì ta nghĩ rằng đạo pháp là nơi chốn bình an. Ở đó có Phật, Bồ-tát lo cho mình hết. Nhưng không ngờ xuất gia rồi, bất an vẫn bất an.

Chư huynh đệ chúng ta thường tâm tình với nhau, nghe Phật tổ nói tu thiệt dễ mà sao thực hành lại khó quá. Chúng ta cứ buồn vui những chuyện nhỏ nhặt, không đâu vào đâu. Ta hiểu hết, đời là vô thường, các pháp không thật, thân này giả có... tỉnh đó nhưng chỉ một chút thôi, rồi lại mê. Thật lòng đâu ai muốn mê trở lại. Cuối cùng đổ cho tại cái nghiệp mê mình đã lỡ tạo nhiều đời kiếp. Nó đã cắm rễ sâu dày trong tâm thức, khó tẩy khó trừ.

Phật bảo tu thì phải sửa. Nghiệp có thì đạo càng phải có lực hơn. Cho nên muốn thắng được nghiệp thì đạo phải mạnh. Chúng ta thường hay nghĩ tu hành phải có duyên tốt, thuận lợi, ngồi yên một chỗ mới tu được, còn hết chuyện này đến chuyện nọ, thật là khó tu. Đó là tâm trạng chung của các thiền sinh. Nhưng ở đây Tổ bảo: Chỗ tầm thường nhật dụng như thấy sắc là lúc chứng, nghe tiếng là lúc chứng, khi uống nước ăn cháo là lúc chứng... nhưng với điều kiện là đừng tạp niệm, đừng vọng tưởng lung tung, thì đạo có trong tất cả mọi lúc mọi nơi, ngay trong cuộc sống nhiễu nhương này.

Mỗi mỗi đều bặt năng sở. Chư Tổ đánh hét, đó là hình thức đánh bạt tư tưởng chúng ta, đưa mình về thực tại, về với đạo. Chỗ đó không có suy nghĩ, không năng sở. Chúng ta tuy có hiểu đạo, nhưng nguyên nhân làm cho công phu một tỉnh mười mê, không liên tục là do thói quen quên thường xuyên hơn thói quen nhớ. Phải quyết tâm sửa lại thói quen này. Làm sao phải "nhớ" tỉnh thức liên tục, không để vọng tưởng kéo lôi quá lâu, rồi mới giật mình "nhớ" muộn.

Chúng ta tu hành còn lơ mơ lắm. Khi nào gặp chuyện bất như ý hay bệnh hoạn, chán nản mới nghĩ đến tu rút. Bình thường thì không, chỉ thích sống thoải mái, ưa tạp thoại hơn tỉnh lặng. Đang vui cười mà nhớ phải tỉnh, tự nhiên mất hứng. Do vậy, chúng ta không quen sống trong tỉnh thức mà quen sống theo thế thường của chúng sanh. Vui đến thì vui, buồn đến thì buồn, thay đổi liên miên như vậy, làm sao không bất an cho được. Nói chung là ta chưa sống được với chính mình.

Vì vậy, khi nói ta không muốn vui, muốn buồn, muốn phiền mà sao cứ dễ vui, dễ buồn, dễ phiền... điều này phải nghiệm kỹ xem có đúng như vậy không? Không muốn hay muốn? Nếu không muốn thì đã không làm như thế. Như người không thích uống rượu thì dù được biếu rượu quý cũng không uống.

Thiền sư Tông Diễn đời Hậu Lê Việt Nam, thuở nhỏ ở với mẹ. Một hôm mẹ ngài mua một xâu cua, bà ngâm nước rồi bảo: Con ở nhà nấu canh cua, mẹ đi bán về hai mẹ con cùng ăn. Bà đi rồi, ngài đem xâu cua ra, nhìn thấy bọn chúng khóc, ngài thả quách. Trưa mẹ về hỏi canh cua đâu, ngài thưa đã thả cua hết rồi. Bà giận quá rượt đánh, ngài hoảng sợ bỏ chạy. Và từ đó đi tu luôn. Ngài đã không muốn nấu cua thì dù sợ mẹ đến đâu vẫn không nấu.

Chúng ta nếu muốn tâm khỏe thì hãy sống với cái tâm khỏe, đừng rắc rối khúc mắc với ai làm chi. Tâm an lạc là tâm không đối đãi, thị phi, tâm ở chỗ bình thường nhật dụng là tâm đạo. Rõ ràng như vậy. Cho nên tất cả đều do thái độ tu sống của chúng ta, không giao hết cho Phật, Bồ-tát được.

Phật tổ đã nói rất nhiều, chỉ rất kỹ rằng chúng ta đều có sẵn bản tâm. Lục Tổ từng thốt lên "tâm ta xưa nay vốn tự thanh tịnh, vốn tự đầy đủ..." nhưng vì mình không yên ở nơi đất tâm, cứ phóng ra nên lao đao, lận đận. Do đã quen phóng bây giờ bảo dừng lại cũng khó. Cho nên giai đoạn đầu tu tập là phải nhớ, nhớ, nhớ. Nhớ buông, nhớ dừng, nhớ mình. Luôn tự nhắc như vậy. Thiền sư Thụy Nham mỗi ngày thường ngồi trên tảng đá, lâu lâu tự gọi: "Ông chủ", tự đáp "Dạ", tự nhắc "tỉnh tỉnh, chớ để người lừa". Nhắc như vậy, ban đầu thấy như mất tự nhiên, hơi nhọc. Nhưng khi đã quen thì tỉnh lực cao mà không nhọc. Vạn sự khởi đầu nan. Chuyện tu hành còn khó hơn cả vạn sự, phải chịu khó thôi.

Nếu thực tập như lời ngài Thanh Viễn dạy thì chúng ta có khả năng chứng đạo bất cứ lúc nào. Trong một ngày, giờ sinh hoạt, giờ ăn giờ nghỉ, cộng lại nhiều hơn giờ tọa thiền. Nếu không dụng công ở những chỗ tầm thường này thì vô tình mình đã bỏ phí quá nhiều thời gian, nhiều cơ hội để ngộ đạo. Đợi đến giờ tọa thiền mới tu thì còn mất mát hơn nữa. Tại vì lúc ngồi thiền mắc vọng tưởng, mắc ngủ, thời giờ đâu mà tỉnh. Tu kiểu này sẽ không bao giờ kiến tánh cả.

Tâm yếu là sống lại với tâm chân thật của mình, buông xả tất cả các pháp bên ngoài. Chúng ta có bệnh chỉ buông thế pháp, còn Phật pháp lại muốn chấp giữ. Như nghe pháp rồi không chịu nhớ quay lại mình ứng dụng, mà nhớ pháp. Thích quá, nói hoài. Nói như vậy tức là nhai lại cái xác của cổ nhân, không giúp cho sự phát sinh tuệ giác nơi mình. Dĩ nhiên ban đầu nghe pháp phải chú tâm xem thầy nói gì, lãnh hội được rồi thì lo tu, không kẹt trên ngôn ngữ của thầy. Nghe pháp, nghe xong rồi bỏ, để tu. Tu rồi nghe tiếp, nghe tiếp rồi bỏ, bỏ để tu. Trình tự như vậy mới đúng chân tinh thần tu học để được giác ngộ giải thoát.

Chư tổ nghiệm người thường không cho nói lại lời của thiện tri thức, mà phải nói theo chỗ phát minh của mình. Ngài Nham Đầu bảo: "Của báu từ ngoài đến không phải của mình, phải mỗi mỗi từ trong hông ngực lưu xuất". Hồi xưa chư tổ khi nhận ra rồi phải mấy mươi năm ở chốn rừng sâu núi thẳm, hoặc ở chốn đại tùng lâm để trưởng dưỡng công phu. Không phải nhận ra rồi là xong việc đâu, chỉ là đã đủ lòng tin, không thối chuyển nữa thôi.

 

Mục Lục